Mô tả Sáng kiến Một số giải pháp tổ chức dạy học môn toán Lớp 5 theo định hướng dạy học phát triển năng lực
Bạn đang xem tài liệu "Mô tả Sáng kiến Một số giải pháp tổ chức dạy học môn toán Lớp 5 theo định hướng dạy học phát triển năng lực", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
mo_ta_sang_kien_mot_so_giai_phap_to_chuc_day_hoc_mon_toan_lo.docx
Nội dung tài liệu: Mô tả Sáng kiến Một số giải pháp tổ chức dạy học môn toán Lớp 5 theo định hướng dạy học phát triển năng lực
- sinh. Hứng thú học tập được hình thành từ những cảm xúc, nhu cầu học tập của học sinh. Học sinh có hứng thú học tập đúng đắn sẽ kích thích, thúc đẩy tính tích cực, tự giác chiếm lĩnh kiến thức. Đối với học sinh lớp 4 thì hứng thú học tập không phải lúc nào cũng có sẵn. Đa số các em đều chưa ý thức được mục đích của việc học toán vì thế trong quá trình học tập và rèn luyện, giáo viên là người dẫn dắt hình thành hứng thú học toán cho các em. Theo quan sát của mình, chúng tôi thấy có 2 nguyên nhân khiến các em chưa có hứng thú học tập môn Toán: Một là các em thực sự không thấy môn Toán thú vị với mình hoặc không thấy ý nghĩa thực sự của việc học toán ngoại trừ việc vượt qua các bài kiểm tra bắt buộc. Hai là, các em có mong muốn học, có thấy được giá tri, thấy được ý nghĩa của việc học toán nhưng do mất gốc, không theo được chương trình nên các em tự ti, thiếu kiên trì. Đặc điểm chung của học sinh không có hứng thú học toán là những học sinh học chưa tốt môn Toán. Để tạo ra được hứng thú học toán cho học sinh, trước hết chúng tôi đã giúp học sinh thấy được ứng dụng quan trọng, hữu ích của toán trong cuộc sống hàng ngày. Bởi vậy, ngay đầu năm học, chúng tôi cho các em tìm hiểu mục lục sách giáo khoa toán lớp 5. Sau đó, chúng tôi giới thiệu về những nội dung chính trong chương trình toán lớp 4 để kích thích sự tò mò, khám phá của các em. Ví dụ: Chúng tôi giới thiệu về ứng dụng kì diệu và ý nghĩa của phép tính nhân, chia số thập phân trong cuộc sống. Hoặc khi giới thiệu về phần hình học, chúng tôi cho các em tìm những đồ vật có dạng hình lập phương, hình hộp chữ nhật, khối trụ, mà các em biết. Hoạt động này giúp các em thấy toán học thật gần gũi với cuộc sống. Chúng tôi giới thiệu thêm: "Ở lớp dưới, chúng mình đã biết nhận diện và gọi tên các hình đó. Chương trình Toán 5 sẽ giúp chúng mình khám phá thêm những đặc điểm thú vị của chúng như cách tính diện tích xung quanh, diện tích toàn phần của hình hộp chữ nhật, hình lập phương,.. Những đặc điểm thú vị đó đang chờ chúng mình khám phá đấy". Qua những lời giới thiệu ấy, chúng tôi thấy rõ sự tò mò, sự hào hứng hiện lên trong ánh mắt của các em. Việc tạo động cơ học toán cho học sinh không chỉ dừng lại ở đó mà trong mỗi tiết học toán, chúng tôi còn thiết kế thêm một số bài tập, tình huống liên quan đến thực tế. Ngoài ra, chúng tôi luôn luôn tìm ra cách giới thiệu để tạo hứng thú cho các em mỗi khi bắt đầu 1 bài học mới. Chẳng hạn như: Khi dạy bài “Hỗn số” (SGK Toán 5 – KNTTVCS trang .....), chúng tôi đã tạo một đoạn video nhờ công nghệ trí tuệ nhân tạo AI cho học sinh, minh hoạ việc chia 5 cái bánh cho 4 bạn để tạo tình huống có vấn đề cho bài học. Nhờ vậy, khơi gợi được hứng thú cho các em khi bắt đầu bài học mới. Bên cạnh đó, chúng tôi thận trọng trong việc giao các nhiệm vụ học tập cho các em ở trên lớp và ở nhà để đảm bảo các em có đủ thời gian hoàn thành bài tập được giao (Chia nhỏ các nhiệm vụ học tập để các em dễ dàng giải quyết). 3
- Từ những việc làm cụ thể và tỉ mỉ đó, chúng tôi đã giúp học sinh dần hình thành động cơ học tập đúng đắn trong mỗi giờ học toán. Các em đã tích cực, chủ động hơn trong việc chiếm lĩnh kiến thức. Đây không chỉ là 1 việc làm thiết thực để tạo hứng thú học toán mà còn có giá trị gắn kết toán học với cuộc sống và mang cuộc Giải pháp 2: Áp dụng cấu trúc bài học phát triển năng lực môn Toán Dạy học theo hướng tiếp cận phát triển năng lực là khuyến khích sử dụng kiểu dạy học thông qua các hoạt động trải nghiệm, khám phá, phát hiện của học sinh, gồm các bước chủ yếu: Trải nghiệm; Phân tích, khám phá, rút ra bài học; Thực hành luyện tập; Vận dụng kiến thức, kĩ năng vào thực tiễn. Trải nghiệm: Trong dạy học môn toán, kiến thức hình thành trước thường là cơ sở để hình thành, phát triển những kiến thức tiếp theo. Do vậy, giáo viên cần phải tìm hiểu vốn kinh nghiệm và những hiểu biết sẵn có của học sinh trước khi học một kiến thức mới và tổ chức cho học sinh trải nghiệm. Trong dạy học dựa trên trải nghiệm, giáo viên cần tạo ra tình huống có vấn đề để học sinh được trải nghiệm bằng cách huy động các kiến thức và kinh nghiệm thực tiễn để suy nghĩ, biến đổi đối tượng hoạt động, tìm ra hướng giải quyết vấn đề. Phân tích, khám phá, rút ra bài học: Qua hoạt động trải nghiệm, học sinh đã bước đầu tiếp cận được với kiến thức của nội dung bài học. Do đó đến hoạt động này thì giáo viên phải thiết kế các hình thức tổ chức học tập phong phú, giúp học sinh biết huy động kiến thức, chia sẻ và hợp tác trong học tập để thu nhận kiến thức mới. Sau khi học sinh đã phát hiện ra kiến thức mới, giáo viên là người chuẩn hóa lại kiến thức cho học sinh để rút ra bài học. Thực hành, luyện tâp: Hoạt động này cần được thiết kế sao cho mỗi học sinh đều tự mình giải quyết vấn đề. Cần xác định được những thuận lợi và khó khăn của học sinh, dự kiến những tình huống học sinh cần sự trợ giúp trong học tập. Hoạt động này cần tổ chức các hình thức học tập phong phú để tránh nhàm chán cho học sinh. Vận dụng kiến thức, kĩ năng vào thực tiễn: Tổ chức các trò chơi học tập để học sinh củng cố, khắc sâu và nhớ lâu hơn kiến thức. Hoặc tổ chức cho học sinh vận dụng kiến thức bài học vào việc giải quyết các tình huống trong thực tế cuộc sống, hoặc cũng có thể đưa ra yêu cầu, hoặc dự án học tập nhỏ để học sinh thực hiện theo cá nhân, nhóm. Giải pháp 3: Xây dựng, thiết kế bài học môn Toán theo hướng tiếp cận năng lực Bước 1: Nghiên cứu bài học Xác định mục tiêu bài học về kiến thức, năng lực, phẩm chất của học sinh được hình thành, rèn luyện sau khi học xong một đơn vị kiến thức. Bên cạnh đó, khi nghiên cứu bài học, cần phải xác định được kiến thức trọng tâm của bài và dự 4
- kiến các hoạt động học tập sẽ thiết kế cho học sinh để đạt được mục tiêu của bài học. Khi xác định mục tiêu của bài học, giáo viên cần dựa vào chuẩn kiến thức, kĩ năng của môn toán và kết quả nghiên cứu bài học. Quá trình nghiên cứu bài học, cần phải trả lời các câu hỏi sau: - Học sinh có được những kiến thức, năng lực phẩm chất gì sau khi học bài này? - Học sinh đã có những kiến thức về bài học? - Học sinh đã có những vốn kinh nghiệm thực tiễn gì liên quan đến kiến thức bài học? - Học sinh có những thuận lợi và khó khăn gì khi học bài này? - Học sinh được rèn luyện, củng cố kiến thức, năng lực gì? - Học sinh vận dụng kiến thức của bài học vào thực tiễn như thế nào? - Khi xác định mục tiêu của bài học, cần sử dụng các động từ đo được như: trình bày, phát biểu, xác định, phân tích, giải thích, so sánh, vận dụng, đo được, đếm được,.. Bước 2: Thiết kế hoạt động học tập Cần dự kiến các hoạt động học tập cho học sinh khi nghiên cứu bài học, các hoạt động thường là: hoạt động trải nghiệm (gồm trải nghiệm kiến thức cũ hoặc trải nghiệm bằng vốn sống của học sinh); hoạt động phân tích, khám phá, rút ra bài học; hoạt động thực hành luyện tập; hoạt động củng cố, vận dụng kiến thức, kĩ năng vào thực tiễn. Bước 3: Thiết kế giáo án (Các hoạt động dạy học chủ yếu) (Có phụ lục đính kèm) Giải pháp 4: Vận dụng linh hoạt các phương pháp dạy học tích cực để phát triển năng lực tính toán cho học sinh. Kết hợp đa dạng các phương pháp dạy học trong toàn bộ quá trình dạy học là phương hướng quan trọng để phát huy tính tích cực và nâng cao chất lượng dạy học. Chương trình giáo dục phổ thông 2018 là chương trình dạy học phát triển năng lực, phẩm chất để đáp ứng nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho đất nước ở thế kỉ XXI. Đây là chương trình mở và có tính linh hoạt mà theo đó giáo viên được trao quyền tự chủ trong việc điều chỉnh, xây dựng chương trình, kế hoạch dạy học phù hợp với đối tượng học sinh lớp mình. Phương pháp dạy học trong dạy học Toán phải đáp ứng các yêu cầu cơ bản: Phù hợp với tiến trình nhận thức của học sinh, không chỉ coi trọng tính logic của khoa học toán học mà cần chú ý cách tiếp cận dựa trên vốn kinh nghiệm và sự trải nghiệm của học sinh. Quán triệt tinh thần “lấy người học làm trung tâm”, phát huy tính tích cực, tự giác, chú ý nhu cầu, năng lực nhận thức, cách thức học tập khác nhau của từng cá nhân học sinh; tổ chức quá trình dạy học theo hướng kiến tạo, trong đó học sinh được tham gia tìm tòi, phát hiện, suy luận giải quyết 5
- vấn đề. Linh hoạt trong việc vận dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực; kết hợp nhuần nhuyễn, sáng tạo với việc vận dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học, vận dụng kiến thức toán học vào thực tiễn. Sử dụng đủ và hiệu quả các phương tiện, thiết bị dạy học hiện đại theo quy định đối với môn Toán. * Các phương pháp có thể áp dụng: + Phương pháp dạy học theo nhóm: Dạy học nhóm còn được gọi bằng những tên khác nhau như: Dạy học hợp tác, dạy học theo nhóm nhỏ, trong đó học sinh được chia thành các nhóm nhỏ, trong khoảng thời gian giới hạn, mỗi nhóm tự lực hoàn thành các nhiệm vụ học tập trên cơ sở phân công và hợp tác làm việc. Kết quả làm việc của nhóm sau đó được trình bày và đánh giá trước toàn lớp. Có rất nhiều cách để thành lập nhóm theo các tiêu chí khác nhau, không nên áp dụng một tiêu chí duy nhất trong cả năm học. Số lượng học sinh một nhóm nên từ 4 - 6 em. + Phương pháp giải quyết vấn đề: Dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề là phương pháp đặt ra trước học sinh các vấn đề nhận thức có chứa đựng mâu thuẫn giữa cái đã biết và cái chưa biết, chuyển học sinh vào tình huống có vấn đề, kích thích học sinh tự lực, chủ động và có nhu cầu mong muốn giải quyết vấn đề. + Phương pháp giao việc: Phương pháp giao việc chủ yếu được sử dụng nhiều ở phần luyện tập. Khi giao việc cho học sinh, giáo viên cần giao việc rõ ràng, tường minh, vừa sức và giao việc một lần giúp học sinh hiểu đúng được công việc cần làm một cách rõ ràng, không cảm thấy quá khó, quá sức và tạo được sự tập trung chú ý để nhận nhiệm vụ khi được giao việc. Giải pháp 5: Giáo dục học sinh cách tự học đạt hiệu quả * Chuẩn bị góc học tập và điều kiện học tập Việc có được một góc học tập, một không gian học tập riêng cho mình sẽ giúp học sinh có được sự hứng thú, khả năng tư duy, sáng tạo, thoải mái để có thể tự học ở nhà một cách tốt nhất. Tùy theo tính cách cá nhân, học sinh có thể trang trí góc học tập theo ý thích của mình. Gợi ý cho học sinh có thể sắm cho mình một vài vật dụng dễ thương nhằm giúp cho góc học tập thêm sinh động, ngoài ra cần phải có thêm một chiếc đèn bàn nữa vì ánh sáng đèn bàn giúp gia tăng khả năng tập trung. Có thể nói góc học tập là một trong những yếu tố giúp học sinh có được sự hứng thú, thoải mái cũng như góp phần quyết định trong việc tạo hứng thú cho việc tự học ở nhà của mình. Tạo cho mình nơi học tập cố định, đủ sách vở, đủ tiện nghi cần thiết, tránh ồn ào, nhất là nơi có người thường xuyên đi lại. Có đủ ánh sáng để khỏi hại mắt. Xác định cho mình tư tưởng: còn nhiều điều chưa hiểu, chưa nhớ trong bài học. Cũng bài đó, tại sao các bạn hiểu, làm được còn mình thì không? Phải nghiên cứu Phải học mới có tương lai. 6
- Cần có đồng hồ để thực hiện đúng trình tự thời khóa biểu. * Lập thời gian biểu học tại nhà Hướng dẫn các em lập thời gian biểu để hoàn thành bài tập, đọc bài trong sách giáo khoa và giao nghiên cứu nội dung mới, các bài tập cho phát triển năng lực. Có nghĩa là từ xây dựng thời gian biểu buổi học, trong ngày, vài ngày, cả tuần và cũng có thể lâu hơn. Hướng cho các em lựa chọn, ưu tiên cho từng công việc, việc nào làm trước, việc nào làm sau trong một khung thời gian (trong buổi, trong ngày, vài ngày tới ). Đối với học sinh tiểu học, học sinh càng nhỏ thì giáo viên phải giao việc càng cụ thể, chi tiết, ngắn hạn, phù hợp năng lực giúp các tự hoàn thành được công việc một cách thoái mái. Mức độ yêu cầu tự học để hoàn thành công việc học tập được nâng dần độ khó để phát huy được năng lực và tạo hứng thú khám phá cho các em. Ngay từ đầu năm học, chúng tôi đã khảo sát trên phiếu về việc học tập tại nhà của học sinh. Trong đó có việc cho học sinh lập thời gian biểu trong ngày. Yêu cầu học sinh: - Tự lập cho mình thời gian biểu học tại nhà và thực hiện nghiêm túc, đúng giờ như ở trường. - Thời gian biểu tại nhà dựa vào thời khóa biểu ở trường, chủ yếu là học bài cho ngày nay và mai. Tùy môn mà dành thời gian ít hoặc nhiều, không xem nhẹ, bỏ sót môn phụ. Không có thời khóa biểu sẽ rơi vào tình trạng học tràn lan, không biết học môn nào trước môn nào sau, không giờ giấc, đây là điều rất thường thấy ở nhiều học sinh. * Lập nhật kí hoạt động Học tập cũng phải mang tính khoa học, cần phải có trình tự, cần phải có sự đánh giá kết quả và đưa ra hướng học tập thích hợp. Ai là người đánh giá quá trình học của các em? Đó là giáo viên, là bạn bè, là phụ huynh. Nhưng quan trọng hơn là chính bản thân các em. Bởi vì các em là chủ thể hoạt động. Khi các em biết đánh giá chính bản thân mình thì không còn điều gì khó khăn trong học tập nữa, các em tự điều chỉnh chính mình. Đó là vấn đề mà các lực lượng giáo dục đang hướng tới. Chúng tôi cho học sinh viết “Nhật kí học tập”. Việc làm này có nhiều em rất thích bởi vì các em có sự tự tin. Nhưng nhiều em ban đầu rất sợ viết vì trong đó nêu cả những việc chưa làm được của chính mình rồi từ đó khắc phục. Sau một thời gian, các em biết cách ghi và có nhiều tiến bộ. Các em biết mình còn thiếu kiến thức nào rồi tìm cách học lại kiến thức đó. Khi đến trường, các em tự tin hơn, không phải thụ động như trước mà chủ động tiếp thu kiến thức và thực hành. Chúng tôi động viên các em viết nhật kí hàng ngày. Cuối tuần các em đưa cho bố mẹ xem rồi nộp lại cho chúng tôi nhận xét. Những lời nhận xét ngắn gọn nhưng rõ ràng, đúng trọng tâm vấn đề có tác dụng rất lớn. Trong nhiều năm đi 7
- dạy, chúng tôi nhận thấy: ghi nhận xét và lời động viên ra giấy để các em đọc có tác dụng và hiệu quả hơn lời nói trực tiếp. Các em vui mừng trao cho nhau đọc những lời nhận xét và cũng có nhiều em xấu hổ không dám để các bạn đọc. Cả hai đề có tác dụng tốt, tạo động lực cho các em phấn đấu. * Hướng dẫn học sinh cách nắm bài nhanh - hiệu quả Trước hết hãy xem sáng ngày hôm nay, mình được học môn gì? Với thời lượng học trên lớp và suốt từ sáng cho tới tối, kiến thức sẽ bị “rơi rụng” phần nào. Vậy để những ngày hôm sau khi có tiết học này học sinh không còn thấy nặng nề, tốt nhất ngay tối hôm đó, tự bản thân các em hãy mở sách ra và ôn lại bài. Nếu chỗ nào còn vướng mắc, nên ghi chép lại và tham khảo ý kiến của thầy cô. Sau đó, đặt ra câu hỏi: “Ngày mai mình học môn gì nhỉ?” và lần lượt giở sách vở đọc qua bài mới, cố gắng chắt lọc những nội dung chính. Chỉ cần như vậy thôi, ngày hôm sau, khi thầy cô giảng, các em sẽ thấy dễ hiểu hơn, nắm bắt nhanh hơn. Hãy tiếp thu bài giảng một cách chủ động! Hầu hết các em học sinh thường thì thiếu phương pháp học, không nắm được trọng tâm bài, học tràn lan nên rất dễ quên. Khi đã quên thì học bài cũ như mới, rất tốn thời gian. Vì vậy cần tạo cho mình phương pháp học, lúc đầu khó nhưng khi quen rồi cảm thấy nhẹ nhàng, cảm thấy rất tự tin khi đến lớp. Điều cốt lõi là phải tạo cho mình vốn kiến thức cần thiết. Để làm được điều đó cần phải tự mình học hỏi, tự mình khai thác tiềm lực của mình trước. - Đối với những bài đã học tại lớp trong ngày Phải học lại bài học vừa xong trong ngày vì sẽ dễ nhớ và làm bài tập dễ dàng hơn. Có nhiều điều quên, ngay lập tức có thể hình dung, nhớ lại lời giảng của thầy giáo, cô giáo. Phải trả lời cho được tất cả các câu hỏi trong SGK, làm tất cả bài tập vì hầu hết các câu hỏi, bài tập đó là trọng tâm bài không thể để trôi qua dù là câu hỏi dễ nhất. Học lại bài vừa học ít ai thực hiện vì hầu hết chỉ lo bài ngày mai, mà như vậy là kiến thức vừa học để hôm sau sẽ quên hết, khi học lại sẽ như mới. Vì thế nên thực hiện việc này trước rồi học bài cũ. Khi học đã hiểu thấu đáo rồi thì việc ôn lại bài của hôm sau rất đơn giản. - Đối với việc học bài cũ Hạn chế việc học thuộc lòng từng câu, từng từ trong sách hoặc bài giảng trừ những quy tắc bắt buộc. Tập thói quen nắm ý chính của mỗi phần rồi từ đó diễn đạt theo ý của mình. Học bài nào chắc bài đó, cần phải hiểu rõ nội dung chính mới nhớ lâu và cũng là cơ sở chắc chắn để học tốt bài tiếp theo. Khi đã nắm chắc bài, nên luyện tập thêm các bài toán trong sách tham khảo hay trên các trang web chính thống để vừa chủng cố, vừa mở rộng kiến thức. 8
- - Đối với việc nghiên cứu bài mới cho ngày mai Nhờ nắm chắc kiến thức bài đã học nên việc nghiên cứu bài mới sẽ rất thuận lợi. Mục đích chính là đọc-hiểu. Đọc từng câu và nghiên cứu thật kỹ từng ý bài mới, tìm trọng tâm bài. Những chỗ chưa hiểu, dùng bút chì đánh dấu để khi đến lớp lắng nghe cô giáo giải đáp. Chủ động lĩnh hội kiến thức mới từ việc tự nghiên cứu và tập trung nghe giảng. Giải pháp 6: Rèn các kỹ năng và thói quen tự học cho học sinh - Kỹ năng quản lý thời gian + Tự tạo khoảng thời gian học cho bản thân. + Trong khi học nên có thời gian nghỉ ngơi. + Sắp xếp thời gian cho những ngày quan trọng (làm bài kiểm tra, bài thi). + Tổng kết việc mình đã làm được theo ngày, tuần để tự rút kinh nghiệm. - Rèn tính kỷ luật khi học Hãy luyện cho mình tính kỷ luật khi học trên lớp cũng như lúc tự học ở nhà. Khi học hãy dành toàn bộ tâm trí, tập trung cao độ, không xao nhãng. Ngồi học ở nơi yên tĩnh, không gần ti vi Dù sử dụng các phương pháp tự học nào cũng cần có kỷ luật. Ngoài ra, kỷ luật khi học cũng là cách tốt nhất để các em loại bỏ những thói quen xấu và nâng cao hiệu suất học tập. - Tìm kiếm tài liệu Hãy tìm kiếm tài liệu từ sách, báo, các trang mạng chính thống, bạn bè, thầy cô, người thân,... để hiểu sâu hơn bài học. Mặc dù đối với học sinh tiểu học không phải em nào cũng có kỹ năng tìm kiếm tài liệu, nhưng nên hướng dẫn các em tự thực hiện việc này. Khi đã rèn luyện nhiều thì dần dần sẽ trở thành thói quen, kích thích năng lực khám phá. - Học cách ghi nhớ Mỗi người sẽ có cách ghi nhớ khác nhau, có người sẽ viết lại nhiều lần ra giấy, liệt kê những nội dung chính, có người sẽ đọc thật to, có người chỉ đọc thầm miễn sao có thể nhớ được kiến thức đó. Hướng dẫn học sinh hãy thử tất cả những cách trên xem cách nào sẽ giúp ghi nhớ nhanh nhất và hiệu quả nhất. * Hình thành thói quen tự học cho học sinh Giáo viên cần hình thành và rèn luyện cho học sinh thói quen tự học thông qua việc đưa ra các thắc mắc về bài học và vấn đề khác trong xã hội, tự nhiên. Tìm cách để giải quyết các thắc mắc khi tự tìm hiểu các kiến thức đã có, qua tài liệu, sách báo, tạp chí, phương tiện thông tin, mạng internet, qua thầy cô, người lớn, bạn bè. Tạo cho học sinh đam mê, hứng thú, yêu thích môn học: Có hứng thú học tập, tự học sẽ giúp học sinh khắc phục được những áp lực, sự mệt mỏi, đối phó trong quá trình học tập. Giảm tối thiểu áp lực học tập đặc biệt là đối với lứa tuổi 9
- học sinh tiểu học. Không chịu áp lực, được thoải mái, vui vẻ, có nhu cầu cao trong tìm tòi, khám phá thì khi đó hứng thú học tập mới phát triển tốt. Hướng dẫn, hỗ trợ học sinh trong quá trình tự học: đảm bảo cho học sinh khi cần trợ giúp là được trợ giúp kịp thời. Khi tự học tại lớp (làm bài tập, luyện tập), tham gia các hoạt động không để học sinh quá lâu mà không được trợ giúp, hỗ trợ. Khi giao nhiệm vụ cho học sinh giáo viên cần dành cho các em thời gian để nghiên cứu, không giám sát quá mức (tạo áp lực), để các em chủ động tra cứu, tìm nguồn thông tin để giải quyết vấn đề. Đặc biệt, không trợ giúp, hướng dẫn khi chưa cần thiết tạo thói quen ỉ lại trong các em mà không chịu suy nghĩ, tìm tòi. Nghĩa là luôn theo dõi nhưng giáo viên tạo tính tự chủ cho các em trong khi tự học. Giáo viên chú ý quan sát kỹ tiến trình tự học của học sinh khi được giao và thực hiện nhiệm vụ học tập. Nắm bắt năng lực, sở thích của học sinh đối với môn học. Động viên mức độ đạt được và khuyến khích kịp thời những tiến bộ nhỏ nhất của học sinh trong quá trình học tập Giáo viên hướng dẫn, giúp học sinh tự đánh giá lại việc làm của mình. Khi hoàn thành một công việc (một bài toán, bài tập làm văn ) học sinh tự đánh giá tức là tự xem lại kết quả công việc và tự rà soát được mức độ hoàn thành trong chu trình làm việc, tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến cái gì mình chưa làm được và làm được theo yêu cầu để từ đó có hướng phát huy hoặc khắc phục Ngoài ra giáo viên đồng thời hình thành cho các em thói quen đọc sách, thói quen quan sát, đánh giá, nhận xét các sự vật, hiện tượng diễn ra xung quanh các em; tạo niềm tin, mơ ước và hoài bão từ các thần tượng... 1.6. Giải pháp 6: Sáng tạo cách đánh giá học sinh Mục tiêu đánh giá là cung cấp thông tin chính xác, kịp thời, có giá trị về sự phát triển năng lực và sự tiến bộ của học sinh trên cơ sở yêu cầu cần đạt để điều chỉnh các hoạt động dạy học, bảo đảm sự tiến bộ của từng học sinh và nâng cao chất lượng giáo dục môn Toán nói riêng và chất lượng giáo dục nói chung. Việc đánh giá thường xuyên do giáo viên phụ trách môn học tổ chức, kết hợp với đánh giá của giáo viên các môn học khác, của bản thân học sinh được đánh giá và của các học sinh khác trong tổ, trong lớp hoặc đánh giá của cha mẹ học sinh, đi liền với tiến trình hoạt động học tập của học sinh, bảo đảm mục tiêu đánh giá vì sự tiến bộ trong học tập của học sinh. Việc đánh giá định kì là đánh giá kết quả giáo dục sau một giai đoạn học tập. Kết quả đánh giá định kì được sử dụng để chứng nhận cấp độ học tập, công nhận thành tích cho người học theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Khuyến khích vận dụng kết hợp nhiều phương pháp đánh giá (quan sát, ghi lại quá trình thực hiện, vấn đáp, trắc nghiệm khách quan, tự luận, kiểm tra viết, bài tập thực hành, các dự án học tập, thực hiện nhiệm vụ thực tiễn, ...); đồng thời hướng dẫn giáo viên 10
- lựa chọn các phương pháp, công cụ đánh giá phù hợp với từng thành phần năng lực toán học. 2. Tính mới, tính sáng tạo: Sau khi tìm hiểu, áp dụng sáng kiến, bản thân chúng tôi nhận thấy sáng kiến đã góp phần không nhỏ đổi mới phương pháp dạy học môn Toán ở Tiểu học theo định hướng phát triển năng lực học sinh. Một số điểm mới của sáng kiến, cụ thể như sau: - Lấy việc học của học sinh làm trung tâm, mỗi cá nhân học sinh tự tìm tòi, khám phá, làm chủ tri thức và vận dụng vào giải quyết các tình huống thực tế cuộc sống qua đó có thể rút ra kinh nghiệm và tri thức cho riêng mình. - Phát triển tư duy, trí thông minh của học sinh được coi trọng qua từng hoạt động học tập được tổ chức (khởi động, hình thành tri thức, vận dụng tri thức để hình thành kĩ năng, ứng dụng tri thức và kĩ năng vào thực tiễn, mở rộng tri thức qua các kênh thông tin khác nhau như Internet, sách, báo, ...). - Theo dạy học phát triển năng lực, kết quả học tập (kiến thức, kĩ năng, thái độ) được hình thành bởi chính học sinh nhờ quá trình trải nghiệm, tư duy, do các em kiến tạo, phát triển mà không phải là sự áp đặt từ giáo viên. Hơn nữa, kiến thức và kĩ năng luôn gắn liền với kinh nghiệm, phục vụ cho cuộc sống nên học sinh cảm nhận được ý nghĩa thiết thực của chúng. Ví dụ: Khi dạy học các nội dung môn Toán, giáo viên thường cho học sinh làm các bài tập trong sách giáo khoa trong đó một số bài tập có nội dung còn xa rời thực tiễn cuộc sống hằng ngày của các em. Còn dạy học phát triển năng lực tổ chức cho học sinh vận dụng kiến thức, kĩ năng toán học vào việc giải quyết các vấn đề thực tế trong cuộc sống của mình qua các bài tập vận dụng như: tính diện tích của một mảnh vườn hình chữ nhật, hình thang, tính số cây cần thiết trồng ở vườn theo khoảng cách nhất định, tính thời gian cần thiết đi bằng các phương tiện khác nhau từ nhà tới trường, tính số tiền cho một bữa cơm tiếp khách ở gia đình,... 3. Phạm vi ảnh hưởng, khả năng áp dụng của sáng kiến 3.1. Phạm vi ảnh hưởng: - Sáng kiến áp dụng trong dạy học toán cho học sinh lớp 5 nói riêng và học sinh các lớp trong bậc Tiểu học nói chung. 3.2. Khả năng nhân rộng của sáng kiến: Đề tài đã được chúng tôi áp dụng trong dạy học môn Toán cho học sinh lớp 5. Qua quá trình nghiên cứu và thực tế áp dụng, chúng tôi thấy đây là một giải pháp phù hợp với định hướng đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát triển năng lực, tạo hứng thú, phát huy tính chủ động, tích cực cho học sinh các khối lớp trong bậc tiểu học. Bản thân chúng tôi đánh giá những giải pháp không cần tốn quá nhiều chi phí đầu tư, việc thực hiện chủ yếu thông qua sự chủ động của giáo viên và học sinh nên 11
- chúng tôi tin tưởng đạt được hiệu quả cao khi áp dụng ở bất cứ trường học trên địa bàn nào. 4. Hiệu quả, lợi ích thu được do áp dụng giải pháp. Các biện pháp tổ chức dạy học môn Toán lớp 5 theo định hướng tiếp cận phát triển năng lực mà chúng chúng tôi xây dựng và thực hiện trong năm học 2024-2025 đã đạt được kết quả, thể hiện bằng số liệu trong bảng sau: Thời điểm Điểm 9-10 Điểm 7-8 Điểm 5-6 Điểm dưới 5 TSHS đánh giá SL % SL % SL % SL % Lớp 5C Đầu năm 10 27,1 22 59,5 3 8,1 2 5,3 (37 em) Cuối kì 1 27 73 9 24,3 1 2,7 0 0 Lớp 5D Đầu năm 12 31,6 23 60,5 2 5,2 1 2,7 (38 em) Cuối kì 1 30 78,9 7 18,5 1 2,6 0 0 Bảng so sánh kết quả kiểm tra định kì môn Toán Nhìn vào những kết quả đạt được, chúng tôi nghĩ mình đã tìm được hướng đi đúng, cách làm phù hợp để phát triển năng lực toán cho học sinh lớp 5. - Với kết quả của đề tài này, chúng tôi mong được sự góp ý của các cấp lãnh đạo và Hội đồng thẩm định sáng kiến để sáng kiến của chúng tôi ngày càng hoàn thiện hơn. Chúng tôi xin chân thành cảm ơn và rất mong được sự đóng góp ý kiến của Ban giám khảo . Vĩnh Bảo, ngày tháng 12 năm 2024 CƠ QUAN ĐƠN VỊ Tác giả sáng kiến ÁP DỤNG SÁNG KIẾN Nguyễn Thị Phượng Trần Thị Phương Thảo 12
- PHỤ LỤC Giải pháp 3: Xây dựng, thiết kế bài học môn Toán theo hướng tiếp cận năng lực Bước 3: Thiết kế giáo án (các hoạt động dạy học chủ yếu) Ví dụ: Tiết 87: DIỆN TÍCH HÌNH TAM GIÁC Hoạt động của GV Hoạt động của HS 1. Hoạt động 1: Khởi động - GV hướng dẫn HS. - HS thực hành trên giấy màu. a. Lấy 2 tờ giấy hình tam giác bằng nhau. b. Cắt ghép hình chữ nhật. - GV hướng dẫn học sinh cách cắt, ghép hình. - HS quan sát cách cắt, ghép + Kẻ đường cao của hình tam giác đó. hình. + Cắt theo đường cao, được hai mảnh hình tam giác là 1 và 2. + Ghép hai mảnh 1 và 2 vào hình tam giác còn lại để thành một hình chữ nhật ABCD. 1 2 1 2 So sánh, đối chiếu các yếu tố hình học trong hình vừa ghép. - HS làm việc cá nhân - Giáo viên cho học học sinh hoạt động cá nhân thực hiện thao tác theo hình trên. - HS thảo luận cặp về cách thực - Thảo luận cặp về cách thực hiện cắt và ghép hai hiện cắt và ghép hai hình tam hình tam giác thành hình chữ nhật. (Lấy một trong giác thành hình chữ nhật. hai hình tam giác bằng nhau, vẽ một đường cao lên hình tam giác đó, cắt theo đường cao được hai mảnh tam giác ghi là 1 và 2). 13

