Mô tả Sáng kiến Một số giải pháp giúp học sinh phát triển năng lực giải toán có lời văn ở Lớp 4 theo Chương trình GDPT 2018
Bạn đang xem tài liệu "Mô tả Sáng kiến Một số giải pháp giúp học sinh phát triển năng lực giải toán có lời văn ở Lớp 4 theo Chương trình GDPT 2018", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
mo_ta_sang_kien_mot_so_giai_phap_giup_hoc_sinh_phat_trien_na.docx
Nội dung tài liệu: Mô tả Sáng kiến Một số giải pháp giúp học sinh phát triển năng lực giải toán có lời văn ở Lớp 4 theo Chương trình GDPT 2018
- Qua kết quả trên, chúng tôi nhận thấy tỉ lệ học sinh nắm được cách giải bài toán có lời văn chưa cao. Học sinh còn lúng túng khi đứng trước một bài toán, một số học sinh sử dụng câu lời giải chưa thống nhất với phép tính hoặc ghi danh số chưa đúng. Có thể các em giải “mò” và tìm ra được kết quả nhưng lời giải thiếu chính xác, khi được giáo viên hỏi lại để khắc sâu kiến thức thì các em còn lúng túng và chưa mạnh dạn, tự tin để trả lời. *Ưu điểm: - Khá nhiều học sinh đã nắm được các dạng toán và có kĩ năng giải các dạng toán đã học. - Đa số học sinh biết tính toán, trình bày bài giải rõ ràng sạch đẹp. - Biết lựa chọn câu lời giải phù hợp với phép tính của bài toán, thấy được ý nghĩa thực tiễn của giải toán trong cuộc sống hằng ngày. *Tồn tại: - Một số em chưa nắm chắc các quy tắc, công thức, cách làm của từng dạng toán, còn nhầm lẫn giữa các dạng toán. - Một số học sinh kĩ năng tóm tắt bài toán còn hạn chế, chưa có thói quen đọc và tìm hiểu kĩ bài toán, dẫn tới thường nhầm lẫn giữa các dạng toán, lựa chọn phép tính còn sai, chưa bám sát vào yêu cầu bài toán để tìm lời giải thích hợp với các phép tính. - Bên cạnh đó, một số học sinh cơ bản biết cách giải toán song quá trình thao tác có những sai sót (lỗi về kỹ thuật tính toán) nên kết quả chưa cao. 3
- - Một số em tiếp thu bài một cách thụ động, ghi nhớ bài còn máy móc nên quên cách giải. - Một số em còn nhút nhát, chưa tự tin ở mình, còn sợ sai và không tin tưởng vào bài làm của chính mình. Để góp phần khắc phục những tồn tại nêu trên, chúng tôi đã lựa chọn đề tài nghiên cứu: “Một số biện pháp giúp học sinh phát triển năng lực giải toán có lời văn ở lớp 4 theo Chương trình GDPT 2018”. III. NỘI DUNG ĐỀ NGHỊ CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN: III.1. Nội dung giải pháp đề nghị công nhận sáng kiến: Giải pháp 1. Khảo sát chất lượng học sinh, phân loại đối tượng ngay từ đầu năm. Muốn học sinh giải toán có lời văn tốt, trước hết chúng tôi tìm hiểu rõ tình trạng của học sinh lớp mình như thế nào? Học sinh yếu ở những mặt nào? Mức độ yếu của học sinh ra sao? Do đó, ngay đầu năm học,chúng tôi tiến hành điều tra, khảo sát, đàm thoại với các em. Từ kết quả khảo sát chúng tôi đã tìm ra được các nguyên nhân ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng giải các bài toán ở dạng toán có lời văn: - Nhận thức của HS không đồng đều. - Việc xác định đề toán của các em chưa thành thạo chưa biết phân tích, tóm tắt bài toán,... - Một số em còn chủ quan, chưa đọc kĩ đầu bài, chưa hiểu bản chất bài toán, chưa hiểu được các thuật ngữ của bài hoặc các em còn hiểu lơ mơ về đề toán, vừa làm vừa nhìn vào đề toán để giải. - Vốn Tiếng Việt của một số em còn hạn chế nên nhiều khi việc hiểu nghĩa của từ trong toán học đối với các em là rất khó, dẫn đến học sinh trả lời không chính xác. Một số đề toán dài, tốc độ đọc của học sinh còn chậm. Từ đó nắm bắt được tình hình thực tế và có các biện pháp khắc phục kịp thời, phù hợp. Giải pháp 2. Dạy học sinh phân tích đề toán, xác lập mối quan hệ giữa các yếu tố. Hướng dẫn thật kĩ 5 bước giải một bài toán. - Trước khi giải bài toán, học sinh phải đọc kỹ (ít nhất 2,3 lần), hiểu rõ đề toán và biết phân tích đề toán ( bài toán cho biết gì, bài toán hỏi gì ?). Khi đọc bài toán phải hiểu thật kỹ một số từ khóa, thuật ngữ quan trọng chỉ rõ tình huống toán học được diễn đạt theo ngôn ngữ thông thường, chẳng hạn “gấp” kém” , “một nửa”, “ gấp rưỡi”, “ bớt đi” ,“ giảm đi” “ nhẹ hơn- nặng hơn; “ đắt hơn- rẻ hơn”; dài hơn- ngắn hơn” .Nếu trong bài toán nào có thuật ngữ học sinh chưa rõ thì giáo viên cần hướng dẫn để học sinh hiểu được nội dung và ý nghĩa của từ đó 4
- trong bài toán đang làm; phải tóm tắt được bài toán. Vì vậy khi dạy bước 1 giải toán có lời văn người giáo viên phải bắt buộc học sinh thực hiện tốt các việc sau: Việc 1: Đọc kỹ đầu bài: nắm được ý nghĩa và nội dung của bài, có thể nêu tóm tắt lại nội dung của bài toán. (Có thể gạch chân các “từ khoá” quan trọng) Việc 2: Xác định yếu tố cơ bản của bài toán: Dữ kiện, ẩn số, điều kiện. Chẳng hạn khi dạy dạng toán: “Tìm hai số khi biết tổng và hiệu của hai số đó”. Ví dụ: Bài toán: “Tớ (Mai) có 25 cái kẹo, tớ (Mai) muốn chia thành hai phần, tớ(Mai) một phần và Mi một phần hơn phần của tớ 5 cái kẹo. Rô – bốt giúp tớ với!( SGK Toán 4/86 Sách kết nối tri thức)” là một trong những bài toán thường gặp trong quá trình dạy học giải bài toán có lời văn ở tiểu học. Trong toán 4 thuộc dạng toán “Tổng là 25. Hiệu của hai phần là 5. Tìm hai phần đó.” *Cách hướng dẫn như sau: Bước 1: Yêu cầu học sinh đọc kĩ đề, tìm hiểu yêu cầu của bài toán ( gạch chân dưới tổng của hai số, hiệu của hai số) Bước 2: Tóm tắt bài toán (bằng lời hoặc sơ đồ đoạn thẳng) Bước 3: Phân tích – lập kế hoạch giải - Bài toán cho biết gì? Bài toán hỏi gì? - Nhìn vào sơ đồ nếu Mi không nhiều hơn Mai 5 cái kẹo thì hai lần số keo của Mai sẽ bằng bao nhiêu? Muốn tìm số kẹo của Mai ta sẽ làm như thế nào? Từ đó sẽ tìm được số kẹo của Mi. Vì thế dẫn đến cách giải thứ nhất: số bé = (tổng - hiệu): 2 - Nhìn vào sơ đồ nếu số kẹo của Mai mà bằng số kẹo của Mi thì hai lần số keo của Mi sẽ bằng bao nhiêu? Muốn tìm số kẹo của Mi ta làm thế nào? Muốn tìm số kẹo của Mai ta làm gì? Từ đó sẽ cho ta cách giải thứ hai: số lớn = (tổng + hiệu): 2 Học sinh có thể giải bằng một trong hai cách trên Bước 4: Thống nhất cách giải. Bước 5: Thử lại. *Lưu ý HS khi giải dạng toán này: - Khi giải bài toán thuộc dạng trên, trước khi giải nhất thiết phải biết được tổng hai số và hiệu hai số đó. Tổng ( hiệu) có thể được biểu thị dưới nhiều dạng khác nhau hoặc đề bài giấu một trong hai yếu tố của bài toán hoặc giấu cả hai. Khi đó bắt buộc các em phải tìm được tổng và hiệu của hai số rồi mới áp dụng công thức để tìm. Không bắt buộc phải vẽ sơ đồ vào bài giải . Chẳng hạn khi dạy dạng toán: Tìm số trung bình cộng Ví dụ: Hôm qua tớ (Mai) tập thể dục 10 phút. Hôm nay tớ (Mai) tập 50 phút để bù cho hôm qua. Trung bình mỗi ngày Mai tập thể dục bao nhiêu phút? 5
- (SGK Toán 4 trang 29 tập 2 sách Kết nối) Cách hướng dẫn Bước 1: Yêu cầu học sinh đọc kĩ đề bài, tìm hiểu yêu cầu của bài toán (đọc ít nhất 2 – 3 lần), chỉ rõ được các yếu tố: Dữ kiện: Hôm qua tập 10 phút, hôm nay tập 50 phút để bù cho hôm qua. Điều kiện: Tập đều đặn mỗi ngày 30 phút. Sau khi học sinh nắm chắc bước 1 các em sẽ dễ dàng minh họa được yêu cầu bài toán qua bước 2 Bước 2: Tóm tắt bài toán. Bước 3: Phân tích – lập kế hoạch giải: + Nhận xét: ( 10 + 50) : 2 = 30 Ta gọi 30 là số trung bình cộng của hai số 10 và 50. Vậy muốn tìm số trung bình cộng của hai số 10 và 50 ta làm như thế nào? - Yêu cầu HS nhắc lại cách làm nhiều lần. - Sau đó cho học sinh tìm số trung bình cộng của ba số 13,14 và 18. - Học sinh nêu cách làm. Bước 4: Thống nhất cách trình bày bài giải . Bước 5: Thử lại. Với dạng toán: Bài toán liên quan đến rút về đơn vị Nội dung được giới thiệu thông qua bài toán: “Có 36 cái bánh xếp đều vào 6 hộp. Hỏi 4 hộp bánh như vậy có bao nhiêu cái bánh?/ SGK trang 31( Sách “Kết nối tri thức với cuộc sống”) *Hướng dẫn: Yêu cầu học sinh đọc kĩ bài toán, xác định dạng toán, gạch chân vào đề bài, tóm tắt bài toán bằng trực quan hoặc bằng lời . Chẳng hạn với bài toán trên tóm tắt như sau : 6 hộp : 36 cái bánh 4 hộp : ? cái bánh Từ cách tóm tắt trên cho học sinh trao đổi, thảo luận để tìm ra số cái bánh trong một hộp( rút về đơn vị ).Từ đó tìm được số bánh trong 4 hộp. Vận dụng kiến thức này các em sẽ giải được các bài toán gắn với thực tế, chẳng hạn: “Xếp đều 60 quả trứng vào 6 khay. Hỏi 4 khay trứng như vậy có bao nhiêu quả ?SGK trang 31( Sách “Kết nối tri thức với cuộc sống”) * Lưu ý với học sinh khi làm dạng toán này: Khi giải bài toán liên quan đến rút về đơn vị thường có hai bước giải trở lên; bước giải thứ nhất thường rút về đơn vị, bước giải thứ hai tìm số lần đơn vị theo yêu cầu của bài toán. GV lưu ý HS cần đọc kĩ đề, xác định các từ khóa của bài toán để xác định cho các bước giải. Sau khi học sinh luyện tập thành thạo 5 6
- bước, tôi rèn cho học sinh có thói quen làm tiếp một bước nữa đó là khai thác và phát triển bài toán.Từ bài toán này có thể đặt ra các bài toán khác như thế nào? Trong khi cố gắng tìm ra các cách giải khác nhau, học sinh sẽ lựa chọn được cách giải hay hơn và tích luỹ thêm được nhiều kinh nghiệm để giải toán. Để hình thành cho học sinh có kĩ năng, kĩ xảo “giải toán có lời văn” theo 5 bước trên, đòi hỏi người giáo viên phải thực hiện thường xuyên, liên tục và thường xuyên kiểm tra theo dõi quá trình làm bài của học sinh. Giải pháp 3. Dạy học sinh thói quen dùng sơ đồ đoạn thẳng tóm tắt bài toán. Thông qua sơ đồ đoạn thẳng, học sinh dễ thấy toàn bộ bài toán bao gồm: cái đã cho, cái cần tìm. Nhìn vào sơ đồ tóm tắt bằng đoạn thẳng, việc tìm lời giải cho bài toán sẽ dễ dàng hơn. Để giải một bài toán cần qua bốn bước thì ngay khi ghi tóm tắt bài toán bằng sơ đồ đoạn thẳng, giáo viên đã hướng dẫn học sinh thực hiện hai bước đầu. Đó là: đọc phân tích đề bài và thiết lập mối quan hệ giữa các yếu tố trong bài toán. Trước một bài toán có thể tóm tắt bằng sơ đồ đoạn thẳng thì giáo viên cần hướng dẫn ngay học sinh sử dụng sơ đồ đoạn thẳng tóm tắt. Đó chính là công việc đầu tiên GV cần tính đến. Muốn vậy GV cần xây dựng thói quen dùng sơ đồ đoạn thẳng trong dạng toán có thể sử dụng, học sinh cần được rèn luyện thường xuyên. Chẳng hạn khi dạy dạng toán: Giải bài toán có ba bước tính. Ví dụ (Bài 1/20 Sách toán 4 Tập 1): Đàn vịt nhà bác Đào có 1 200 con. Đàn vịt nhà bác Mận có ít hơn đàn vịt nhà bác Đào 300 con. Đàn vịt nhà bác Cúc có nhiều hơn đàn vịt nhà bác Đào 500 con. Hỏi số vịt của nhà bác Đào, bác Mận và bác Cúc có tất cả bao nhiêu con?Cách hướng dẫn: Bước 1: Yêu cầu học sinh đọc kĩ đề bài, tìm hiểu yêu cầu của bài toán, chỉ rõ: Đàn vịt nhà Bác Đào nhiêu con? Số vịt nhà bác Cúc, bác Mận đã biết chưa? Để tìm được số vịt nhà bác Đào, bác Mận và bác Cúc ta phải biết số con vịt nhà bác nào? Bước 2: Tóm tắt bài toán theo sơ đồ đoạn thẳng: Theo bài ra ta có sơ đồ: 1200 con Số vịt nhà bác Đào 300 con Số vịt nhà bác Mận ? con Số vịt nhà bác Cúc 500 con Bước 3: Phân tích - lập kế hoạch giải + Bài toán cho biết gì? Bài toán hỏi gì? 7
- + Muốn tính số cây của ba đội trồng được, ta phải biết thêm số cây của đội nào? Nêu cách tính số cây đội Hai, đội Ba trồng được. - Yêu cầu HS giải bài toán, trao đổi thống nhất kết quả trong nhóm, báo cáo chia sẻ về cách làm. Bước 4: Thống nhất cách trình bày bài giải. Bước 5: Đánh giá kết quả bài giải hoặc thử lại *Khi hướng dẫn học sinh tóm tắt bài toán bằng sơ đồ đoạn thẳng thì giáo viên cần hướng dẫn học sinh: + Dạy học sinh cách ước lượng đoạn thẳng: Trong quá trình học sinh dùng sơ đồ đoạn thẳng để tóm tắt bài toán nhiều học sinh chưa biết ước lượng độ dài đoạn thẳng như thế nào cho phù hợp mà việc biểu thị tương quan giữa các đại lượng sẽ giúp học sinh giải bài toán. Do vậy, giáo viên cần giúp học sinh chú ý tới các con số, các đại lượng trong bài. Nếu số lượng lớn trong chênh lệch yếu tố thể hiện, cần thu nhỏ đoạn thẳng “mẫu” và ngược lại. Sự tương quan giữa các yếu tố phải hợp lí. + Dạy học sinh biết sắp xếp các đoạn thẳng: Việc sắp xếp các đoạn thẳng cũng cần được quan tâm. Thứ nhất nó giúp học sinh dễ so sánh, thuận mắt, tạo sự khoa học trong cách trình bày. Thứ hai, sự sắp xếp các đoạn thẳng còn giúp thể hiện mối quan hệ nhiều mặt của đối tượng này với đối tượng khác. Chính sự sắp xếp hợp lí giúp học sinh tìm lời giải dễ dàng hơn. + Dạy học sinh biết chọn yếu tố làm chuẩn. Một vấn đề nảy sinh khi học sinh giải bài toán bằng phương pháp dùng sơ đồ đoạn thẳng là chọn yếu tố nào làm chuẩn để biểu thị cho thuận lợi nhất. Một số bài toán thì rơi vào trường hợp chọn yếu tố nào làm chuẩn cũng được. Song cũng có không ít bài toán, buộc học sinh phải lựa chọn yếu tố làm chuẩn sao cho hợp lí. - Khi hướng dẫn học sinh phân tích đề toán cần cho học sinh trao đổi với nhau xem yếu tố nào có quan hệ đồng thời với các yếu tố còn lại sẽ chọn yếu tố đó làm chuẩn. Ví dụ : Bài 2 trang 20: Một thùng nước mắm có 120 l. Lần đầu bán được 25 l nước mắm, lần thứ hai bán được gấp đôi số lít nước mắm ở lần đầu, lần thứ ba bán được 35 l nước mắm. Hỏi trong thùng còn lại bao nhiêu lít nước mắm? Ta có thể chọn số thứ nhất hoặc số thứ hai làm chuẩn đều được. + Coi số lít nước mắm ngày đầu bán được là một đoạn thẳng quy ước thì số lít nước mắm ngày thứ hai sẽ là một đoạn thẳng gồm 2 phần như thế. 8
- Ta tóm tắt như sau: 25l 35l ?l 120 l + Dạy học sinh biết dựa vào vào hình vẽ để tìm cách giải. Các công đoạn dạy học sinh thói quen sử dụng sơ đồ đoạn thẳng để giải bài toán, ước lượng đoạn thẳng, sắp xếp và chọn yếu tố làm chuẩn đều là công cụ giúp học sinh có căn cứ tư duy tìm bước giải bài toán. Chẳng hạn với bài toán: (Bài 4/20 – SGK Toán 4 tập 1) Đặt đề toán theo tóm tắt sau rồi giải: Đặt đề toán theo tóm tắt sau rồi giải. Nhìn vào sơ đồ, ta biết được: Bài toán cho biết gì, bài toán hỏi gì. Muốn tính tất cả có bao nhiêu quả, ta phải biết số quả nào? Từ đó học sinh đặt đề toán rồi giải. Bằng sơ đồ đoạn thẳng ta có thể tóm tắt bài toán, ý tứ trong câu chữ lôgíc của kiến thức toán học được cụ thể bằng sơ đồ đoạn thẳng. Nhưng cao hơn, dựa vào sơ đồ tóm tắt đoạn thẳng học sinh có thể phát hiện cách giải bài toán. Những cái “nút”của bài toán dần dần được mở nhờ những phát hiện dấu hiệu đảm bảo trong hình vẽ. Đến đây, ta lại thấy sơ đồ đoạn thẳng giúp học sinh làm được bước thứ ba là sắp xếp các bước giải. Thực hiện xong ba bước đầu là thực hiện được 80% bài toán. Giải pháp 4. Hướng dẫn học sinh tìm các từ khóa, thuật ngữ của bài toán và dựa vào các từ khóa, thuật ngữ để phân biệt dạng toán trước khi giải. Với những bài toán cho ẩn đi một trong hai yếu tố nếu HS không đọc kĩ đề bài thì rất dễ bị nhầm lẫn giữa dạng toán này với dạng toán khác. Khi gặp những bài toán này, chúng tôi hướng dẫn học sinh phải dựa vào từ khóa để xác định dạng toán. Ví dụ: Trung bình cộng chiều dài, chiều rộng của một mảnh ruộng hình chữ nhật là 78m. Biết chiều rộng kém chiều dài 26m. Tính diện tích thửa ruộng? Với bài toán này HS dễ nhầm sang dạng toán trung bình cộng mà không hiểu bài toán cho TBC tức là đã ẩn yếu tố tổng của hai số nên không xác định 9
- đúng dạng toán , dẫn đến tìm cách giải thiếu chính xác. Hoặc bài toán: “Lớp 4 A có 4 tổ, mỗi tổ có 9 học sinh. Tìm số học sinh nam , số học sinh nữ của lớp 4A, biết rằng số học sinh nữ kém số học sinh nam 2 học sinh”. Với bài toán này ẩn tổng, phải đi tìm tổng số học sinh của lớp 4A. Với các trường hợp trên chúng tôi lưu ý học sinh: gặp bài toán mà cho biết TBC của hai số hoặc cho biết chu vi của một hình thì yếu tố tổng đã bị ẩn đi vì thế phải đi tìm tổng của hai số trước khi làm. Ngoài ra cũng có một số bài toán về tìm hai số khi biết tổng (hiệu) khi cho các từ khóa là “bớt đi một số đơn vị thì được số bé”, “thêm vào một số đơn vị thì được số lớn”, , thuật ngữ nhẹ hơn - nặng hơn, ngắn hơn - dài hơn, rẻ hơn - đắt hơn học sinh cũng rất dễ lẫn, không xác định đúng hiệu của hai số. Học sinh phải đọc kĩ bài toán, gạch chân dưới từ khóa đó, cùng thảo luận để hiểu được ý nghĩa của các từ khóa. Từ đó các em sẽ chỉ ra được hiệu đúng của hai số. Giải pháp 5. Vận dụng linh hoạt các phương pháp dạy học; Ứng dụng CNTT vào bài dạy một cách phù hợp. - Chúng tôi đã thường xuyên vận dụng linh hoạt các phương pháp và hình thức dạy học tích cực vào từng dạng toán khi dạy như: + Khởi động qua các trò chơi, qua các bài hát tạo hứng thú cho tiết học. + Phương pháp trò chơi vào đầu hoặc cuối giờ học (chẳng hạn; Trò chơi Ai nhanh, Ai đúng? Tiếp sức; Em làm giám khảo; Ô số may mắn; Ai thông minh hơn để ôn kiến thức cũ đồng thời tạo hứng thú và không khí sôi nổi trước khi vào học). + Phương pháp nêu vấn đề, Phương pháp gợi mở, quan sát cùng hỏi đáp. + Phương pháp thảo luận nhóm, chia sẻ bài trước lớp. + Phương pháp luyện tập thực hành. Bên cạnh đó với mỗi bài dạy chúng tôi đều ứng dụng công nghệ thông tin ở các hoạt động đặc biệt là hoạt động khám phá của tất cả các dạng toán có lời văn ở lớp 4: Đưa VD minh họa, các kiến thức cần chốt của mỗi dạng bằng sơ đồ tư duy giúp học sinh dễ ghi nhớ kiến thức của bài,... - Trong năm học 2024-2025, việc sử dụng trí tuệ nhân tạo AI vào dạy học đã được PGD&ĐT huyện Vĩnh Bảo triển khai sâu rộng đến mọi nhà trường, mọi giáo viên góp phần kích thích sự khám phá, tạo tình huống thực tế, khơi gợi trí tò mò...cho học sinh, giúp các em thấy môn Toán không còn khô khan, nhàm chán, từ đó sẽ giúp các em yêu thích môn Toán hơn và như vậy hiệu quả học tập sẽ được nâng cao. 10
- Để thực hiện tốt Chương trình GDPT 2018 thì việc ứng dụng CNTT, đặc biệt là sử dụng AI vào dạy - học đã được chúng tôi lựa chọn và áp dụng hợp lí trong các tiết học giúp học sinh hứng thú học tập hơn, tiếp thu bài tốt hơn. Giải pháp 6. Chú trọng dạy học phân hóa đối tượng học sinh và thường xuyên kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh. Với kinh nghiệm dạy được tích lũy trong nhiều năm chúng tôi thấy rằng một trong các giải pháp để nâng cao năng lực giải toán cho học sinh đó là Dạy học phân hóa đối tượng học sinh, thường xuyên kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh. - Khi lập kế hoạch dạy học tôi thiết kế những câu hỏi, gợi ý, bài tập từ dễ đến khó phù hợp từng đối tượng học sinh của lớp mình. Trên lớp chú ý tạo điều kiện để các em còn nhút nhát, thiếu tự tin về giải toán được bộc lộ, tương tác nhiều hơn bằng các hình thức hỏi đáp, thảo luận nhóm, chia sẻ bài, đôi bạn cùng tiến ( phân công bạn học tốt kèm bạn học yếu), nhóm bạn học tập ( xây dựng các nhóm học tập thường xuyên trao đổi chia sẻ về bài học sau mỗi dạng toán. Sao cho trong tiết học, học sinh nào cũng được hoạt động và học sinh trong lớp, trong nhóm nhận xét đánh giá cho nhau. - Dành thời gian để kèm cặp riêng những em còn hạn chế, hướng dẫn, động viên kịp thời, luyện tập nhiều hơn tăng dần mức độ. - Phối kết hợp chặt chẽ với PHHS, để phụ huynh có thể kèm cặp con em mình thêm ở nhà. - Luôn coi trọng việc kiểm tra đánh giá thường xuyên và định kì về kết quả học tập của HS, phân loại HS theo trình độ để tự điều chỉnh về mục tiêu đối với từng bài dạy cụ thể cho phù hợp. Sau khi dạy xong mỗi dạng toán, tôi tự ra đề khảo sát chất lượng học sinh để kiểm tra xem các em tiếp thu kiến thức đã học như thế nào để có biện pháp điều chỉnh kịp thời. III. 2. Tính mới, tính sáng tạo: - Dạy các dạng toán với việc đổi mới PPDH, vận dụng linh hoạt các hình thức, sử dụng đồ dùng trực quan kết hợp với việc thiết kế giáo án điện tử trên phần mềm PowerPoint và công nghệ AI để trình chiếu cho học sinh quan sát và hệ thống câu hỏi gọn, rõ giúp học sinh tích cực, chủ động trong việc phát hiện, hình thành kiến thức mới trên nền tảng kiến thức cũ. - Vận dụng phương dạy học phát huy tính tích cực của học sinh như thảo luận nhóm, chia sẻ tương tác trong nhóm, trước lớp kết hợp phương pháp quan sát và hỏi đáp - Khắc phục được những hạn chế sai lầm mà học sinh thường mắc trong quá trình giải các bài toán có lời văn ở lớp 4, 5. 11
- - Rút ngắn được thời gian làm bài, HS có kĩ năng trình bày bài khoa học hơn, kĩ năng làm bài tốt hơn. - Hình thành cho các em thói quen đọc và phân tích bài toán, làm bài cẩn thận,giúp các em có tư duy lôgic, học cách ghi nhớ để nhớ lâu kiến thức. - Học sinh tích cực, chủ động suy nghĩ tìm ra được nhiều cách giải cho bài toán. - Học sinh nắm chắc đặc điểm từng dạng toán, các bước giải và cách trình bày bài giải. - Học sinh nắm vững kiến thức khi giải các bài toán có lời văn. Từ đó giúp các em tự tin, mạnh dạn lên rất nhiều. - Tạo hứng thú say mê học tập đối với HS hơn. - Dạy học phân hóa học sinh, tăng cường dạy học cá nhân, quan tâm đến mọi đối tượng học sinh tạo cho HS tự giác, bổ sung , phát huy được các mặt mạnh, ưu điểm của bản thân. - Học sinh được làm việc, được thầy đánh giá, bạn đánh giá và tự đánh giá bản thân. - Góp phần phát triển các năng lực và phẩm chất cần đạt cho HS theo chương trình GDPT 2018. - Giải các bài toán theo nhiều cách khác nhau một cách sáng tạo, phát triển năng lực chung theo định hướng chuyên sâu, riêng biệt, giúp các em mở rộng và phát huy bản thân mình nhiều hơn. - HS có kỹ năng giao tiếp, hợp tác, tự chủ và tự học. - Phát triển năng lực tính toán, năng lực ngôn ngữ, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo. - Hình thành và phát triển cho học sinh các phẩm chất :chăm chỉ, trung thực, trách nhiệm, yêu thích môn học, vận dụng tối đa khả năng của mình vào thực tiễn.. - Giúp giáo viên có thêm một vài kinh nghiệm và dạy tốt các bài toán có lời văn cho học sinh lớp 4 đáp ứng được chương trình GDPT 2018. III.3. Phạm vi ảnh hưởng, khả năng áp dụng của sáng kiến - Các giải pháp mà chúng tôi đưa ra có thể áp dụng rộng rãi đối với các khối lớp trong các trường Tiểu học. - Đề tài dễ áp dụng, dễ thực hiện bởi các biện pháp đề ra không quá khó đối với giáo viên. Áp dụng các giải pháp nói trên, học sinh đã có những tiến bộ rõ rệt trong giải toán có lời văn, các em đều có thói quen và kĩ năng phân tích bài toán, hiểu và phân biệt được các dạng toán, vận dụng và giải tương đối tốt các dạng 12
- toán đó tạo cho các em niềm say mê, hứng thú trong học tập, góp phần làm cho kết quả khảo sát môn Toán lớp chúng tôi đạt được hiệu quả như mong muốn. - Sau khi áp dụng các giải pháp vào các hoạt động dạy học chúng tôi thấy học sinh đã có những tiến bộ rõ rệt trong giải toán có lời văn, hầu hết các em đều có thói quen và kĩ năng phân tích bài toán, hiểu và phân biệt được các dạng toán đã học qua các từ khóa trong bài, vận dụng và giải tốt các dạng toán đó tạo cho các em niềm say mê, hứng thú trong học tập. - Học sinh tích cực, chủ động suy nghĩ tìm ra được nhiều cách giải cho một bài toán có lời văn, từ đó giúp các em tự tin, mạnh dạn góp phần phát triển năng lực ngôn ngữ. - Trong tiết dạy có vận dụng linh hoạt nhiều hình thức kết hợp đối mới phương pháp, sử dụng đồ dùng dạy học hợp lý không mất nhiều thời gian, học sinh trật tự, chủ động học tập và vận dụng thực hành tốt, hiệu quả tiết dạy cao. - Vận dụng các PPDH tích cực cùng với các hình thức tổ chức dạy học, xử lí tình huống thật mềm dẻo, linh hoạt, can thiệp, hỗ trợ học sinh đúng lúc, kịp thời. - Hướng dẫn học sinh giải toán có lời văn ở lớp 4 sẽ giúp học sinh hứng thú trong học tập, phát huy tính tích cực của học sinh, khả năng sáng tạo của giáo viên, giúp học sinh tiếp thu bài nhanh, nắm chắc kiến thức bài học qua đó giúp các em phát triển được năng lực, phẩm chất của minh. - Đối với những em học quá yếu phần giải toán sẽ mất nhiều thời gian để hướng dẫn hơn, chính vì thế GV cần làm thật tốt khâu chuẩn bị cũng như việc sử dụng đồ dùng dạy học, ứng dụng công nghệ thông tin thật linh hoạt, hiệu quả, tránh lạm dụng trình chiếu. III.4. Hiệu quả, lợi ích thu được do áp dụng giải pháp. Sau thời gian ngắn áp dụng các giải pháp trên trong năm học 2024 -2025, có sự đối chiếu ở 2 thời điểm trước khi áp dụng với sau khi áp dụng giải pháp, chúng tôi đã thu được những kết quả tích cực qua khảo sát học sinh, cụ thể: 13

