Sáng kiến kinh nghiệm Biện pháp tạo hứng thú cho học sinh trong dạy học truyện dân gian Lớp 6

docx 24 trang Chăm Nguyễn 15/01/2026 280
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Biện pháp tạo hứng thú cho học sinh trong dạy học truyện dân gian Lớp 6", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docxsang_kien_kinh_nghiem_bien_phap_tao_hung_thu_cho_hoc_sinh_tr.docx
  • pptxSáng kiến kinh nghiệm Biện pháp tạo hứng thú cho học sinh trong dạy học truyện dân gian Lớp 6.pptx

Nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Biện pháp tạo hứng thú cho học sinh trong dạy học truyện dân gian Lớp 6

  1. PHẦN I. ĐẶT VẤN ĐỀ Trong chương trình giáo dục phổ thông bộ môn Ngữ Văn là bộ môn có vai trò rất quan trọng. Nó không chỉ giúp HS trau dồi tri thức, rèn luyện khả năng tư duy mà còn góp phần về việc giáo dục nhân cách cho trẻ. Nhà văn M.gorki đã nói: “Văn học là nhân học”. Trong bộ môn Ngữ Văn, văn học dân gian (VHDG) có giá trị và sức mạnh to lớn trong việc bồi đắp tâm hồn cho thế hệ trẻ nên việc giảng dạy VHDG là môt trong những mối quan tâm hàng đầu của chương trình giáo dục phổ thông.Vì vậy mục tiêu của dạy học VHDG là giúp HS hiểu, trân trọng, giữ gìn và phát huy những giá trị lịch sử văn hóa đặc sắc của ông cha ta đã lưu giữ trong từng tác phẩm. Để đạt được mục tiêu ấy, GV phải luôn không ngừng tìm tòi, đổi mới phương pháp phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS. Trong quá trình lĩnh hội tri thức giúp khơi gợi hứng thú, lòng yêu thích và say mê với các tác phẩm VHDG. Theo Giáo sư Đinh Gia Khánh: “Văn học dân gian vừa là cuốn bách khoa của đời sống, vừa là một phương tiện giáo dục những phẩm chất tốt đẹp nhất của con người như tình yêu Tổ quốc, lòng dũng cảm, tinh thần lạc quan, lòng ngay thẳng, ý thức về điều thiện và tinh thần đấu tranh chống điều ác. Đối với các bộ môn khoa học xã hội, văn học dân gian là nguồn tài liệu vô giá cho việc nghiên cứu đời sống và thế giới quan nhân dân trong các thời kì lịch sử khác nhau. Nói tóm lại, có thế coi văn học dân gian như là một bộ bách khoa toàn thư về cuộc sống của nhân dân lao động, được ghi lại bằng một phương thức nghệ thuật độc đáo. Cho nên văn học dân gian của mỗi dân tộc là một trong những thành tựu văn hóa, thành tựu nghệ thuật quan trọng nhất làm cho cơ sở cho việc xây dựng và phát triển nền văn hóa và nghệ thuật của dân tộc đó” (Văn học dân gian Việt Nam, NXBGD 1997, Tr 49). Đặc biệt với HS lớp 6 VHDG như một dòng suối mát lành tưới vào tâm hồn trẻ thơ. Ở lứa tuổi này, ý thức và nhân cách của các em đang phát triển, tâm hồn trong sáng. Những câu chuyện truyền thuyết, cổ tích dễ nhớ sẽ thật hấp dẫn, thu hút các em khiến các em thích thú với bộ môn Văn. Nhưng để môn Văn, những tác phẩm truyện dài không là nỗi sợ hãi đối với các em vừa bỡ ngỡ từ tiểu học lên 3
  2. thì đòi hỏi người GV phải không ngừng đổi mới phương pháp nhằm kích thích sự chủ động, sáng tạo, sự ham thích khám phá của các em. Theo Wiliam A. Ward thì: Người thầy trung bình chỉ biết nói, Người thầy giỏi biết giải thích, Người thầy xuất chúng biết minh họa, Người thầy vĩ đại biết cách truyền cảm hứng Từ đó ta thấy việc truyền cảm hứng (gây hứng thú) học tập cho HS là yếu tố không thể thiếu. Bởi lẽ: “Chúng ta không thể dạy ai làm bất cứ điều gì, chúng ta chỉ có thể giúp họ khám phá điều đó” (Theo Galileo Galilei). Xuất phát từ vấn đề trên nên trong quá trình giảng dạy, bản thân tôi đã không ngừng vận dụng các phương pháp linh hoạt và suy nghĩ trăn trở để tìm ra cách giúp các em hoc sinh hứng thú với môn văn nói chung và mảng VHDG nói riêng. Vì vậy tôi đã tìm tòi, nghiên cứu sử dụng: “Biện pháp tạo hứng thú cho học sinh trong dạy học truyện dân gian lớp 6”. Với mong muốn đóng góp một phần nhỏ bé của mình vào con đường tìm kiếm những phương pháp dạy học hiệu quả đối với những tác phẩm truyện dân gian trong chương trình Ngữ Văn 6 nói riêng và các tác phẩm văn học dân gian nói chung. PHẦN II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ. 1. Thực trạng của công tác dạy - học truyện dân gian trong chương trình Ngữ văn và tính cấp thiết. 1.1 Thực trạng của vấn đề. a. Thuận lợi: - Thứ nhất, các văn bản truyện dân gian trong chương trình Ngữ văn có nội dung gần gũi, những vấn đề xoay quanh đời sống con người, những tư tưởng đạo lí, tình cảm HS dễ tiếp nhận. Khi khai thác những văn bản này, có nhiều tài liệu để tham khảo: tranh ảnh, nguồn tư liệu từ internet, - Thứ hai, các truyện dân gian trong chương trình nhiều truyện quen thuộc bởi trong thế giới tuổi thơ có thể các em đã được nghe kể từ bà, từ mẹ hoặc xem phim 4
  3. hoạt hình về các câu chuyện cổ tích, hay tự đọc từ khi còn nhỏ nên khi học các em sẽ tích thú hơn và có sự so sánh đối chiếu. - Thứ ba, Sách giáo khoa Ngữ văn 6 - Bộ sách Kết nối tri thức với cuộc sống chia các văn bản VHDG và sắp xếp theo từng thể loại rất khoa học: Từ truyền thuyết đến truyện cổ tích. Điều đó giúp HS dễ dàng trong việc tiếp cận theo đặc trưng thể loại, giúp các em khắc sâu kiến thức. - Thứ tư, nhiều em học sinh yêu thích môn học, có năng khiếu hội họa, khả năng diễn xuất. b. Khó khăn: - Thứ nhất, VHDG là bộ phận văn học xuất hiện sớm nhất từ khi chưa có chữ viết vì vậy HS có thể tiếp cận với nhiều dị bản khác nhau khi các em chưa tiếp cận với văn bản trong sách giáo khoa. Vì xuất hiện sớm và tồn tại hằng nghìn năm lịch sử nên khoảng các lịch sử, văn hóa cũng là rào cản lớn khi HS tiếp cận văn bản. Dung lượng tác phẩm dài, nhiều tác phẩm có một chuỗi các sự việc nên HS khó nắm bắt và nhớ hết một cách chi tiết: ví dụ như truyện Thạch Sanh hay truyện Sơn Tinh Thủy Tinh, Thánh Gióng. - Thứ hai, khó khăn đến từ phía HS: Các em HS lớp 6 còn nhỏ tư duy còn hạn chế. Đặc biệt các em lớp 6 vừa bước từ tiểu học lên không khỏi có sự bỡ ngỡ giữa hai cấp học khác nhau, cách học, chương trình học, khả năng tập trung và ghi nhớ kiến thức của các em chưa cao. Hơn nữa, trong năm học này các em tiếp cận với SGK của chương trình giáo dục phổ thông 2018 mà ở bậc tiểu học các em học chương trình giáo dục phổ thông 2006, nên hướng tiếp cận thay đổi khiến các em càng có nhiều bỡ ngỡ. - Thứ ba, các văn bản truyện dân gian thường có dung lượng dài so với các văn bản ở tiểu học. - Thứ tư, các em HS đa số là HS nông thôn, ngoài việc đi học các em còn phải phụ giúp gia đình những công việc nhà nên chưa tập trung được vào việc học. c. Kết quả khảo sát thực trạng học sinh. 5
  4. Đầu học kì 2 năm học 2022-2023, tôi tiến hành khảo sát thực trạng về mức độ hứng thú của HS đối với các tác phẩm truyện dân gian tại lớp 6A, 6D Trường THCS Bồng Lai. PHIẾU ĐIỀU TRA SỰ HỨNG THÚ CỦA HS VỚI TRUYỆN DÂN GIAN Họ và tên học sinh: . Lớp: Trường THCS Bồng Lai. Em hãy cho biết ý kiến của mình về các câu hỏi sau bằng cách đánh dấu x vào ô trống. Câu hỏi Mức độ hứng thú Hứng thú Bình thường Chưa hứng thú 1.Từ bé em có hứng thú đọc truyện dân gian (Cổ tích, truyền thuyết, ) không? 2. Khi đọc hoặc nghe kể về truyện dân gian cảm xúc của em thế nào? Sau khi tiến hành khảo sát tôi thu được kết quả như bảng dưới đây. Bảng 1: Kết quả khảo sát mức độ hứng thú của HS đối với các tác phẩm truyện dân gian tại lớp 6A,6D đầu học kì 2 năm học 2022-2023 Hứng thú Bình thường Chưa hứng thú Lớp Sĩ số Tỉ lệ Tỉ lệ Tỉ lệ Số lượng Số lượng Số lượng % % % 6A 47 13 27,7% 29 61,7% 5 10,6% 6D 48 16 33,3% 28 58,4% 4 8,3% Qua bảng khảo sát, tôi nhận thấy rằng tỉ lệ HS hứng thú với truyện dân gian còn thấp (lớp 6A là 27,7%, lớp 6D là 33,3%). Trong khi, tỉ lệ các em chưa hứng 6
  5. thú với truyện dân gian còn cao (lớp 6A là 10,6%, lớp 6D là 8,3%). Thực trạng về tình hình học tập của các em còn được thể hiện thông qua điểm kiểm tra cuối học kì 1 năm học 2022-2023. Bảng 2: Kết quả kiểm tra cuối học kì I của lớp 6A, 6D năm học 2022-2023 Giỏi Khá Đạt Chưa đạt Lớp Sĩ số Số Tỉ lệ Số Tỉ lệ Số Tỉ lệ Số Tỉ lệ lượng % lượng % lượng % lượng % 6A 47 3 6,4% 16 34% 24 51,1% 4 8,5% 6D 48 4 8,3% 17 35,4% 23 48% 4 8,3% KẾT QUẢ KIỂM TRA CUỐI HỌC KÌ 1 NĂM HỌC 2022-2023 30 24 25 23 20 16 17 15 10 4 4 4 5 3 0 Giỏi khá Đạt Chưa đạt 6A 6D Biểu đồ 1: Kết quả kiểm tra cuối học kì I lớp 6A, 6D năm học 2022-2023 Từ kết quả trên có thể thấy tỉ lệ HS khá giỏi ở 2 lớp 6A và 6D còn thấp. 1.2. Tính cấp thiết. Dựa vào kết quả trên, việc củng cố kiến thức đưa ra một số biện pháp giúp học sinh có hứng thú với các tác phẩm thuộc VHDG là một nhiệm vụ cấp bách và cần thiết phải thực hiện của từng giáo viên. Làm sao để các em không chán, không ngại khi vào giờ học, làm sao để các em có hứng thú và yêu thích VHDG nói riêng và văn học nói chung. Thực tế hiện nay học sinh chưa chú trọng vào môn Ngữ Văn, nhiều HS không thích đọc sách, không biết cảm thụ văn học 7
  6. Là một giáo viên trực tiếp giảng dạy tôi rất hiểu và thông cảm trước những khó khăn của các em. Bởi vậy trong quá trình giảng dạy tôi thường xuyên tìm tòi phương pháp thích hợp để giúp các em thích học, hứng thú hơn với bộ môn. Với mong muốn nâng cao chất lượng dạy và học phần VHDG và qua thực tế tôi đã tìm tòi, áp dụng đem lại thành công vì thế tôi đã đưa ra “Biện pháp tạo hứng thú học tập cho học sinh trong dạy học truyện dân gian lớp 6”. 2. Biện pháp nâng cao chất lượng giảng dạy. a) Biện pháp 1: Khởi động bằng video, âm nhạc. b) Biện pháp 2: Ứng dụng đọc phân vai trong quá trình đọc văn bản VHDG. c) Biện pháp 3: Sử dụng tranh ảnh để minh họa tìm hiểu một chi tiết trong truyện. d) Biện pháp 4: Sử dụng bản đồ tư duy để củng cố kiến thức. e) Biện pháp 5: Tạo hứng thú cho HS qua hình thức sân khấu hóa. 3. Thực nghiệm sư phạm. a. Mô tả cách thực hiện. a.1. Biện pháp 1: Khởi động bằng video, âm nhạc. * Mục đích: Việc khởi động hướng HS vào bài mới để tạo tâm thế hưng phấn cho các em khi bước vào bài mới là rất quan trọng. Kinh nghiệm cho thấy nếu GV có những cách thức hướng HS vào bài mới sinh động thì tiết học ấy sẽ đạt hiệu quả cao hơn. Có tâm thế thoải mái, tự tin, cởi mở, có sự hứng thú và yêu thích tác phẩm các em sẽ chủ động, hoạt động tích cực khiến cho giờ học sôi nổi, giờ học sẽ không còn căng thẳng, hiệu quả giờ học sẽ tốt hơn. * Mô tả cách thực hiện: - Bước 1: Vào đầu giờ học GV cho HS xem hoặc nghe một đoạn video, một đoạn bài hát. - Bước 2: Sau khi xem xong video, GV yêu cầu HS cảm nhận về video, bài hát vừa nghe. - Bước 3: GV chốt kiến thức và dẫn vào bài. + Ví dụ 1: Khi dạy bài 7 Thế giới cổ tích trong chương trình Ngữ Văn 6 GV cho HS xem video bài hát: “Những câu chuyện cổ tích” 8
  7. - GV hỏi: Những hình ảnh trong lời bài hát trên gợi cho em liên tưởng đến những câu chuyện cổ tích nào? Em có cảm nhận gì về những câu chuyện đó? - HS có thể trả lời: Truyện cổ tích: Nàng Bạch Tuyết và bảy chú lùn; Nàng tiên cá Những câu chuyện cổ tích diệu kì giúp con người hướng thiện, biết sống yêu thương GV nhận xét, bổ sung, dẫn vào bài học: Truyện cổ tích là môi trường nuôi dưỡng tâm hồn trẻ thơ, là ngọn gió tươi mát thổi bùng lên ngọn lửa của tình yêu thương trong mỗi con người. Bài 7 với chủ đề Thế giới cổ tích sẽ giúp các em cùng khám phá thể loại đầy lí thú này. Hôm nay cô cùng các em sẽ tìm hiểu những câu chuyện cổ tích của bài 7 để có những hiểu biết về thế giới cổ tích kì diệu này nhé! + Ví dụ 2: Khi dạy văn bản “Sơn Tinh, Thủy Tinh” GV cho HS xem đoạn video về tình hình lũ lụt ở nước ta Hình 3.1: Hình ảnh video ghi lại cảnh lũ lụt ở nước ta GV hỏi: Video các em vừa xem nói về hiện tượng gì? Video ấy gợi cho em suy nghĩ gì? Sau khi HS trả lời GV sẽ dẫn dắt vào bài: Vậy từ xa xưa ông cha ta đã giải thích hiện tượng ấy ra sao, cô và các em cùng tìm hiểu bài hôm nay. a.2. Biện pháp 2: Ứng dụng đọc phân vai trong quá trình đọc văn bản VHDG. * Mục đích: Văn bản truyện dân gian Việt Nam trong chương trình Ngữ Văn đều viết theo phương thức tự sự, có nhiều nhân vật, có một chuỗi các sự việc. Đọc 9
  8. phân vai là một phương pháp gây hứng thú cho người học đặc biệt là với HS lớp 6 muốn được thể hiện và bộc lộ khả năng của mình. Mặt khác phương pháp này còn giúp các em mạnh dạn, tự tin trước đám đông, rèn kĩ năng diễn đạt bằng lời lưu loát có ngữ điệu, truyền cảm. * Mô tả cách thực hiện: - Bước 1: Muốn phương pháp này thành công GV cần phải nghiên cứu và chuẩn bị bài một cách kĩ lưỡng, nghiên cứu đặc điểm tính cách của từng nhân vật. Vào cuối tiết học trước giáo viên nên nói về dự kiến đọc phân vai để HS nghiên cứu trước tạo tâm thế học tập, các em luyện đọc để trơn tru, trôi chảy. - Bước 2: GV lựa chọn HS phù hợp với nhân vật về giọng điệu, phong cách, ngữ điệu lời nói, - Bước 3: Trước khi HS đọc GV cần hướng dẫn cách đọc cho từng nhân vật. - Bước 4: Sau khi HS đọc xong GV phải nhận xét để kịp thời bổ sung, sửa chữa ở những tiết học sau. Bên cạnh đó giáo viên đưa thêm bảng kiểm tự đánh giá hoạt động đọc của HS BẢNG TỰ KIỂM TRA KĨ NĂNG ĐỌC Mức độ Rất tốt Tốt Đạt Chưa đạt Chỉ tiêu Đọc trôi chảy, không bỏ từ, thêm từ. Đọc to, rõ bảo đảm trong không gian lớp học, cả lớp cùng nghe được. Tốc độ đọc phù hợp Sử dụng giọng điệu khác nhau để thể hiện được cảm xúc của nhân vật. Lưu ý: Phương pháp này rất hiệu quả nhưng chỉ phù hợp với một số văn bản nhất định khi trong văn bản có nhiều nhân vật, có đối thoại giữa các nhân vật. 10
  9. + Ví dụ: Khi đọc truyện cổ tích Vua chích chòe GV tổ chức cho HS đọc phân vai như sau: GV chọn 4 HS đọc: Một em dẫn chuyện. Một em phân vai vua: đọc giọng nghiêm trang, quyền uy. Một em vai công chúa: đoạn đầu đọc giọng tinh nghịch, lém lỉnh, ... đoạn cuối giọng đọc trùng xuống Một em vai vua chích chòe: đọc giọng từ tốn. Hình 3.2: Hình ảnh học sinh lớp 6A đọc phân vai truyện “Vua chích chòe” Sau khi các em đọc phân vai, tôi cho các em HS khác nhận xét, đánh giá theo bảng tự kiểm tra kĩ năng đọc. Từ đó rút ra kết luận cần thiết để các em rút ra được những kinh nghiệm cho bản thân. a.3. Biện pháp 3: Sử dụng tranh ảnh để minh họa tìm hiểu một chi tiết trong truyện. - Mục đích: Giúp các em có hứng thú với bài học, các em có thể phát huy được tính sáng tạo, năng khiếu riêng của bản thân. Với biện pháp này giúp HS ghi nhớ kiến thức nhanh chóng, hiểu rõ hơn về kiến thức đã học. - Mô tả cách thực hiện: 11
  10. + Cách 1: GV chuẩn bị bức tranh tương ứng với chi tiết, nội dung bài học. Ví dụ: Khi dạy bài Thánh Gióng để minh họa cho chi tiết dân làng góp gạo nuôi Gióng GV có thể sử dụng bức tranh sau: Hình 3.3: Hình ảnh minh họa chi tiết dân làng góp gạo nuôi Gióng GV vừa cho HS quan sát tranh vừa đặt các câu hỏi gợi mở, phân tích như sau: (?) Bức tranh minh họa cho chi tiết nào trong truyện? HS: Bức tranh minh họa cho chi tiết dân làng góp gạo nuôi Gióng. (?) Hình ảnh ấy gợi cho em suy nghĩ gì? HS: Tinh thần đoàn kết của nhân dân ta. + Cách 2: GV cho HS sáng tạo bằng cách tự vẽ tranh nói về một chi tiết bất kì trong truyện. Thực hiện được công việc này thì tiết học sau HS sẽ tự kể lại được một câu chuyện đã học bằng lời văn của mình. Dưới đây là một số bức tranh học sinh đã vẽ để minh họa cho chi tiết trong truyện đã được học. 12
  11. Hình 3.4 Bài vẽ HS lớp 6A minh họa cho chi tiết trong truyện Thánh Gióng Hình 3.5 Bài vẽ của HS lớp 6A minh họa cho chi tiết trong truyện Cây khế. Sau hoạt động này các em vừa có thể ghi nhớ nội dung bài học vừa được thể hiện năng khiếu hội họa của bản thân. Các em sẽ lưu giữ sản phẩm của mình để sử dụng trong tiết Nói và nghe kể lại truyện truyền thuyết hoặc cổ tích mà em yêu thích. 13