Sáng kiến kinh nghiệm Các biện pháp rèn kỹ năng đọc trong giai đoạn học vần cho học sinh Lớp 1
Bạn đang xem tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Các biện pháp rèn kỹ năng đọc trong giai đoạn học vần cho học sinh Lớp 1", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
sang_kien_kinh_nghiem_cac_bien_phap_ren_ky_nang_doc_trong_gi.docx
Nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Các biện pháp rèn kỹ năng đọc trong giai đoạn học vần cho học sinh Lớp 1
- từ, câu, đoạn văn, bài văn mình vừa đọc, hiểu được các lệnh các yêu cầu trong các môn học khác. Mặt khác ở lớp 1 các em được tập đọc thành thạo, đọc đúng, đọc trôi chảy thì khi lên các lớp trên các em sẽ học vững vàng, học tốt hơn. Và các em sẽ ham học, tích cực trong học tập hơn nếu kết quả học tập của các em đạt khá - giỏi biết vận dụng nghe viết một cách thông thạo. Bởi lớp 1 là nền móng cho sự phát triển của học sinh sau này, với lớp 1 điều quan trọng nhất là đọc, viết được. Đầu năm học 2022 – 2023 tôi được phân công giảng dạy lớp 1A4. Sau một thời gian giảng dạy, tôi nhận thấy một số tồn tại ở các em như sau:Bố mẹ một số em đi làm cả tuần mới về một lần hoặc sáng đi tối mới về đến nhà, khi về đến nhà thì các em đã ngủ. Các em thường ở với ông bà, người thân nên các em thiếu sự quan tâm của phụ huynh (em Khánh Vy, Thu Ngân, Thanh Vân). Việc tự học đối với các em mới lên lớp 1 là vô cùng khó khăn do các em còn rất nhỏ. Một số phụ huynh dạy cho trẻ biết đọc, biết viết và đếm số trước khi vào lớp 1, khiến các em chủ quan và nhàm chán trong học tập. Đó là những trăn trở của tôi trong mỗi giờ dạy Tiếng Việt. Vì vậy, tôi đã chọn sáng kiến: “Các biện pháp rèn kỹ năng đọc trong giai đoạn học vần cho học sinh lớp 1 ”. II. Mục đích nghiên cứu của đề tài Kỹ năng đọc đối với lớp 1 cần vận dụng cả phương pháp về học vần, cả phương pháp tập đọc. Để đọc tốt, học sinh cần củng cố được hệ thống âm vần đã học (nhất là các âm khó ), đọc đúng tiếng, liền tiếng trong từ, trong câu, đoạn, bài. Bước đầu biết cách ngắt hơi ở các dấu câu, biết lên giọng, hạ giọng. Bản thân tôi khi nghiên cứu đề tài này nhằm mục đích tìm ra phương pháp và hướng đi giúp học sinh học tập tốt hơn. Qua đó từng bước nâng cao kỹ năng đọc đúng, đọc hay, đọc diễn cảm của mỗi học sinh. III. Đối tượng nghiên cứu Nghiên cứu nội dung chương trình môn Tiếng Việt mới, nhận ra những đặc trưng của chương trình hướng đến. Từ đó nghiên cứu đề xuất một số biện pháp nhằm giúp học sinh rèn luyện để nâng cao kĩ năng đọc trong môn Tiếng Việt nói riêng và các môn học của lớp 1 nói chung. IV. Đối tượng khảo sát Học sinh lớp 1A4 trong mỗi giờ Tiếng Việt từ đầu tháng 9 năm 2022 đến hết tháng 3 năm 2023. V. Phương pháp nghiên cứu Để thực hiện đề tài này, tôi đã sử dụng những phương pháp sau:
- - Phương pháp thu nhận tài liệu - Phương pháp điều tra khảo sát thực tế - Phương pháp trao đổi, đàm tọa với đồng nghiệp - Phương pháp thực hành - Phương pháp giảng giải - Pháp phân tích, số liệu thống kê - Phương pháp dạy thực nghiệm VI. Phạm vi và kế hoạch thực hiện Nghiên cứu chương trình tổng thể giáo dục 2018. Nghiên cứu sách giáo khoa, tài liệu môn Tiếng Việt lớp 1. Nghiên cứu các biện pháp rèn kỹ năng đọc cho học sinh lớp 1 đã được áp dụng. Nghiên cứu các biện pháp phù hợp nhằm nâng cao kỹ năng đọc cho học sinh lớp 1A4 năm học 2022 - 2023. B. NHỮNG BIỆN PHÁP ĐỔI MỚI ĐỂ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ I. Những nội dung lý luận lên quan đến đề tài Hoạt động đọc giúp con người thu nhận được lượng thông tin nhiều nhất, nhanh nhất, dễ dàng, thông dụng và tiện lợi nhất để không ngừng bổ sung và nâng cao vốn hiểu biết, vốn sống của mình. Trong nhà trường, thông qua hoạt động đọc giúp học sinh được mở rộng hiểu biết về thiên nhiên, về đất nước, về cuộc sống con người, về văn hóa, văn minh, phong tục, tập quán của dân tộc trên đất nước mình và trên thế giới. Đọc các tác phẩm văn học, học sinh được bồi dưỡng về năng lực thẩm mĩ, trau dồi kỹ năng sử dụng ngôn từ, mở rộng tầm hiểu biết về cuộc sống. Vì vậy việc đọc có ý nghĩa giáo dục, giáo dưỡng và phát triển rất lớn. Đọc trở thành một đòi hỏi cơ bản đầu tiên đối với mỗi người mà nhất là học sinh lớp 1. Đọc là sự khởi đầu giúp cho học sinh chiếm lĩnh một công cụ mới để sử dụng trong học tập và trong giao tiếp. Nếu kỹ năng viết được coi là phương tiện ưu thế nhất trong hệ thống ngôn ngữ thì kỹ năng đọc có một vị trí quan trọng không thể thiếu được trong chương trình môn Tiếng Việt ở bậc Tiểu học. Nếu kỹ năng đọc được rèn luyện tốt, hình thành tốt sẽ giúp các em đọc tốt suốt cả cuộc đời, giúp các em phát triển tư duy, cảm nhận cái hay, cái đẹp trong mỗi bài học, hiểu được nghĩa của tiếng, từ, câu, đoạn văn, bài văn mình vừa đọc, hiểu được các lệnh các yêu cầu trong các môn học khác. Mặt khác, ở lớp 1 các em được tập đọc thành thạo, đọc đúng, đọc trôi chảy thì khi lên các lớp
- trên các em sẽ học vững vàng, học tốt hơn, các em sẽ ham học, tích cực trong các hoạt động học tập. II. Thực trạng vấn đề nghiên cứu 1. Đặc điểm tình hình Đầu năm học 2022 - 2023 tôi được Ban giám hiệu nhà trường phân công chủ nhiệm lớp 1A4. Việc hiểu được thực tế việc đọc của các em đang ở mức độ nào, các em còn vướng mắc ở đâu về kỹ năng đọc có một ý nghĩa rất quan trọng trong việc định hướng các phương pháp rèn đọc cho các em học sinh. Qua đó, tôi biết được là: + Tình hình học sinh: lớp 1A4 sĩ số : 20 học sinh + Học sinh đi học Mẫu Giáo : 20 em + Kết quả khảo sát đầu năm như sau: TSHS Đọc tốt Đọc hơi Đọc sai Đọc sai Đọc ngọng 20 chậm dấu phụ âm TS % TS % TS % TS % TS % Khảo sát 3 15% 5 25% 4 20% 5 25% 3 15% đầu năm Thực tế qua mấy tuần học và giao tiếp, tôi nhận thấy rằng có một số học sinh phát âm sai, phổ biến là sai các phụ âm đầu vần và dấu thanh. Trong đó phổ biến là các phụ âm đầu như l/n; ch/tr; s/x; th/kh và các dấu thanh hỏi, ngã. Ngoài ra, các em đọc còn đều đều, chưa biết thể hiện lên giọng hoặc hạ giọng, nhiều em khi còn kéo dài giọng mỗi khi đọc . Cụ thể, các lỗi học sinh thường mắc là: * Đọc sai, ngọng phụ âm đầu VD: - l/n: lan/nan; lữ/nữ; nước/lước. - ch/tr: trẻ/chẻ; trong/chong. - s/x; xuống/suống; song/xong. * Đọc nhầm, lẫn lộn các dấu thanh: VD: - thanh hỏi/ thanh nặng: quả ổi/ quạ ội - thanh ngã/ thanh sắc: cũng/cúng * Đọc bớt tiếng hoặc thêm tiếng:
- * Đọc mà không hiểu nội dung 2.Thuận lợi, khó khăn Qua kết quả khảo sát và quá trình theo dõi, tôi nhận thấy có một số thuận lợi và khó khăn sau: * Thuận lợi Về phía giáo viên Được sự quan tâm và chỉ đạo tốt của các cấp lãnh đạo về chuyên môn. Tổ chức bồi dưỡng giáo viên, tổ chức những buổi học chuẩn kiến thức kỹ năng cho học sinh tiểu học cung cấp đủ tài liệu, phương tiện để nghiên cứu, học hỏi, giảng dạy. Được sự giúp đỡ của Ban Giám Hiệu trường: tổ chức thao giảng, dự giờ hàng tháng, tổ chức những buổi học chuyên đề thảo luận về chuyên môn để rút ra những ý kiến hay, những đề xuất kinh nghiệm tốt áp dụng trong việc giảng dạy. Bản thân đã được tập huấn chương trình lớp 1 theo chương trình giáo dục phổ thông mới 2018 nên nắm rõ mục tiêu, quan điểm xây dựng chương trình do đó có sự chủ động trong việc lựa chọn các phương pháp, hình thức dạy học phù hợp đối với học sinh. Khi nhà trường họp thống nhất lựa chọn bộ sách giáo khoa phù hợp để phụ vụ công tác giảng dạy, tôi đã nghiên cứu kĩ và lựa chọn sách Kết nối tri thức làm công cụ hỗ trợ để phục vụ mục tiêu giáo dục Tiếng Việt lớp 1 theo chương trình tổng thể. Bản thân tôi là một giáo viên có phát âm chuẩn nên gặp nhiều thuận lợi trong việc dạy chữ cho học sinh lớp 1. Bản thân luôn có ý thức trách nhiệm với học sinh, giảng dạy nhiệt tình, chữa bài nghiêm túc, khách quan, tỉ mĩ. Có ý thức vận dụng đổi mới phương pháp trong dạy học một cách linh hoạt, sáng tạo. Về phía học sinh Một số em đã biết tất cả các chữ cái khi vào đầu lớp 1. Học sinh có đầy đủ sách giáo khoa và đồ dùng học tập. Đa số các em đều ngoan, lễ phép và biết nghe lời. Một số em nhận thức nhanh, có sự chủ động trong học tập và ý thức giúp đỡ bạn học tập. Phần lớn phụ huynh học sinh quan tâm đến việc học của con em. * Khó khăn
- Về phía giáo viên Chương trình mới do đó vẫn chưa được trang bị đồ dùng, cơ sở vật chất còn nhiều hạn chế nên giáo viên phải thực sự linh động và nghiên cứu bài liên tục để tìm giải pháp khắc phục khó khăn. Về phía học sinh Bước vào lớp 1 các em còn bỡ ngỡ, chưa làm quen được với việc học ở Tiểu học. Một số em còn nhút nhát, rụt rè chưa mạnh dạn trong giao tiếp. Một số em còn nói ngọng, phát âm chưa chuẩn và chưa thực sự chú ý đến lời nói trong giao tiếp hàng ngày. Vốn từ của các em còn quá ít ỏi, việc hiểu nghĩa của từ còn hạn chế. Kỹ năng đọc, nói, nghe, viết, chưa thực sự tốt. Hệ thống phát âm của một số em chưa hoàn chỉnh. Cách phát âm của một số em theo thói quen. Một số em vẫn còn mang suy nghĩ của trẻ mầm non, thích chơi hơn học. III. Biện pháp thực hiện Biện pháp 1: Ổn định nề nếp Học sinh Tiểu học, đặc biệt là đối tượng học sinh lớp 1, các em còn mang tính hiếu động, thích bắt chước, tự do, chưa có ý thức, khó làm chủ bản thân. Bên cạnh đó, do sự nuông chiều từ một số gia đình nên dẫn đến ở một số em rơi vào tình trạng học tập tự do và không có ý thức kỉ luật. Để có một lớp học tốt thì ổn định nề nếp luôn là bước đầu tiên. Vậy phải ổn định như thế nào? Tôi xin đưa ra một số mẹo nhỏ sau: - Cho các em học các nguyên tắc trong lớp học. - Ân cần, nhẹ nhàng đôi khi cũng phải nghiêm khắc. - Học sinh chỉ được phép phát biểu khi được cho phép, không nói tự do. - Kết hợp với phụ huynh. - Kết hợp với giáo viên bộ môn. - Rèn nề nếp cho học sinh thông qua khen thưởng, kỉ luật. - Rèn nề nếp thông qua đội ngũ cán bộ lớp.
- Biện pháp 2: Rèn kỹ năng đọc theo các mạch kiến thức *Phần học các nét chữ cơ bản: Ngay sau những buổi đầu rèn nề nếp, tôi cho học sinh học các nét chữ cơ bản. Tôi đã dạy thật kỹ, thật tỉ mỉ tên gọi và cách viết các nét chữ đó. Để cho học sinh dễ hiểu, dễ nhớ những nét chữ cơ bản tôi phân theo cấu tạo các nét có tên gọi và cấu tạo gần giống nhau thành từng nhóm để học sinh dễ nhận biết và so sánh. Dựa vào các nét chữ cơ bản này mà học sinh phân biệt được các chữ cái, kể cả các chữ cái có hình dáng cấu tạo giống nhau. Ví dụ: Các nét chữ cơ bản và tên gọi. Nhóm 1 Nhóm 2 Nhóm 3 Nhóm 4 Nét thẳng Nét móc xuôi Nét cong hở phải Nét khuyết trên Nét ngang Nét móc ngược Nét cong hở trái Nét khuyết dưới Nét xiên phải Nét móc hai đầu Nét cong kín Nét thắt Nét xiên trái * Phần học âm :
- Sau khi học sinh đã học thật thuộc tên gọi và cấu tạo các nét chữ cơ bản 1 cách vững vàng thì tiếp theo là phần học âm (chữ cái). Giai đoạn học chữ cái là giai đoạn vô cùng quan trọng. Trẻ có nắm chắc từng chữ cái thì mới ghép được các chữ vào với nhau để thành tiếng, các tiếng đơn ghép lại với nhau tạo thành từ và thành câu. Giai đoạn này tôi dạy cho trẻ phân tích từng nét chữ cơ bản trong từng chữ cái và nếu chữ cái đó có cùng 1 tên gọi song có nhiều kiểu viết khác nhau hay gặp trong sách báo như : chữ a, chữ g thì tôi phân tích cho học sinh hiểu và nhận biết đó là : chữ a, chữ g để khi gặp kiểu chữ đó trong sách báo trẻ dễ hiểu và không bị lúng túng. Ví dụ: Âm: a - a, g - g. + Âm a gồm hai nét: nét tròn nằm bên trái và nét sổ thẳng nằm bên phải; a cũng gồm nét tròn và nét móc xuôi. + Âm g gồm: nét tròn và nét móc ngược; g gồm nét tròn nối với nét cong hở phải. Từ việc học kỹ cấu tạo âm tạo bởi các nét chữ cơ bản thật kỹ và tỉ mỉ sẽ giúp trẻ phân biệt được sự khác nhau cả về cấu tạo và tên gọi của bốn âm sau: d; b; p; q. Ví dụ: + Âm d gồm hai nét: nét tròn nằm ở bên trái và nét thẳng nằm bên phải. đọc là: “dờ”. + Âm b gồm hai nét: nét tròn nằm ở bên phải và nét thẳng nằm ở bên trái. đọc là: “bờ”. Sang phần âm ghép nghĩa là âm gồm hai âm đơn ghép lại với nhau. Tôi cho học sinh sắp xếp các âm có âm h đứng sau thành 1 nhóm để nói lên được sự giống nhau và khác nhau của các âm đó. Ví dụ: + Các âm ghép: ch - c nh - n th - t kh - k gh - g ph - p ngh - ng
- + Còn lại các âm: gi, tr , q, ng, tôi cho học thật kỹ cấu tạo và cách ghép chữ. + Phân từng cặp: ch-tr, ng-ngh, c-k, g-gh để phát âm chính xác và viết chính tả phân biệt.... Những bài ôn ở trong sách được lặp đi lặp lại bài nào cũng như bài nào làm cho học sinh tiếp thu 1 cách nhàm chán nên tôi đã thay vào phần chơi trong tiết hai của bài ôn là những bài mà tôi tự nghĩ và viết ra phiếu. Có thể phiếu chỉ là 1 từ gồm 2 hoặc 3 tiếng cũng có thể là 1 câu văn. Song những từ và câu văn này phải có nghĩa và mang tính giáo dục. Ví dụ: Cô khen Nam chăm học. Đến khi học sinh viết tiếng, từ vào bảng con, tôi cũng không đọc cho học sinh viết những tiếng và từ đã có sẵn trong bài. Thông qua phần xây dựng tiếng, từ mới trẻ được hiểu biết thêm nhiều từ và ý nghĩa của các từ mà trẻ tìm đựơc của hôm trước nay viết vào bảng. Do đó phong trào tìm tiếng, từ mới học sinh rất hào hứng và phấn khởi tham gia sôi nổi nhiệt tình. Những đoạn văn hay bài văn mang tính chất: - Cung cấp kiến thức về âm, vần, tiếng. Ví dụ: o a c d đ / \ ? ~ . giỏ đỏ có cà. cò đã có cá. - Cung cấp vốn từ, câu phong phú. Ví dụ: u ư y n m l b Dì Nụ là y tá ở tổ y tế. Bà Tư bế bé Lệ đi từ từ. Bố Tú đi mô tô đỏ. Mẹ Na mổ cá mè. ng ngh nh th. Mẹ Nga là ca sĩ. Ba Tứ đi xe mô tô về nhà cô Thu .
- Bé Nhã khệ nệ bê ghế gỗ gụ ra ngõ để bà nghỉ. - Hợp thành đoạn hay bài văn có nội dung mang tính giáo dục đạo đức, tư tưởng cho học sinh theo chủ điểm các đợt thi đua như kỷ niệm các ngày lễ: 20/10, 20/11, 22/12, 8/3,... để xây dựng bài cho học sinh đọc. * Phần học vần: Sang đến phần học vần, học sinh đã được học chữ hoa nên trong các đoạn văn hay bài văn tôi đã luyện cho học sinh biết nhận biết và đọc các chữ hoa sau dấu chấm, các danh từ riêng, tên gọi riêng. - Bài: Ôn các vần có âm m cuối. am, ăm, âm, om, ôm, ơm, em, êm, im, um. . Bà Tám đã già quá nên đi lom khom. Khi bà bị ốm mẹ cho Thơm đến thăm bà và đem cam đến. Bà nhận quà và cảm ơn bố mẹ Thơm. Bà còn khen em lớn quá. . Cô Thơm dẫn Trâm đi xem thú ở Thủ Lệ. Trâm nhìn rõ con nhím nằm thu lu bên lùm cây tim tím.
- * Vì thường xuyên phân loại chất lượng học tập của học sinh nên tôi đã chia chất lượng của lớp ra làm 4 trình độ: Giỏi, Khá, Trung bình, Yếu. Và phân công: - Giỏi kèm yếu. - Khá kiểm tra trung bình. Hàng ngày tôi giao phiếu bài cho học sinh giỏi. Những ngày đầu, tôi trực tiếp kiểm tra học sinh giỏi, biết được các em học giỏi đã đọc trơn tru, lưu loát rồi thì khi nhận được phiếu là trẻ kiểm tra bạn 1 cách chính xác. Từ những điều học sinh giỏi tiếp thu được các em sẽ in sâu và truyền thụ lại cho bạn. Lúc đó, học sinh trung bình và yếu dễ tiếp thu hơn. Bởi vì ông cha ta đã dạy: “Học thầy không tày học bạn”. Đúng thế trẻ dạy trẻ ngôn ngữ của trẻ dễ hòa đồng với nhau. Tuy nhỏ, song trẻ cũng có lòng tự trọng thấy bạn hơn và lại dạy mình thì cũng phải cố gắng học để đỡ thua kém bạn. Từ đó, chất lượng học sinh tương đối đồng đều. Song không ỷ lại cho học sinh giỏi mà tôi vẫn thường xuyên kiểm tra và kèm cặp học sinh trung bình và yếu nhằm củng cố cho các em về kiến thức 1 cách vững vàng hơn. Biện pháp 3: Rèn cách phát âm đúng, chính xác
- Để rèn được cách phát âm đúng, giáo viên cần hướng dẫn cụ thể, chi tiết cách phát âm và cho học sinh quan sát cách phát âm qua khẩu hình miệng. • Đọc đúng phụ âm đầu: giúp học sinh có ý thức phân biệt các phụ âm đầu, dễ đọc sai theo đặc điểm cách phát âm địa phương. Ví dụ: l/n, ch/tr, s/x: học sinh không được đọc “hoa nan”, “cây che”, “ngôi xao”, mà phải đọc “hoa lan”, “cây tre”, “ngôi sao”, Khi dạy học sinh học âm l , giáo viên phải phát âm mẫu và cho học sinh quan sát khuôn miệng để các em “bắt chước” phát âm mới đúng được . Hoặc khi các em đọc chưa đúng thì giáo viên phải vừa hướng dẫn tỉ mĩ cách đọc từ việc đặt lưỡi, mở khuôn miệng cho đến việc giáo viên thực hiện các bước đó như thế nào để các em quan sát, làm theo. Dĩ nhiên, những gì giáo viên nói phải gần gũi, dễ hiểu nhất với các em chứ không phải những từ ngữ mang tính chuyên môn. • Đọc đúng các vần: Ví dụ: Không đọc “riệu”, “cấp cíu”, “con thuền” mà phải đọc “rượu”, “cấp cứu”, “con thuyền”, • Đọc đúng các dấu thanh do địa phương hay do ngọng thành thói quen: Ví dụ: Không đọc “mợ cựa”, “bớ ngớ” mà phải đọc là “mở cửa”, “bỡ ngỡ”, Biện pháp 4: Phân loại học sinh và đưa ra biện pháp giúp đỡ Cái gì cũng vậy, để tìm được giải pháp thì phải biết lí do từ đầu, nguyên nhân là gì? Có các nguyên nhân chính sau dẫn đến học sinh lớp 1 học đọc – viết kém: Do hoàn cảnh gia đình Với học sinh lớp 1, đa số các gia đình đều rất quan tâm đến các con. Bên cạnh đó, vẫn còn có một số trường hợp học sinh không ở cùng bố mẹ hoặc bố mẹ không có thời gian kèm cặp, giúp đỡ thì đây cũng có thể là nguyên nhân ảnh hưởng tới tâm lí của các em (Khánh Vy, Thanh Vân, Thu Ngân). Trong những trường hợp này, giáo viên cần tìm hiểu để trao đổi với gia đình cùng hỗ trợ kịp thời. Giáo viên cần trao đổi rõ các biện pháp, việc làm cần thiết để giúp đỡ học sinh. Với những trường hợp này, giáo viên vừa là thầy cô, vừa là mẹ; yêu quý, động viên, khích lệ giúp các em cảm nhận được tình yêu thương khi đến lớp. Từ đó, các con sẽ yêu quý, tin tưởng người dẫn dắt, dạy bảo mình. Do mất kiến thức căn bản Trong trường hợp này, người giáo viên cần phải trao đổi với phụ huynh về thời gian cũng như biện pháp hỗ trợ. Trong năm học 2021-2022 vừa qua, vì tình hình dịch bệnh kéo dài hầu hết các Nhà trường đều tổ chức học qua hình thức

