Mô tả Sáng kiến Một số giải pháp rèn kĩ năng nói cho học sinh Lớp 1 thông qua giờ học môn Tiếng Việt

docx 15 trang Chăm Nguyễn 13/01/2026 70
Bạn đang xem tài liệu "Mô tả Sáng kiến Một số giải pháp rèn kĩ năng nói cho học sinh Lớp 1 thông qua giờ học môn Tiếng Việt", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docxmo_ta_sang_kien_mot_so_giai_phap_ren_ki_nang_noi_cho_hoc_sin.docx

Nội dung tài liệu: Mô tả Sáng kiến Một số giải pháp rèn kĩ năng nói cho học sinh Lớp 1 thông qua giờ học môn Tiếng Việt

  1. 3 nói của các em . Khi đã hoà mình vào hoàn cảnh đã nhập vai giao tiếp thì khi ấy các em sẽ thể hiện hết mình, muốn nói thực sự hết mình. - Hoàn cảnh giao tiếp trong giờ Tiếng Việt chính là điều kiện lớp học trong giờ luyện nói. Nó gồm: không khí lớp học, tư thế của giáo viên, các hoạt động nghe của học sinh, trật tự lớp học và một số hoạt động khác có ảnh hưởng gián tiếp đến việc nói năng của học sinh. Bởi vì học sinh không thể nói trong hoàn cảnh lớp học ồn ào hoặc các em sẽ khó diễn đạt trước cặp mắt nghiêm khắc của giáo viên. Các em sẽ tự tin hơn, phấn khởi hơn trước sự chú ý lắng nghe của các bạn, trước ánh mắt trìu mến hoặc những lời động viên khích lệ của cô giáo. (Ảnh - Một giờ học Tiếng Việt - Có minh chứng đính kèm) - Khi học sinh đang nói, giáo viên không nên ngắt lời một cách tuỳ tiện bởi sự gián đoạn trong lời nói thường làm các em lúng túng. Giáo viên chỉ nên sửa sai hoặc uốn nắn khi các em đã kết thúc phần nói của mình. 2. Giải pháp 2: Rèn kĩ năng nói cho học sinh qua phần Luyện nói: Để rèn kĩ năng nói và khả năng diễn đạt cho học sinh thì giáo viên cần phải làm những việc sau: 2.1. Xác định và nắm rõ mục tiêu chính của chủ đề luyện nói, xây dựng hệ thống câu hỏi cho phù hợp với từng đối tượng học sinh ở mỗi chủ đề Luyện nói. Chính chủ đề là điểm tựa gợi ý cho phần luyện nói. Gợi ý sao cho tất cả học sinh đều hiểu được mục tiêu chính của chủ đề luyện nói là gì, được nói và không đi quá xa với chủ đề. Nếu đi quá sâu sẽ lẫn sang tiết Đạo đức. Để khắc phục điều này tôi chỉ định hướng các em câu hỏi gợi ý xoay quanh vấn đề trọng tâm cần luyện nói. Phải chuẩn bị hệ thống câu hỏi gợi ý cho từng nhóm đối tượng tuỳ nội dung của từng bài. Tuỳ theo từng chủ đề mà tôi có định hướng cho học sinh khi luyện nói, khi đặt câu hỏi để giúp các em biết cách nói cho sát nội dung bài và nói một cách tự nhiên, chủ động không gượng ép. Tôi phải chuẩn bị và dự trù thêm một số câu hỏi cho từng đối tượng, đi từ câu hỏi khái quát rồi mới gợi ý bằng những câu hỏi nhỏ (Khi các em lúng túng sẽ dễ dàng có cơ sở theo định hướng của cô để rèn nói.) Ví dụ: Với chủ đề Lớp học của em, tôi cho học sinh quan sát tranh trong SHS, GV đặt từng cầu hỏi và HS trả lời theo từng câu: Các em nhìn thấy ai? ở đâu? đang làm gì? Hãy nói về lớp học của em. (tên các thấy, cô dạy các môn học, số HS trong lớp, số tổ, tên các tổ trưởng, lớp trưởng, các hoạt động thường ngày trong lớp học,...) GV yêu cầu một số (2 - 3) HS trả lời những câu hỏi trên và có thể trao đổi thêm về lớp học. ? Em có yêu thầy cô và các bạn trong lớp không? Vì sao? (Ảnh - Bài 58: ach êch ich - Có minh chứng đính kèm) Các em sẽ hào hứng và tham gia vào phần luyện nói một cách chủ động, tích cực hơn. Nếu các em trả lời đúng nhưng chưa thành câu, giáo viên chú ý uốn nắn sửa chữa ngay và cho các em nói lại để các em nhớ, tạo thành kĩ năng.
  2. 4 Cần lưu ý để tạo nên ấn tượng tốt cho các em khi giảng dạy nói chung và đàm thoại nói riêng thì người giáo viên phải thực sự gương mẫu trong việc nói năng, nói đủ ý, diễn đạt gãy gọn và trong quá trình rèn luyện cho học sinh qua từng câu, từng bài nên kiên trì, không nóng vội mà quát nạt, giận dỗi hay trách móc học sinh. Phải hết sức nhã nhặn với các đối tượng trong lớp tạo không khí vui vẻ, phấn trấn giúp các em có cảm giác thoải mái thì hoạt động nói mới diễn ra một cách tự nhiên. Nên chú trọng tìm hiểu điểm tâm sinh lý, những khó khăn của học sinh trong lớp để có sự sẻ chia, thông cảm, động viên các em nói nhiều và mạnh dạn hơn bắt đầu từ những điều đơn giản nhất, dần dần tăng mức độ khó lên theo thời gian. 2.2. Phân các chủ đề thành nhiều nhóm để lựa chọn phương pháp và hình thức khác thay đổi cho phù hợp với cá nhân, nhóm, đối thoại, độc thoại, Với những chủ đề gần gũi với học sinh như chủ đề: Gia đình; Chợ và siêu thị; Đồ vật quen thuộc,... Giáo viên gợi mở cho học sinh nói qua vốn hiểu biết thực tế của các em, lựa chọn những hình thức học tập, trò chơi v.v - Chủ đề nói về gia đình có thể cho học sinh sắm vai nhân vật thể hiện tình cảm của ông bà, bố mẹ đã yêu thương, quan tâm, chăm sóc em hoặc những tình cảm, việc làm của em thể hiện sự hiếu thảo của một người cháu, người con đối với ông bà, cha mẹ mình. - Với chủ đề: Khu vườn mơ ước; Mặt trăng và mặt trời; cho học sinh quan sát thật kĩ bức tranh và giới thiệu trực tiếp đó chính là khu vườn mơ ước. Học sinh biết được trong khu vườn mơ ước đó có những gì? Và “mặt trăng” là thế nào? “mặt trời” là thế nào?, Với một số chủ đề khó hơn (bài 71, 79, ), giáo viên cần hướng dẫn học sinh nghe - nói một cách linh hoạt, khai thác những nội dung gần gũi với học sinh và ít nhiều liên quan đến chủ đề (không nhất thiết phải có trong tranh minh hoạ ở sách giáo khoa). Ví dụ: Bài 53: Chủ đề: Đồ vật quen thuộc, giáo viên có thể đưa ra những đồ thật, vật thật để học sinh quan sát, nói cho nhau nghe về các đồ thật, vật thật đó. (Ảnh - Bài 53: ap ăp âp - Có minh chứng đính kèm) 2.3. Chuẩn bị đồ dùng học tập đầy đủ và phong phú: - Hình ảnh trong sách giáo khoa là chủ yếu. - Tận dụng những vật thật, tranh ảnh có sẵn trong thực tế để làm phương tiện giảng dạy. Ví dụ khi dạy về chủ đề: Đồ vật quen thuộc tôi có thể chuẩn bị sẵn những vật thật như: ô, cặp sách, mũ, để học sinh có thể quan sát trực tiếp tạo hứng thú cho các em. - Tận dụng những tranh ảnh, đồ dùng mà học sinh có thể cùng sưu tầm được. Ví dụ: tranh ảnh, vi deo khi dạy về chủ đề Chợ và siêu thị, các đoạn video clip về gió, mây, mưa khi dạy về chủ đề: Mưa và nắng. - Khi phương tiện dạy học đầy đủ, phong phú, sát với thực tế sẽ tạo cho các em hào hứng, chủ động và tích cực tham gia vào quá trình luyện nói.
  3. 5 2.4. Lựa chọn phương pháp và hình thức tổ chức dạy học thích hợp: a. Gợi ý bằng hệ thống câu hỏi qua phương pháp đàm thoại. Trong quá trình đàm thoại giữa giáo viên và học sinh dựa trên lời nói của học sinh giáo viên sẽ chỉnh sửa câu nói sao cho rõ, gọn, đủ ý diễn đạt theo nội dung của chủ đề. b. Sử dụng tranh ảnh, đồ dùng trực quan: Học sinh quan sát và diễn đạt những gì đã đạt được quan sát khi nhìn tranh. Mỗi tình huống trong tranh là một tình huống thể hiện chủ đề của bài. Khi học sinh đã quen với việc luyện nói, giáo viên sẽ nâng dần hình thức trong quá trình dạy luyện nói. c. Tổ chức các hoạt động trò chơi, tạo hứng thú, giúp các em mạnh dạn, tự tin, tích cực tham gia trong quá trình luyện nói.Ví dụ như chủ đề: Chợ và siêu thị, các em sẽ được đóng vai người mua hàng, sẽ được giao tiếp với người bán hàng và chọn các loại đồ mà em thích mua d. Tổ chức luyện nói theo hình thức cá nhân, nhóm đôi, nhóm bốn, học sinh sẽ tự nói cho nhau nghe, cùng trao đổi những nhận biết và bày tỏ cảm xúc của mình về nội dung chủ đề. e. Phương pháp quan sát động viên khen thưởng: Trong tiết dạy, tôi thường chú ý đến học sinh ít nói, thụ động, đặt câu hỏi dễ động viên các em cùng tham gia nói. Đối với những em khá giỏi tôi sẽ khuyến khích, gợi mở bằng những câu hỏi khái quát hơn để giúp các em tự tin, mạnh dạn trình bày ý kiến, cảm xúc của mình một cách chân thành; tạo không khí lớp học thân thiện, cởi mở, động viên khen thưởng kịp thời nhằm kích thích sự hứng thú, ham học hỏi của các em. 2.5. Vận dụng triệt để thông tư 27 vào quá trình dạy luyện nói: Tôi thường xuyên bám sát thông tư để nhận xét động viên các em một cách kịp thời tạo hứng thú cho các em khi học luyện nói. Ví dụ: Với những em nhút nhát chưa mạnh dạn nếu các em trình bày đúng chủ đề nhưng nói còn nhỏ thì tôi có thể khen: Cô khen con nói đủ ý, đúng chủ đề nhưng nếu con nói to hơn nữa thì sẽ rất hay. Hoặc với những em khá giỏi, tự tin khi nói tôi có thể khen: Cô khen con nói đúng chủ đề, rõ ý, to rõ ràng nhưng nếu con biết kết hợp cử chỉ, điệu bộ trong khi nói thì thật là tuyệt vời . Hay khi HS được luyện nói trong nhóm xong, tôi có thể cho HS nhận xét về quá trình làm việc nhóm, nhận xét cả về năng lực, kiến thức. 3. Giải pháp 3: Sử dụng một số phương pháp dạy học tích cực vào dạy luyện nói trong môn Tiếng Việt. 3.1. Vận dụng phương pháp đóng vai - Phương pháp đóng vai là phương pháp dạy học trong đó giáo viên tổ chức cho học sinh giải quyết một tình huống của nội dung học tập gắn liền với cuộc sống thực tế bằng cách diễn xuất ngẫu hứng không cần luyện tập kịch bản trước. - Phương pháp đóng vai nhằm giúp học sinh thể hiện tình huống giao tiếp bằng cách đóng vai nhân vật giao tiếp, trau dồi trí tưởng tượng, rèn kỹ năng
  4. 6 nói trong hội thoại, biết thể hiện ngữ điệu, cử chỉ, hành động khi vào vai nhân vật. Phương pháp này thường dùng khi dạy các bài nói kiểu tình huống giao tiếp, hoặc trò chuyện, hỏi - đáp về một đề tài. - Nhìn chung, vận dụng phương pháp đóng vai trong dạy luyện nói sẽ tạo môi trường tự nhiên để rèn luyện kỹ năng nói, học sinh sẽ sáng tạo lời thoại của mình cho đúng với nội dung bài nêu ra và học sinh nói một cách tự nhiên. Ví dụ: ở bài 21: Cảm ơn, cô giáo biến đổi tình huống giao tiếp như sau: “Một bạn trong vai bác tặng quà, bạn nhỏ đưa hai tay đón nhận” Cô mời một em đóng vai bác tặng quà, một em đóng vai bạn nhỏ. Như vậy, tình huống biến đổi ở chỗ: không chỉ có lời nói của bạn nhỏ mà còn có cả lời nói của bác tặng quà đáp lại khi được bạn nhỏ nói lời cảm ơn. Tình huống này có yêu cầu cao hơn, có nhiều em được tham gia đóng vai hơn. + Sau khi học sinh đóng vai, giáo viên tổ chức cho nhận xét, đánh giá, rút kinh nghiệm, khen ngợi những em thể hiện vai diễn tốt. (Ảnh - Bài 46: ac ăc âc - Có minh chứng kèm theo) 3.2. Bước đầu vận dụng phương pháp dạy học thảo luận nhóm theo mô hình VNEN trong dạy học nội dung luyện nói ở lớp 1: Phương pháp thảo luận nhóm là một phương pháp dạy học trong đó giáo viên tạo điều kiện cho học sinh học tập theo từng nhóm nhằm luyện tập khả năng giao tiếp bằng cách trao đổi, hợp tác, tranh luận, bàn bạc với nhau để giải quyết các vấn đề học tập và tìm ra được những tri thức, kỹ năng , kỹ xảo mới cho bản thân. Qua thảo luận nhóm, ngôn ngữ và năng lực tư duy của học sinh trở nên linh hoạt hơn, đồng thời còn giúp các em luyện tập tính tự giác, tính đoàn kết tập thể, có sự mạnh dạn, tự tin trong học tập và giao tiếp. - Các buổi học thảo luận nhóm bao giờ cũng rất sôi nổi. Những học sinh nhút nhát, ít phát biểu trong lớp sẽ có môi trường tham gia xây dựng bài. Hơn thế nữa, hầu hết các hoạt động nhóm đều mang cơ chế tự sửa lỗi và học sinh học lẫn nhau, theo đó các lỗi sai được giải đáp trong bầu không khí thoải mái. - Khi tổ chức học nhóm giáo viên cũng có cơ hội tận dụng những ý kiến và kinh nghiệm của học sinh. Khi đó học sinh có lợi thế hơn khi làm việc độc lập, các em dễ nghĩ ra cách làm bài tập. Đồng thời khi học nhóm, mối quan hệ giữa các học sinh được cải thiện, tạo cho lớp học bầu không khí tin cậy. Mọi người ai cũng thích hoạt động giao tiếp xã hội, vì thế việc chia nhóm sẽ tạo một thái độ tích cực hơn với hoạt động giảng dạy. - Có nhiều cách để chia nhóm: nhóm ngẫu nhiên, nhóm cùng trình độ, nhóm cùng sở thích .. giáo viên nên chọn chia nhóm sao cho phù hợp để phần luyện nói diễn ra một cách tự nhiên, sôi nổi và hào hứng đối với các em. Ví dụ 1: Bài luyện nói về chủ đề: “Bảo vệ môi trường” Sách Tiếng Việt 1 tập một trang 57, GV chia lớp thành các nhóm (nhóm đôi, ba, tư). Câu hỏi thảo luận:
  5. 7 + Hãy chia sẻ cách bảo vệ môi trường của mình cho bạn. (Gợi ý: Bạn đã làm gì để bảo vệ môi trường? Để môi trường luôn sạch sẽ và trong lành, không bị ô nhiễm thì bạn cần làm gì?...) - Từng cá nhân trình bày trong nhóm cách làm của mình, các thành viên khác nhận xét góp ý bổ sung cho bạn rồi thống nhất cách làm. Nhóm trưởng lên báo cáo kết quả làm việc (các thành viên trong nhóm luân phiên làm nhóm trưởng). - Các nhóm sau khi thảo luận sẽ trình bày trước lớp dưới sự điều khiển của trưởng ban học tập. Các nhóm sẽ giao lưu bổ sung ý kiến. Cuối cùng giáo viên nêu ý kiến và đánh giá tinh thần làm việc của các nhóm. 3.3.Vận dụng phương pháp thông qua trò chơi học tập trong dạy học nội dung luyện nói ở lớp 1: - Trò chơi là hoạt động của con người nhằm mục đích vui chơi, giải trí, thư giãn sau những giờ làm việc căng thẳng. Thông qua trò chơi, người chơi còn có thể được rèn luyện thể lực, các giác quan, sự thông minh, nhanh nhạy, sáng tạo, hoạt bát và đặc biệt là được giao lưu, học hỏi với bạn bè, đồng đội. Đối với trẻ em thì trò chơi có vai trò rất quan trọng trong sinh hoạt, vì vậy nếu biết kết hợp hợp lý giữa học tập và vui chơi thì sẽ tạo được hiệu quả cao trong học tập, tránh được hiện tượng mệt mỏi, nhàm chán cho học sinh. Ví dụ: Bài luyện nói: Loài chim (Tiếng Việt 1 tập một - trang 139) + Giáo viên có thể đưa ra trò chơi “Thi nói tên các loài chim” giữa 2 đội chơi, mỗi đội 5 em. Hai đội sẽ gắp thăm giành quyền nói trước, mỗi em nói một câu về sen, hai đội luân phiên nhau nói, câu sau không được trùng câu trước. Đội nào có câu nói lặp lại hoặc dừng trước sẽ thua cuộc. - Mỗi trò chơi đều phải có luật chơi. Trò chơi học tập cần có luật chơi đơn giản, dễ nhớ, dễ thực hiện và thời gian chơi ngắn, phù hợp với trình độ của học sinh. Luật cũng cần được phổ biến rõ ràng trước cuộc chơi. - Tuy nhiên cũng không nên lạm dụng trò chơi quá nhiều trong giờ học, chỉ nên chơi vào ít phút cuối của giờ học, khi xuất hiện yêu cầu củng cố kiến thức, kỹ năng, khi học sinh đã có dấu hiệu mệt mỏi. Lúc đó trò chơi sẽ tạo sự hưng phấn để kết thúc tiết học và tạo thư giãn cho các em bước vào tiết học tiếp theo. - Trò chơi học tập trong giờ luyện nói có thể kết hợp các vận động như: truyền điện, nói và viết lên bảng lớp . 3.4. Vận dụng phương pháp dạy học vấn đáp vào dạy nội dung luyện nói ở lớp 1: - Phương pháp vấn đáp (hỏi - đáp) chiếm một vị trí quan trọng ở bậc Tiểu học nói chung và ở lớp 1 nói riêng. Nó được sử dụng rộng rãi trong quá trình dạy học nhằm gợi mở cho học sinh làm sáng tỏ những vấn đề mới, rút ra những kết luận cần thiết từ những điều đã học. Nó tạo điều kiện cho học sinh phát huy được tính tích
  6. 8 cực, độc lập nhận thức, phát triển hứng thú học tập và khát vọng tìm kiếm vấn đề để giải quyết. - Ở giai đoạn đầu (phần học âm), phương pháp hỏi đáp được dùng nhiều hơn vì lúc này học sinh chưa có nhiều kinh nghiệm trong kỹ năng nói. Khi ấy các em rất cần sự gợi mở, dẫn dắt dần dần của giáo viên, hướng các em vào việc trình bày một vấn đề nào đó. Ví dụ: Bài luyện nói: Trồng cây (Tiếng Việt 1 tập một - trang 165). Giáo viên có thể tổ chức bằng phương pháp hỏi đáp như sau: - Yêu cầu học sinh nêu chủ đề luyện nói. - Yêu cầu học sinh quan sát tranh trong sách giáo khoa, giáo viên nêu câu hỏi cho HS trả lời: Tranh vẽ cảnh gì? Có những ai đang trồng cây? Khi trồng cây, em sẽ làm những gì gì? Em cảm thấy thế nào khi được tham gia trồng cây xanh? Với học sinh khá giỏi có thể yêu cầu học sinh kể về một bữa cơm bán trú . - Những câu hỏi đầu thường dành cho những học sinh yếu hoặc ít nói. Sau mỗi câu trả lời giáo viên cần động viên, khuyến khích để học sinh tự tin, mạnh dạn. Cuối cùng giáo viên yêu cầu một vài em tự nói một số câu về chủ đề Trồng cây. Đây chính là phần nâng cao, dành cho những học sinh khá, giỏi. 3.5. Vận dụng phương pháp dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề trong dạy luyện nói ở lớp 1: - Phương pháp dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề là phương pháp dạy học mà trong đó giáo viên đặt ra những vấn đề của bài học thông qua các tình huống có vấn đề. Từ đó thu hút được sự quan tâm tìm hiểu của học sinh, đòi hỏi học sinh phải tích cực, chủ động suy nghĩ, giải quyết các vấn đề đặt ra để tìm kiếm cho bản thân những kiến thức mới và cách học tập mới. Đây không phải là phương pháp dạy học mới nhưng nhìn chung nhiều giáo viên chưa vận dụng thành thạo phương pháp này hoặc hiệu quả sử dụng chưa cao. - Phương pháp dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề nhằm hình thành ở học sinh khả năng tư duy giải quyết vấn đề, khả năng thích ứng, khả năng hợp tác trong đời sống, đặc biệt trong giao tiếp... Phương pháp này đòi hỏi học sinh tham gia giải quyết các vấn đề do một hoặc một số tình huống đặt ra. Nhờ đó, học sinh vừa nắm được tri thức, vừa phát triển tư duy sáng tạo và chủ động chiếm lĩnh tri thức mới. Ví dụ: Bài luyện nói: Vật nuôi yêu thích (Tiếng Việt 1 tập một - trang 157) giáo viên có thể nêu ra tình huống sau: Khi nói về các con vật, có bạn hỏi em: Bạn yêu quý con vật nào nhất?Bạn có thể kể cho tớ nghe về nó được không? Em sẽ nói về con vật đó với bạn thế nào để bạn cũng thấy mến nó? - Học sinh sẽ phát hiện ra vấn đề cần giải quyết là: Nói với bạn về con vật mình yêu quý để bạn cũng mến nó. - Giáo viên cần gợi ý để học sinh tìm cách giải quyết, hướng các em về giới thiệu con vật mình quý mến, giới thiệu những nét đáng yêu của con vật đó.
  7. 9 (Ví dụ: Tớ có một con chó rất xinh, nó có bộ lông vằn đen nên tớ gọi nó là Vện,..) - Sau khi học sinh trình bày trước lớp, giáo viên yêu cầu cả lớp nhận xét, đánh giá bài làm của bạn. Tuy nhiên không có một phương pháp, hình thức nào là áp dụng tuyệt đối, tối ưu mà ở đây người giáo viên phải phối hợp linh hoạt các phương pháp và hình thức dạy học với nhau thì kết quả giờ dạy mới cao. 4. Giải pháp 4: Nắm chắc các hoạt động khi tiến hành dạy Luyện nói cho học sinh lớp 1: 4.1. Các hoạt động trước khi luyện nói: - Tạo tâm thế sẵn sàng học tập cho học sinh: Như trên đã nói, để có được bài nói tốt, người nói cần có sự chuẩn bị tốt, tức là cần xác định được những việc cần làm để thực hiện bài tập luyện nói có hiệu quả. Đối với học sinh lớp 1, sự chuẩn bị trước tiên cho giờ luyện nói là các em phải có hứng thú học tập. Giáo viên cần tạo cho học sinh một tâm thế hào hứng để bước vào giờ học. Bởi lẽ, nội dung luyện nói thường khó đối với học sinh, mặt khác mục này được sắp xếp vào cuối tiết học. Lúc đó học sinh đã mệt mỏi, sự chú ý của các em không cao. Vì vậy, trong suốt các nội dung học tập trước đó của giờ học, giáo viên cần tạo không khí học tập nhẹ nhàng, tự nhiên và nên duy trì điều đó trong giờ luyện nói. - Giáo viên cần chú ý chuẩn bị tốt các hoạt động cho giờ luyện nói nhằm tạo không khí hào hứng, sôi nổi trong giờ học, kích thích học sinh tham gia nói. 4.2. Các hoạt động trong giờ luyện nói: - Giáo viên phải kích thích nhu cầu nói của học sinh bằng cách sử dụng trực quan, tạo tình huống giao tiếp phù hợp, động viên học sinh tham gia tích cực khi luyện nói. - Giáo viên phải tạo hoàn cảnh giao tiếp tốt. Đó là các điều kiện trong lớp học ở thời điểm luyện nói. Giáo viên cần giáo dục học sinh trong lớp biết cách lắng nghe và có thái độ đúng khi nghe bạn nói. Giáo viên phải là người động viên, khích lệ kịp thời để học sinh phấn khởi trong khi nói. - Giáo viên cần giúp học sinh thực hiện được việc giữ bình tĩnh, tự tin và chú ý đến thái độ của người nghe trong khi mình nói, biết lựa chọn và sử dụng đúng các nghi thức lời nói cũng như các từ ngữ, các kiểu câu khi nói. - Giáo viên cần giúp học sinh biết sử dụng ngữ điệu phù hợp khi nói, tránh lối nói như đọc thuộc lòng hoặc ngữ điệu thái quá. - Khi học sinh đang nói, giáo viên không nên ngắt lời các em một cách tuỳ tiện. Nếu cần uốn nắn giáo viên cũng cần tế nhị, nhẹ nhàng, nên để học sinh dứt lời thì mới sửa lỗi. Giáo viên không nên làm đứt mạch suy nghĩ hoặc tạo cho học sinh tâm lý e ngại vì sợ nói sai.
  8. 10 5. Giải pháp 5: Giáo viên cần chú ý sửa một số lỗi sai học sinh thường mắc phải khi nói. - Trong câu của học sinh có từ sai. Ví dụ: Trong bài 66 chủ đề luyện nói là: Đi lại trên biển học sinh thường sai khi nói “ Tàu đánh cá bay trên biển” Từ sai trong câu trên là “ Bay” với trường hợp này học sinh nên gọi học sinh khác nhận xét lỗi sai của bạn và cho học sinh nói sai sửa lại câu nói câu nói của mình. Trong câu này từ sai có thể được thay bằng từ “Chạy” hoặc “ Lướt”. - Câu nói của học sinh không đúng với chủ đề của đề bài. - Phần nói của học sinh mới chỉ là một từ hoặc một cụm từ. - Trong phần ôn vần học sinh cùng được luyện nói khi nói câu có vần vừa ôn, với một số vần có vần giống nhau về cách phát âm nhưng khác nhau về cách viết học sinh rất dễ nhầm lẫn khi tìn tiếng, từ, câu. 6. Giải pháp 6: Phát triển kĩ năng nói thông qua việc cho học sinh tham gia thi dẫn chương trình các cấp. Như chúng ta đã biết kỹ năng giao tiếp sẽ giúp học sinh dễ dàng kết nối với nhiều người xung quanh. Từ đó có thể tạo ra các mối quan hệ tốt có lợi cho các em ở cả hiện tại hay tương lai. Các em khi đã tự tin giao tiếp có thể thỏa sức thể hiện bản thân của mình. Cụ thể, khi tham gia thi MC các em sẽ được rèn luyện cách thể hiện thần thái tốt nhất, xóa bỏ sự tự ti, khơi dậy niềm yêu thích khi giao tiếp. Đây cũng là cơ hội để các em năng nổ hơn khi phát biểu trong học tập, được thầy cô đánh giá cao. Các em biết cách làm chủ chương trình, sử dụng ngôn từ linh hoạt và thành thạo hơn. Từ đó các em sẽ hoàn thiện bản thân, có được nhiều kỹ năng mềm về ứng xử, giao tiếp, ứng biến để nhanh đạt thành công. (Ảnh: Các em học sinh lớp 1E thi MC cấp Thành phố năm học 2024 -2025 - Có minh họa đính kèm) Trên đây là một số giải pháp mà tôi đã áp dụng vào việc dạy luyện nói cho học sinh lớp 1. Mặc dù chưa hết năm học, nhưng qua khảo sát học sinh và qua thực tế dạy và học trên lớp tôi thấy kết quả đã có sự chuyển biến rõ rệt và khả quan hơn rất nhiều so với đầu năm. III. 2. Tính mới, tính sáng tạo: Chương trình sách giáo khoa Tiếng Việt 1 mới có nhiều ưu việt tập trung rèn luyện 4 kỹ năng: Nghe - Nói - Đọc - Viết. Kiến thức được hình thành và cung cấp qua hoạt động giao tiếp tự nhiên của chính các em trong môi trường học tập và sinh hoạt hàng ngày trên lớp cũng như ở nhà. Muốn giao tiếp tốt cần rèn luyện kỹ năng nghe, nói cho học sinh. Bởi vậy chương trình Tiếng Việt 1 đã đưa phần luyện nói cho học sinh vào các bài học âm, vần trong khoảng thời gian 5- 7 phút. Đây là điểm ưu việt nổi trội nhất và cũng là nội dung hoàn toàn mới đối với giáo viên, học sinh.
  9. 11 Chương trình mới đã "mở" các hướng để học sinh được luyện nói nhiều trong giờ học với các hình thức theo phương châm: "Tích cực hoá hoạt động học tập của học sinh". Học sinh thao tác, trao đổi, tranh luận và đánh giá nhận xét về một đơn vị kiến thức của bài. Các em được nghe nhau nói, nói cho nhau nghe. Dạy luyện nói tốt là rèn đức tự tin, mạnh dạn và tự nhiên đồng thời bồi dưỡng tâm hồn vui tươi, dí dỏm và ứng xử có văn hoá, lịch sự, tạo nên môi trường thân thiện trong các mối quan hệ với bạn bè, thầy cô và mọi người trong cộng đồng. III.3. Phạm vi ảnh hưởng, khả năng áp dụng của sáng kiến Những giải pháp mà tôi đưa ra giúp cho mỗi GV có thể vận dụng để rèn kĩ năng nói cho học sinh lớp 1 trong trường và các trường khác. Đồng thời áp dụng ở các phân môn của Tiếng Việt và các môn học khác liên quan đến rèn kĩ năng nói cho HS. Thể hiện: - Việc phân loại kĩ năng nói của học sinh ngay từ đầu năm học là việc làm cần và đủ để đưa ra mức độ, phương pháp rèn kĩ năng nói cho mỗi học sinh. Vì vậy, bất kỳ giáo viên nào cũng thực hiện được nội dung này. - Dạy tiết Tiếng Việt theo quy trình đã được sách thiết kế thể hiện rất rõ, giáo viên nào cũng thuận lợi trong việc thực hiện. - Hiện nay, 100% GV các nhà trường đều được tiếp cận với Chương trình giáo dục mới, đều hiểu rõ việc dạy kĩ năng nói là cần thiết và đang được áp dụng đại trà tại các bậc học. - Mỗi giải pháp đưa ra trong sáng kiến đều mang tính khả thi cao, thuận lợi cả về kiến thức, hình thức tổ chức, phương pháp giảng dạy; giáo viên nào dạy lớp 1 hay bất cứ lớp nào cũng có thể áp dụng và mang lại hiệu quả tối ưu cho học sinh trong việc rèn kĩ năng nói cho học sinh. III.4. Hiệu quả, lợi ích thu được do áp dụng giải pháp. Sau một thời gian áp dụng những giải pháp nêu trên, tôi thấy kĩ năng nói của học sinh được nâng lên rõ rệt. Học sinh có kĩ năng nói tốt hơn, số em nói đủ to, rõ ràng, thành câu đã được tăng cao, số em nói không đủ to, chưa rõ ràng, không thành câu đã không còn. Học sinh tích cực hơn trong các hoạt động học tập, nhiều em đầu năm thiếu tự tin, học sinh yếu đã mạnh dạn trao đổi, tranh luận, đại diện cho nhóm trình bày kết quả thảo luận. Đa số các em đều tham gia trong hoạt động, học tập, vui chơi tích cực, sôi nổi. Với những giải pháp tôi đã áp dụng trên, cuối học kì 1 của năm học 2024 - 2025, học sinh lớp tôi rất tự tin và tích cực trong việc giao tiếp. Môi trường học tập thân thiện tạo điều kiện để các em phát huy khả năng nói của mình. Vì thế chất lượng giáo dục ngày một nâng cao. Kết quả cụ thể so với đầu năm như sau:
  10. 12 Sau khi áp dụng Trước khi áp dụng Mức Mức độ đạt được của biện pháp biện pháp chênh học sinh ( Số lượng HS - Tỉ ( Số lượng HS - Tỉ lệ) lệch lệ) Nói đủ to, rõ ràng, thành câu 18/40 28/40 Tăng (45,0%) (70%) 10 em Nói đủ to, rõ ràng, chưa thành 17/40 12/40 Giảm câu (42,5%) (30%) 5 em Nói không đủ to, chưa rõ 5/40 0 Giảm ràng, không thành câu (12,5%) (0%) 5 em Mặc dù để đánh giá kết quả luyện nói của học sinh thì không thể thống kê được hết nhưng tôi nhận thấy giáo viên đã biết chú ý, quan tâm đến nội dung luyện nói trong mỗi giờ học của môn Tiếng Việt, chọn lựa và đưa ra những phương pháp dạy học hợp lý, chất lượng nói (giao tiếp) của học sinh có khác biệt rõ rệt. Bản thân giáo viên không còn cảm thấy “ngại” khi dạy nội dung này trong các giờ học. Học sinh cũng không còn cảm thấy lúng túng mỗi khi được giáo viên yêu cầu nói về một vấn đề gì nữa mà ngược lại các em rất hào hứng, mong chờ được nói. Học sinh được tham gia giao tiếp trong mỗi tiết học nhiều hơn. Đặc biệt với nhiều em học sinh đầu năm rất nhút nhát, ít hoạt động trong các giờ học thì cuối học kỳ 1 đã tiến bộ hẳn. Đa số học sinh trong lớp có khả năng giao tiếp với mọi người xung quanh rất tốt. Các em nhận thức được cần phải lễ phép với người trên, phải xưng hô đúng cách, phải biết nói lời cảm ơn hay xin lỗi đúng chỗ, đúng nơi, đúng lúc. Trong các giờ học trên lớp, học sinh đã biết trả lời các câu hỏi của giáo viên với nội dung đầy đủ ý nghĩa, biết cách trả lời câu hỏi một cách rõ ràng, trả lời cả câu... Việc giao tiếp với bạn bè trong lớp cởi mở, tự tin hơn rất nhiều. Trong quá trình làm sáng kiến, có thể tôi vẫn còn những thiếu sót. Tôi rất mong nhận được sự góp ý của các cấp lãnh đạo, hội đồng thẩm định sáng kiến và bạn bè đồng nghiệp để sáng kiến của tôi được hoàn thiện hơn và được áp dụng rộng rãi vào thực tiễn./. Xin trân trọng cảm ơn! CƠ QUAN ĐƠN VỊ Thị Trấn, ngày 15 tháng 12 năm 2024 ÁP DỤNG SÁNG KIẾN Tác giả sáng kiến Tống Thị Huệ
  11. 13 MỤC LỤC Mục Nội dung Trang I THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN 1 Tên sáng kiến 1 2 Tác giả 1 II MÔ TẢ GIẢI PHÁP ĐÃ BIẾT 1 III NỘI DUNG ĐỀ NGHỊ CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN 2 III.1 Nội dung giải pháp đề nghị công nhận sáng kiến 2 1 Giải pháp 1: Tạo nhu cầu hội thoại và hoàn cảnh giao tiếp cho học sinh. 2 2 Giải pháp 2: Rèn kĩ năng nói cho học sinh qua phần Luyện nói. 3 3 Giải pháp 3: Sử dụng một số phương pháp dạy học tích cực vào dạy luyện nói trong môn Tiếng Việt. 5 4 Giải pháp 4: Nắm chắc các hoạt động khi tiến hành dạy Luyện nói cho học sinh lớp 1 9 5 Giải pháp 5: Giáo viên cần chú ý sửa một số lỗi sai học sinh thường mắc phải khi nói 10 6 Giải pháp 6: Phát triển kĩ năng nói thông qua việc cho học sinh tham gia thi dẫn chương trình các cấp 10 III. 2 Tính mới, tính sáng tạo 11 III.3 Phạm vi ảnh hưởng, khả năng áp dụng của sáng kiến 11 III.4 Hiệu quả, lợi ích thu được do áp dụng giải pháp 11