Mô tả SKKN Một số biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học các bài Toán ôn tập về số tự nhiên Lớp 4 tại trường TH Sa Lung

docx 13 trang Chăm Nguyễn 01/07/2025 640
Bạn đang xem tài liệu "Mô tả SKKN Một số biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học các bài Toán ôn tập về số tự nhiên Lớp 4 tại trường TH Sa Lung", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docxmo_ta_skkn_mot_so_bien_phap_nang_cao_hieu_qua_day_hoc_cac_ba.docx

Nội dung tài liệu: Mô tả SKKN Một số biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học các bài Toán ôn tập về số tự nhiên Lớp 4 tại trường TH Sa Lung

  1. 3 + Nhiều học sinh quên kiến thức đã học hoặc mới chỉ dừng lại ở mức độ liệt kê các kiến thức. + Chưa có hệ thống bài tập phù hợp để học sinh vận dụng và ứng dụng vào thực tế. + Giờ học chưa phong phú về hình thức khiến học sinh không hứng thú học các giờ toán ôn tập. Điều này đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả tiết học, đến khả năng tiếp thu của học sinh, đến tâm lý và hứng thú của cô và trò khi dạy và học tiết ôn tập. Từ đó dẫn đến kết quả môn Toán qua các bài kiểm tra của học sinh thường không cao. II. NỘI DUNG BIỆN PHÁP 1. Thực hiện dạy học phân hóa đối tượng học sinh Trong quá trình giảng dạy dựa vào khả năng nhận thức của các học sinh, giáo viên phải phân hóa thành ba nhóm đối tượng như: + Nhóm đối tượng học sinh chưa đạt yêu cầu. + Nhóm đối tượng học sinh đã thực hiện được yêu cầu nhưng chưa áp dụng được nâng cao. + Nhóm đối tượng học sinh đã áp dụng được nâng cao. Đối với các nhóm đối tượng như vậy người giáo viên xây dựng hệ thống câu hỏi, bài tập phù hợp với khả năng nhận thức của từng nhóm. Từ một đề toán giáo viên đã nâng mức độ nhận thức để phù hợp với từng trình độ. Người giáo viên cần xuống hỗ trợ để có hướng dẫn phù hợp cho học sinh xác định đề, yêu cầu dữ kiện và tiến hành giải bài toán. Đề bài Đối tượng áp dụng Cách thực hiện Ví dụ 1: Mỗi bánh xe đạp Đối tượng học sinh Chỉ cần tìm được bao nhiêu cần có 36 nan hoa. Hỏi có chưa đạt yêu cầu bánh xe với 180 nan hoa bằng 180 nan hoa thì lắp được cách vận dụng phép chia cho bao nhiêu bánh xe đạp? số cho hai chữ số không có dư.
  2. 4 Ví dụ 2: Mỗi bánh xe đạp Đối tượng học sinh Người giáo viên yêu cầu học cần có 36 nan hoa. Hỏi có đã thực hiện được sinh vận dụng kiến thức về 1128 nan hoa thì lắp yêu cầu nhưng chưa phép chia có dư để tìm được số được bao nhiêu bánh xe áp dụng được nâng bánh xe lắp được và số nan hoa và còn thừa bao nhiêu cao. thừa. nan hoa? Ví dụ 3: Mỗi bánh xe đạp Đối tượng học sinh Người giáo viên yêu cầu học cần có 36 nan hoa. Hỏi: đã áp dụng được sinh với 5260 nan hoa thì lắp a) có 5260 nan hoa thì lắp nâng cao được nhiều nhất bao nhiêu được nhiều nhất bao chiếc xe đạp 2 bánh và còn nhiêu chiếc xe đạp 2 bánh thừa bao nhiêu nan hoa? và còn thừa bao nhiêu Học sinh phải tìm được số nan nan hoa? hoa mà mỗi xe đạp cần có. Từ b) Vậy muốn lắp thêm 1 đó tìm số xe đạp lắp được và số chiếc xe đạp 2 bánh nữa nan hoa còn thừa. Liên tưởng thì cần thêm bao nhiêu số nan hoa thừa đó để lắp thêm nam hoa? 1 chiếc xe đạp 2 bánh nữa thì cần thêm bao nhiêu nam hoa? Giáo viên phải lựa chọn mức độ nâng cao để linh hoạt đưa vào với số lượng bài tập tuỳ theo mức độ tiếp thu của học sinh. 2. Tổ chức linh hoạt các phương pháp dạy học Có ba cách thức mà giáo viên có thể lựa chọn để thực hiện một tiết dạy ôn tập về số tự nhiên lớp 4 * Ôn tập hệ thống lý thuyết xong rồi làm bài tập. * Làm bài tập để củng cố lý thuyết. * Ôn, luyện lần lượt từng đơn vị kiến thức. Khi ôn tập về số tự nhiên ta có thể chia các bài tập thành các dạng cơ bản sau đây:
  3. 5 2.1. Dạng bài tập: Cấu tạo thập phân của số tự nhiên Ở dạng bài tập này em hướng dẫn học sinh ôn tập thông qua trò chơi học tập Mô phỏng Game Show “Đường lên đỉnh Olympia”. Người giáo viên sử dụng một số tính năng nâng cao để tạo ra khả năng tương tác như Trigger (chọn hiệu ứng theo điều kiện), Đồng hồ đếm ngược thời gian flash, chèn nhạc và bài bát để tăng hiệu ứng cho các phần thi. Lập kế hoạch bài dạy chi tiết, chuẩn bị kĩ lưỡng về điều kiện và phương tiện chơi. Giờ ôn tập sẽ là một cuộc leo núi gồm 4 phần thi: Khởi động, Vượt chướng ngại vật, Tăng tốc và Về đích. * Phần thi Khởi động Lần lượt mỗi đội sẽ khởi động với một gói gồm 6 câu hỏi Gói câu hỏi số 1: Các kiến thức về hàng và lớp Gói câu hỏi số 2: Các kiến thức về so sánh hai số Giáo viên sử dụng kĩ thuật đặt câu hỏi. Giáo viên đóng vai trò là người dẫn dắt, hướng dẫn học sinh chiếm lĩnh nội dung qua các dạng câu hỏi: câu hỏi đóng, câu hỏi mở cấp độ nhận thức là:“Biết” và “Hiểu”. * Phần thi Vượt chướng ngại vật Hai đội cử đại diện tìm và ghép các tranh thích hợp với nội dung nêu dấu hiệu chia hết cho 2,3,5,9. Giáo viên sử dụng kĩ thuật đặt câu hỏi “Phân tích” kiểm tra khả năng phân tích nội dung nhận biết dấu hiệu chia hết của học sinh. * Phần thi Tăng tốc: Tổ chức lần lượt ba đội tham gia thi với nội dung xếp thứ tự các số tự nhiên. Giáo viên sử dụng kĩ thuật động não. Các đội ghi nhanh kết quả ra phiếu đã chuẩn bị. Trong khoảng thời gian nhanh nhất, gắn bảng đúng theo yêu cầu đội nào có nội dung chính xác hơn sáng tạo hơn sẽ được điểm tối đa. * Phần thi Về đích: Giáo viên sử dụng kĩ thuật phòng tranh, cho các nhóm trưng bày kết quả xung quanh lớp học với mục đích nêu các tính chất đã học chốt lại các kiến thức bằng sơ đồ tư duy. 2.2. Dạng bài tập: Thực hiện phép tính Cộng, trừ, nhân, chia số tự nhiên
  4. 6 Rèn kĩ năng thực hiện các phép tính cộng, trừ, nhân, chia giáo viên cần lưu ý trong quá trình thực hiện kĩ năng đặt tính ở phép cộng, phép trừ. Kĩ năng đặt tích riêng ở phép nhân. Kĩ năng ước lượng thương ở phép chia. Ví dụ 1: Không phải + 12345 mà phải là + 12345 238 238 . .. Để tính đúng thì yêu cầu đầu tiên là học sinh phải biết cách đặt phép tính theo cột dọc, số hạng này dưới số hạng kia sao cho các chữ số ở cùng một hàng thẳng cột với nhau. Người giáo viên hỏi vì sao các em đặt tính như vậy để củng cố lại kĩ năng đồng thời cho các em hiểu kĩ hơn. Ví dụ 2: Tính 1309 23. Đối với phép nhân trên, khi thực hiện học sinh cần có kĩ năng đặt các tích riêng. Ở đây cần viết 2 tích riêng. Có kĩ năng đặt các tích riêng thì mới có thể tìm được tích chung đúng. Ví dụ 3: Tính 93 : 31 (Bài 1 - trang 92 - Toán 4). Đây là dạng chia cho số có 2 chữ số thì ta hướng dẫn các em làm tròn số để phép tính đưa về dạng chia cho số có 1 chữ số. 2.3. Dạng bài tập: Có lời văn, bài toán áp dụng thực tế. Để vận dụng thực tế người giáo viên đưa ra một số tình huống liên quan đến thực tế cuộc sống. Ví dụ: Mẹ em đi chợ. Mua 4 túi gạo, mỗi túi 7kg. Mua 4 túi ngô, mỗi túi 3kg. Hỏi mẹ mua tất cả bao nhiêu ki - lô - gam cả gạo và ngô? Giáo viên sử dụng phương pháp quan sát, chiếu silde yêu cầu học sinh tìm hiểu, phân tích đề bài và sử dụng kĩ thuật nhóm đôi hướng dẫn học sinh thực hiện để ôn tập về cách nhân một số với một tổng. 3. Ứng dụng kĩ thuật sơ đồ tư duy Ví dụ: a) Điền số thích hợp vào chỗ chấm 1245 + 3482 = 3482 + ... 25 × 30 = × 25
  5. 7 b) Tính bằng cách thuận tiện 789 + 285 + 211 5 × 25 × 2 × 4 Với nội dung ôn tập về các tính chất của phép tính yêu cầu học sinh sử dụng sơ đồ tư duy để ôn tập lại các tính chất đã học như: tính chất giao hoán và kết hợp của phép cộng và phép nhân. Học sinh vẽ sơ đồ tư duy hệ thống lại kiến thức của tiết ôn tập (theo nhóm) Giáo viên hỏi học sinh về các thành phần trong phép tính. Học sinh ôn lại cách tìm số trừ, số bị trừ, số hạng chưa biết, thừa số chưa biết, số chia, số bị chia Học sinh vẽ sơ đồ tư duy hệ thống lại kiến thức về các phép tính
  6. 8 4. Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học Việc ứng dụng công nghệ thông tin là một yếu tố quan trọng, để góp phần nâng cao chất lượng dạy học, thúc đẩy chuyển đổi số. Trong các tiết học về ôn tập người giáo viên đã sử dụng công cụ phần mềm như: Classpoint, Quizzi, Arota, giúp hệ thống hóa kiến thức. Học sinh thực hiện các bài toán dễ dàng và đạt hiệu quả. Giáo viên áp dụng công nghê thông tin vào giờ học giúp học sinh hứng thú, lớp học rất sôi động.
  7. 9 Trò chơi Ai là triệu phú tạo sự vui vẻ, có nhiều cơ hội được ôn lại kiến thức, thu hút tất cả học sinh tham gia. Tuy nhiên, việc ứng dụng công nghệ thông tin vào các tiết học nói chung, các tiết ôn tập nói riêng cũng cần phải đảm bảo nguyên tắc và phương pháp dạy học bộ môn Toán. Ứng dụng công nghệ thông tin chỉ là một trong những phương tiện hỗ trợ để nâng cao hiệu quả dạy học. Nên kết hợp với các phương tiện truyền thống khác như phấn, bảng, mô hình, dụng cụ để phát huy cao nhất hiệu quả tiết học, tránh việc lạm dụng dụng công nghệ thông tin trong giờ học. III. KẾT QUẢ THU ĐƯỢC SAU KHI SỬ DỤNG BIỆN PHÁP Giáo viên chủ động hơn trong việc lựa chọn phương án phù hợp, xây dựng kế hoạch dạy học và thực hiện các tiết ôn tập chương một cách hiệu quả hơn. Nắm chắc các kiến thức cơ bản, xác định kiến thức trọng tâm của bài; Lựa chọn phương pháp dạy học thích hợp sẽ sử dụng đối với từng tiết ôn tập cụ thể. Nắm được tình hình học tập của từng đối tượng học sinh.
  8. 10 Các em học sinh đã có phương pháp học tập đúng đắn. Các em cũng có thái độ tích cực, chủ động, sáng tạo hơn trong học tập, yêu thích và hứng thú với bộ môn Toán hơn. Điều này được thể hiện ở bảng so sánh chất lượng của lớp 4B năm học 2023- 2024 trước khi áp dụng biện pháp và sau khi áp dụng biện pháp. Tổng HS chưa hoàn Hoàn thành tốt Hoàn thành các Lớp 4B số thành các bài các bài ôn tập bài ôn tập ôn tập Trước khi áp dụng 23 7/23 (30,4%) 10/23(43,4%) 06/23(26,2%) biện pháp Sau khi áp dụng biện 23 17/23 (74 %) 06/23 (26%) 0/23 (0 %) pháp Ngoài ra, sau khi áp dụng biện pháp, điểm kiểm tra học kỳ (cả kỳ I và kỳ II) năm học 2023 - 2024 của các em đều đạt tỷ lệ 100% từ hoàn thành trở lên. Kết quả học tập đã được nâng lên một cách rõ rệt.
  9. 12 Khi kết quả học tập của học sinh được nâng lên giáo viên luôn có các hình thức khen thưởng, động viên các em kịp thời như tuyên dương trước lớp hoặc có quà tặng khuyến khích các em học sinh. Nhà trường tạo điều kiện thuận lợi cho việc áp dụng rộng rãi biện pháp vào dạy học. Gia đình tạo điều kiện tốt nhất cho việc học tập của con em mình. IV. KẾT LUẬN Giáo viên có một cái nhìn tổng quát hơn, hiểu kĩ hơn về vai trò quan trọng của tiết ôn tập. Đổi mới về phương pháp giảng dạy làm cho giờ dạy sinh động, hấp dẫn, hiệu quả hơn. Hiểu được thực trạng, nguyên nhân của giáo viên và học sinh gặp phải khi dạy và học tiết ôn tập cũng như tìm ra những giải pháp tháo gỡ những khó khăn đó. Học sinh có được phương pháp học tập đúng đắn, khoa học, kết quả học tập cao hơn. Tích cực, chủ động, trách nhiệm tham gia hoạt động chiếm lĩnh tri thức. Hơn thế, còn tạo cho các em thói quen tư duy hành động trong cuộc sống. Mỗi tình huống thực tế sinh động giúp học sinh áp dụng vào cuộc sống hàng ngày. Vì vậy các bài toán ôn tập về số tự nhiên sẽ góp phần không nhỏ vào việc hình thành và phát triển nhân cách toàn diện cho học sinh. Trên đây là một số biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học các bài ôn tập về số tự nhiên lớp 4 môn Toán ở trường TH Sa Lung. Rất mong được các thầy cô trong Ban giám khảo góp ý để biện pháp ngày càng hoàn thiện và có hiệu quả cao hơn trong công tác giảng dạy. Sa Lung, ngày 20 tháng 11 năm 2024 XÁC NHẬN CỦA CƠ QUAN ĐƠN VỊ NGƯỜI THỰC HIỆN HIỆU TRƯỞNG Dương Thị Hương Ngàn Trịnh Thị Vân