Mô tả Sáng kiến Một số giải pháp giúp học học sinh Lớp 5 học tốt văn miêu tả theo hướng tiếp cận Chương trình GDPT 2018

doc 13 trang Chăm Nguyễn 27/12/2025 110
Bạn đang xem tài liệu "Mô tả Sáng kiến Một số giải pháp giúp học học sinh Lớp 5 học tốt văn miêu tả theo hướng tiếp cận Chương trình GDPT 2018", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docmo_ta_sang_kien_mot_so_giai_phap_giup_hoc_hoc_sinh_lop_5_hoc.doc

Nội dung tài liệu: Mô tả Sáng kiến Một số giải pháp giúp học học sinh Lớp 5 học tốt văn miêu tả theo hướng tiếp cận Chương trình GDPT 2018

  1. - Việc sử dụng CNTT vào giảng dạy văn miêu tả cho học sinh đã nâng cao hiệu quả học tập của học sinh. Học sinh viết văn giàu hình ảnh, sáng tạo, có vốn từ phong phú,các em sẽ tự tin trong giao tiếp đây là yếu tố quyết định đến sự thành công trong cuộc sống. Giáo dục học sinh thêm yêu thích môn Tập làm văn và góp phần vào việc giữ gìn sự trong sáng của Tiếng việt. - Bồi dưỡng và nâng cao trình độ nghiệp vụ, khả năng nghiên cứu của bản thân nhằm phục vụ cho công tác chuyên môn. Nâng cao khả năng ứng dụng CNTT cho giáo viên. * Những tồn tại, bất cập: - Giáo viên chuẩn bị tư liệu cho tiết dạy ứng dụng CNTT như hình ảnh, clip... mất nhiều thời gian. - Cơ sở vật chất, trang thiết bị của nhà trường cũng hạn hẹp, chưa đủ để phục vụ cho các lớp. Giáo viên vẫn phải chuyển máy tính, máy chiếu từ lớp này đến lớp khác. - Trong quá trình giảng dạy có sự trục trặc về kĩ thuật như mất điện, hỏng máy, đường truyền kém cũng ảnh hưởng tới giờ dạy. - Nếu lạm dụng CNTT học sinh sẽ tiếp thu bài thụ động hoặc không hiệu quả bởi vì học sinh mải chú ý vào các hình ảnh mà quên mất xác định mục tiêu chính của bài học. - Xuất phát từ những ưu điểm và hạn chế của giải pháp, để khắc phục những hạn chế đó, góp phần nâng cao hiệu quả giờ dạy vì vậy mà khi dạy thể loại văn miêu tả cho học sinh lớp 5 nếu sử dụng các tệp có định dạng Flash và Video clip có nội dung phù hợp vào bài dạy thay cho quan sát các hình ảnh tĩnh trong SGK hỗ trợ các em rất nhiều để nhớ lại các hình ảnh quan sát được trong thực tế. Coi đó là nguồn cung cấp thông tin; giúp các em tìm hiểu về hình dáng, đặc điểm nổi bật của cảnh, của người .Việc ứng dụng công nghệ thông tin vào bài giảng sẽ giúp các em viết văn miêu tả đặc biệt là tả cảnh được tốt hơn. Xuất phát từ lí do trên tôi đề xuất một số biện pháp:“ Một số giải pháp giúp học học sinh lóp 5 học tốt văn miêu tả theo hướng tiếp cận Chương trình GDPT 2018..” III. NỘI DUNG GIẢI PHÁP ĐỀ NGHỊ CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN III.1. Nội dung giải pháp đề nghị công nhận sáng kiến: 3
  2. Là một giáo viên đứng lớp, bản thân tôi luôn trăn trở với suy nghĩ làm thế nào để giờ dạy của mình thu hút được sự chú ý của học sinh, làm thế nào để tiết học sinh động hấp dẫn? Và sự xuất hiện của công nghệ thông tin đã giúp tôi tháo gỡ những băn khoăn này. Trên cơ sở đó, tôi mạnh dạn đưa ra các giải pháp mà mình đã áp dụng: 1. Giải pháp 1: Hướng dẫn học sinh quan sát bằng tệp có định dạng FLASH và VIDEO CLIP và cách ghi chép: - Trong văn miêu tả, quan sát rất quan trọng.Trước khi làm bài văn miêu tả, học sinh được giáo viên giao nhiệm vụ quan sát, kết hợp ghi chép kết quả một cách cụ thể. Học sinh cần xác định: Quan sát ai? Quan sát cảnh gì? Vào thời điểm nào? ở đâu? Nội dung cần quan sát những gì? Cách quan sát thế nào? - Việc tổ chức cho học sinh quan sát, tích lũy tư liệu để làm một bài văn vô cùng quan trọng. Học sinh cần được trực tiếp tiếp xúc với đối tượng, được hướng dẫn tỉ mỉ về cách quan sát, quan sát bằng nhiều giác quan khác nhau: Mắt nhìn thấy gì? Tai nghe thấy gì? Mũi ngửi thấy mùi gì? Từ cơ quan xúc giác hay vị giác, em cảm nhận được điều gì? Từ đó học sinh mới có thể làm bài văn đúng thực tế tự nhiên và chân thực. Quan sát giúp ta nhiều hiểu biết cụ thể, sâu sắc. - Ngoài việc quan sát đối tượng miêu tả trong thực tế, giáo viên cho HS quan sát bằng tệp có định dạng FLASH và VIDEO CLIP từ đó giúp cho học sinh có thể lựa chọn được chi tiết miêu tả tốt nhất. - Như khi dạy bài miêu tả về cánh đồng lúa, ngoài việc giao nhiệm vụ các em về quan sát thực tế thì giáo viên có thể cho học sinh quan sát Clip ghi lại hình ảnh về cánh đồng lúa ở các thời kì khác nhau. Chẳng hạn lúc lúa con gái, lúc lúa đã chín, .hoặc cánh đồng vào buổi sáng, cánh đồng vào buổi chiều, ..Hay khi dạy bài văn miêu tả về người lao động, giáo viên có thể cho học sinh quan sát hình ảnh làm việc của bác nông dân, chú thợ điện, cô lao công hay anh công nhân, .Từ đó học sinh sẽ dễ dàng liên tưởng được các hoạt động mà người mình muốn tả như thế nào ? 2. Giải pháp 2: Sử dụng bản đồ tư duy để khái quát kiến thức. - Như chúng ta đã biết qua một số kết quả nghiên cứu khoa học cho thấy việc sử dụng bản đồ tư duy trong dạy học làm cho các em hiểu sâu, nhớ lâu và in đậm điều mà chúng tự suy nghĩ viết ra theo ngôn ngữ của mình. Vì vậy, sử dụng 4
  3. bản đồ tư duy huy động tối đa tiềm năng bộ não, giúp học sinh học tập một cách tích cực, đó chính là biện pháp đổi mới phương pháp dạy học có hiệu quả. - Việc sử dụng bản đồ tư duy trong dạy học sẽ dần hình thành cho các em tư duy mạch lạc, hiểu biết vấn đề một cách sâu sắc, có cách nhìn vấn đề một cách tổng thể, khoa học chứ không phải học vẹt, học thuộc lòng. Học sinh hiểu bài, nhớ lâu, vận dụng tốt. Khối lượng kiến thức ngày càng tăng theo cấp số nhân. Vì thế sử dụng bản đồ tư duy rèn cho các em tư duy lôgic để có thể vận dụng vào thực hành giao tiếp nói, viết. - Đặc biệt sử dụng bản đồ tư duy trong dạy học kiến thức mới, giúp học sinh học tập một cách chủ động, tích cực và huy động được tất cả học sinh tham gia xây dựng bài một cách hào hứng. Cách học này cũng phát triển được năng lực riêng của từng học sinh không chỉ về trí tuệ mà còn có kĩ năng diễn đạt, hệ thống hoá kiến thức hay huy động những điều đã học trước đó để chọn lọc các ý và ghi chép, vận dụng kiến thức được lọc qua sách vở vào cuộc sống. Vận dụng bản đồ tư duy trong dạy học sẽ dần hình thành cho học sinh tư duy mạch lạc, hiểu biết vấn đề một cách sâu sắc có cách nhìn vấn đề có hệ thống, khoa học. Sử dụng bản đồ tư duy là cách thức giáo viên tổ chức cho học sinh suy nghĩ, diễn đạt một cách chủ động và sáng tạo trong dạy Tập làm văn. Phương pháp này hướng đến việc cụ thể hoá tối đa hoạt động viết và nói của học sinh sao cho sản phẩm làm văn của mỗi em vừa đảm bảo được chuẩn mực cơ bản cả một thể loại văn bản vừa thể hiện được bản sắc cái tôi của mỗi em, trên cơ sở khai thác kinh nghiệm và hiểu biết của các em, cũng như những ý tưởng và ngôn từ mà các em đó chiếm lĩnh được. Ví dụ khi dạy học sinh miêu tả về cánh đồng lúa: 5
  4. 3. Giải pháp 3: Hướng dẫn HS biết chọn những nét riêng, nét đặc trưng tiêu biểu và xếp ý để miêu tả: - Bằng những hình ảnh cụ thể, những clip đã được chuẩn bị trước, giáo viên cho học sinh quan sát, xem lại những khoảnh khắc trong từng thời điểm để các em phân biệt được trọng tâm của mỗi đề bài từ đó chọn được những nét riêng, nét đặc trưng tiêu biểu để miêu tả. - Với mỗi bài văn miêu tả, chọn ý thế nào cho phù hợp trước hết là phụ thuộc vào yêu cầu của đề bài cho trước. Chẳng hạn, với 3 đề bài tả ngôi trường sau đây: a.Tả quang cảnh trường em trước buổi học. b.Tả quang cảnh trường em trong ngày Hội khỏe Phù Đổng. c.Năm năm qua, mái trường Tiểu học đã trở thành người bạn hiền thân thiết của em, gắn bó với em bao kỉ niệm. Hãy tả lại ngôi trường thân yêu ấy và phát biểu cảm nghĩ của em. - Cùng là bài văn yêu cầu tả ngôi trường song trọng tâm tả ở mỗi bài lại khác nhau: - Với đề bài a, GV cần hướng dẫn HS: Bài yêu cầu tả quang cảnh trường em vào lúc nào? Trước buổi học là khoảng thời gian nào? Ở thời điểm đó, cảnh trường em có gì đáng chú ý khác với những thời điểm khác trong ngày ( thiên nhiên, cây cối, chim chóc, không khí, con người...)? 6
  5. - Với đề bài b, GV cần hướng dẫn HS: Bài yêu cầu tả quang cảnh trường em vào ngày nào? Trong ngày Hội khỏe ấy, cảnh trường em có gì đáng chú ý khác với những ngày thường( cây cối, chim chóc, không khí chung, cách trang trí sân khấu, âm thanh loa đài, tâm trạng chung của mọi người, cách ăn mặc của thầy cô và học sinh...)? - Với đề bài c, GV cần hướng dẫn HS: Bài yêu cầu tả quang cảnh trường em vào khoảng thời gian nào? Những kỉ niệm nào về ngôi trường làm em nhớ mãi? Trong số những kỉ niệm ấy, em định nêu kỉ niệm nào? - Cần chú ý HS, hai đề bài a- b, tả ngôi trường chỉ ở hai thời điểm nhất định, còn đề bài c lại có thể tả ngôi trường trong nhiều thời điểm khác nhau và những kỉ niệm của tuổi học trò có thể diễn ra trong một thời gian dài suốt gần năm năm học qua. - Qua đó, GV chốt: Cần đọc kĩ yêu cầu đề bài để xác định đúng đối tượng miêu tả.Cùng là một đối tượng miêu tả nhưng ở những thời điểm khác nhau thì trọng tâm tả cũng khác nhau.Khi miêu tả, phải chú ý chọn nét tiêu biểu nổi bật để khi đọc bài văn của các em, người đọc phải hiểu em đang tả đối tượng nào ? 4. Giải pháp 4: Dựng đoạn và viết bài: - Sau khi HS quan sát, tìm và ghi lại được những nét đặc trưng, tiêu biểu giáo viên hướng dẫn học sinh xây dựng đoạn văn và viết bài. Mỗi đoạn văn miêu tả một nội dung nhất định ( VD: giới thiệu hay tả bao quát đối tượng, tả từng mặt hay tả từng bộ phận của đối tượng, bộc lộ cảm xúc của người viết về đối tượng miêu tả). Nếu là tả người: chú ý HS dùng nhiều từ ngữ gợi tả hình dáng, tính nết, hoạt động của chân tay, của mắt, của miệng... Nếu là tả cảnh: dùng nhiều từ ngữ gợi tả hình dáng, màu sắc, hương thơm, mùi vị....có thể sử dụng biện pháp liên tưởng, so sánh để gợi ra đặc điểm của cảnh ở từng thời điểm khác nhau ( thời điểm hiện tại so với thời điểm trước đó và sau đó.) - Cần hướng dẫn học sinh, để có được bài văn cuốn hút người đọc, các em phải đưa tình cảm, đưa tâm hồn, đưa hơi thở của mình vào trong bài văn. Miêu tả không phải tái hiện một cách khách quan, cứng nhắc mà còn phải bộc lộ được tình cảm, ý nghĩ của mình đối với đối tượng cần tả. Những bài văn thiếu cảm xúc, thiếu tâm hồn thường khô khan, không có sức truyền cảm đối với người đọc. Do vậy, ngoài việc quan sát kĩ đối tượng, có sự liên tưởng, tưởng tượng để bộc lộ cảm xúc 7
  6. của mình, thể hiện được mối quan hệ giữa người tả với đối tượng được tả. Cảm xúc không chỉ bộc lộ ở phần kết bài mà còn thể hiện ở từng câu, từng đoạn của bài. VD: Sống với bà, em thấy thế nào? ( Thấy bà gần gũi, chăm sóc chu đáo như bà tiên hiền hậu, mình muốn làm một điều gì đó cho đỡ vất vả). Được bà chăm sóc hàng ngày, em nghĩ gì? ( Tình cảm thương yêu gần gũi của bà như chắp cánh cho tôi vững bước trước cuộc đời.) Trong tiết học, tôi thường yêu cầu HS đưa ra những cảm xúc, nhận xét về một sự vật hay hiện tượng nào đó.Do vậy, bài văn của HS thường tránh được những nhược điểm khô khan, liệt kê sự việc mà thấm đẫm cảm xúc của người viết. Tuy nhiên, tình cảm của người viết với đối tượng miêu tả được bộc lộ một cách linh hoạt, có khi được thể hiện trực tiếp qua những từ miêu tả cảm xúc như: Em rất thích..., Em rất yêu,....Em thích nhất.....nhưng cũng có khi lại được thể hiện một cách gián tiếp qua cử chỉ, lời nói, việc làm mà người đọc phải tinh ý mới nhận ra được. - Trong khi viết bài, GV chú ý HS sử dụng từ ngữ phù hợp, rèn luyện cách dùng từ, cách đặt câu và sử dụng các biện pháp tu từ đã học làm cho đối tượng trở nên gần gũi hơn, sinh động hơn và đáng yêu hơn rất nhiều. - GV cho HS quan sát các hình ảnh, clip video minh họa đan xen những câu hỏi gợi ý về cách diễn đạt thường được xen vào trong khi Hsquan sát hình ảnh và làm văn miệng, nếu HS chưa sử dụng biện pháp nghệ thuật thì tôi gợi ý HS khác bổ sung, sửa chữa.VD: Một em nêu: Mái tóc đen nhánh, ôm lấy khuôn mặt hồng hào của cô thật dễ mến. Một em khác sửa lại là: Mái tóc đen nhánh, mượt mà như dòng suối, ôm lấy khuôn mặt trái xoan hồng hào của cô thật dễ mến. Khi miêu tả sự vật, các em cũng so sánh rất sinh động, ví dụ: - Ông mặt trời như quả bóng bay mềm mại bay trên không trung. - Ông mặt trời như quả gấc chín đang từ từ nhô lên ở phía chân trời. - Ông mặt trời như quả cầu lửa tỏa muôn nghìn màu sắc trông rất đẹp mắt. Lúc này GV có thể cho HS quan sát một số hình ảnh mặt trời ở các thời điểm khác nhau. 5. Giải pháp 5: Sử dụng máy soi để chấm, chữa bài học sinh: - Đây là một việc làm rất quan trọng của giáo viên nhằm giúp HS thấy được cái hay, cái chưa được trong bài làm của mình để rút kinh nghiệm. Để phát huy hết 8
  7. vai trò, ý nghĩa của việc chấm, chữa bài, GV phải đọc kĩ bài làm của HS, gach chân lỗi sai, chỉ rõ đó là lỗi sai dùng từ, đặt câu hay diễn đạt....để HS sửa chữa. Lời phê của GV cần rõ ràng, ngắn gọn, vừa giúp HS nhận ra chỗ được, chỗ chưa được trong bài làm của mình vừa mang ý nghĩa động viên, khích lệ kịp thời. - Trong tiết trả bài Tập làm văn, giáo viên dùng máy soi để chữa bài cho học sinh. Soi cho các em phát hiện những lỗi sai của bạn. Cho học sinh lên bảng chia sẻ bài nhận xét, phát hiện lỗi sai, cùng nhau sửa lỗi mắc phải và học tập những điều bổ ích trong bài viết. Kĩ năng này là kĩ năng khá quan trọng. Giáo viên ghi và phân loại ra những lỗi điển hình, tiêu biểu lên bảng, học sinh sẽ thảo luận tìm ra cách chữa lỗi. - Sau khi giúp HS sửa lỗi sai trong bài làm của mình, giáo viên trình chiếu một số bài viết tốt hoặc một số đoạn văn hay của học sinh trong lớp hoặc của một số tài liệu tham khảo. Học sinh sẽ nhận xét bài văn, đoạn văn hay ở điểm nào ? Vì sao? Qua đó phát triển khả năng tư duy nhận xét ở học sinh. - Đối với học sinh yếu, mức độ đòi hỏi không quá cao để tránh sự nhàm chán ở các em. Trong giờ dạy, nếu các em biết đặt một câu văn đầy đủ bộ phận hoặc có những nhận xét, câu trả lời tương đối phù hợp thì giáo viên phải có sự tuyên dương kịp thời để các em phấn khởi, thích thú học tập. Giáo viên phải đặc biệt quan tâm theo dõi để sửa chữa các lỗi sai ở bài viết của các em học sinh này III.2. Tính mới, tính sáng tạo 1.Tính mới - Thế giới hôm nay đang chứng kiến biết bao điều kì diệu do con người tạo ra. Một trong những điều kì diệu ấy là sự góp mặt của công nghệ thông tin. Có thể nói công nghệ thông tin là một lĩnh vực đột phá có vai trò lớn trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế và xã hội, thúc đẩy mạnh mẽ quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước. Đối với lĩnh vực giáo dục đào tạo, công nghệ thông tin có tác dụng làm thay đổi mạnh mẽ phương pháp, phương thức dạy – học nhất là khi nền giáo dục của nước ta bước sang thế kỉ 21, thế kỉ của công nghệ thông tin. Và có lẽ chính vì vậy mà trong những năm gần đây việc ứng dụng CNTT vào dạy – học đã và đang trở thành một xu thế phát triển mạnh mẽ ở các trường học, cấp học. - Qua thực tế giảng dạy, tôi nhận thấy ưu điểm nổi trội của việc ứng dụng công nghệ thông tin trong trong dạy học là giúp giáo viên nâng cao tính sáng 9
  8. tạo và trở nên linh hoạt hơn trong quá trình giảng dạy của mình. Những ngân hàng dữ liệu kiến thức khổng lồ và đa dạng được kết nối với nhau đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc soạn giảng của giáo viên. Ngoài ra, các thầy cô không chỉ bó buộc trong khối lượng kiến thức hiện có mà còn được tìm hiểu thêm về những chuyên ngành khác như tin học và học hỏi các kỹ năng sử dụng hình ảnh, âm thanh trong việc thiết kế bài giảng. Với môi trường đa phương tiện đã phát huy một cách tối đa đa giác quan của người học. Những thí nghiệm, tài liệu được cung cấp bằng nhiều kênh hình, kênh chữ, âm thanh sống động làm cho học sinh dễ thấy , dễ tiếp thu. Nhờ ứng dụng CNTT vào giảng dạy, giáo viên chủ động hơn trong kế hoạch bài giảng của mình, dễ dàng tìm kiếm các tài nguyên phục vụ bài giảng, tạo mạch liên kết giữa các đơn vị kiến thức tự nhiên, hợp lý hơn. - Tăng cường các hoạt động ứng dụng CNTT trong dạy Tập làm văn nhằm đổi mới hình thức tổ chức các hoạt động dạy học. - Việc ứng dụng công nghệ thông tin vào bài giảng đã nâng chất lượng viết văn miêu tả lên một cách rõ rệt. Học sinh hứng thú học tập hơn, tự tin, hào hứng sôi nổi trong tiết học Tập làm văn. Học sinh đã dần được rèn luyện các kĩ năng quan sát, tìm ý và viết văn miêu tả giàu hình ảnh, sinh động hơn. Các em chủ động trong việc tiếp cận kiến thức của bài hoc, làm việc hăng say, yêu thích môn văn. - Giúp học sinh tiếp cận được với những phương tiện học tập mới, hiện đại. Giúp các em nhanh chóng bắt nhịp với cuộc sống thực tiễn phù hợp với thời đại công nghệ 4.0. - Giúp học sinh tự tin trong học tập, đoàn kết với bạn bè qua việc được hợp tác trong nhóm. Các em viết văn tốt sẽ mở ra nhiều cơ hội cho các em trong tương lai. - Giáo viên lên lớp không vất vả khi truyền thụ kiến thức cho học sinh, đổi mới được phương pháp trong giảng dạy bài giảng trở nên gần gũi, sinh động và hấp dẫn với học trò, đổi mới cách đánh giá kết quả học tập của học sinh. 2.Tính sáng tạo: -Việc áp dụng công nghệ thông tin vào dạy học còn làm thay đổi nội dung và phương pháp truyền đạt trong giờ dạy. Nhờ các công cụ đa phương tiện của máy tính như văn bản, đồ họa, hình ảnh, âm thanh, hoạt cảnh giáo viên sẽ xây dựng được bài giảng sinh động thu hút sự tập trung của người học dễ dàng thể hiện 10
  9. được các phương pháp sư phạm như: phương pháp dạy học tình huống, phương pháp dạy học nêu vấn đề, thực hiện đánh giá và lượng giá học tập toàn diện, khách quan ngay trong quá trình học tăng khả năng tích cực chủ động tham gia học tập của người học. - Việc ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học đã giúp học sinh được tiếp cận phương pháp dạy học mới hấp dẫn hơn hẳn phương pháp đọc – chép truyền thống. Ngoài ra, sự tương tác giữa thầy cô và học trò cũng được cải thiện đáng kể, học sinh có nhiều cơ hội được thể hiện quan điểm cũng như chính kiến riêng của mình. Điều này không chỉ giúp các em ngày thêm tự tin mà còn để cho giáo viên hiểu thêm về năng lực, tính cách và mức độ tiếp thu kiến thức của học trò, từ đó có những điều chỉnh phù hợp và khoa học.Hơn thế nữa, việc được tiếp xúc nhiều với công nghệ thông tin trong lớp học còn mang đến cho các em những kỹ năng tin học cần thiết ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường. Đây sẽ là nền tảng và sự trợ giúp đắc lực giúp học sinh đa dạng và sáng tạo các buổi thuyết trình trước lớp, đồng thời tăng cường khả năng tìm kiếm thông tin cho bài học của các em. Các em sẽ làm quen được với các hình thức tự học như học online, học qua cầu truyền hình. - Mặt khác, việc ứng dụng công nghệ thông tin vào bài dạy còn đưa các tiết Tập làm văn đến với học trò một cách gần gũi, tự nhiên, học sinh chủ động tiếp thu bài và viết bài một cách chân thật, sinh động và có sáng tạo theo cảm nhận được của riêng mỗi em. - Việc rèn kĩ năng viết văn cho học sinh thông qua việc ứng dụng công nghệ thông tin vào bài giảng giúp cho chất lượng môn Tập làm văn được nâng lên. Rèn cho học sinh biết cách quan sát, biết cách nghe, biết cảm nhận và ghi chép lại những điều cần thiết phù hợp với công văn 3969/ BGD ĐT đã triển khai đối với HS lớp 5 là tiếp cận dần với cách học Nghe - ghi, là nền tảng vững chắc cho các em học lên cấp học THCS. Giáo viên được bồi dưỡng công nghệ thông tin, thường xuyên áp dụng vào bài giảng. Khai thác thông tin trên mạng Internet có hiệu quả, tự rèn kĩ năng sử dụng thành thạo các trang thiết bị dạy học hiện đại. III.3. Phạm vi ảnh hưởng, khả năng áp dụng của sáng kiến: 11
  10. - Có khả năng áp dụng vào dạy cho học sinh ở lớp 5 nói riêng và các khối lớp khác trong phạm vi các trường Tiểu học nói chung. Ngoài ra cũng có thể áp dụng cho các môn học khác. - Giáo viên đã phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của bản thân cũng như khuyến khích, truyền thụ cho học sinh kỹ năng viết văn tốt. - Tuyên truyền phụ huynh để cài các phần mềm ứng dụng để học tập.Việc ứng dụng công nghệ thông tin vào bài giảng đã nâng chất lượng viết văn miêu tả lên một cách rõ rệt. Học sinh hứng thú học tập hơn, tự tin, hào hứng sôi nổi trong tiết học Tập làm văn. Học sinh đã dần được rèn luyện các kĩ năng quan sát, tìm ý và viết văn miêu tả giàu hình ảnh, sinh động hơn. Các em chủ động trong việc tiếp cận kiến thức của bài hoc, làm việc hăng say, yêu thích môn văn. III.4. Hiệu quả, lợi ích thu được từ sáng kiến: 1. Hiệu quả kinh tế: - Đề tài không gây tốn kém về kinh tế chỉ cần giáo viên chịu khó tìm tòi các hình ảnh, các thông tin thích hợp trên mạng để đưa vào bài giảng nên rất có hiệu quả. 2.Hiệu quả về mặt xã hội: - Trong quá trình giảng dạy, giúp học sinh viết các bài văn miêu tả giàu hình ảnh, biết lồng ghép cảm xúc tình cảm của mình vào bài viết đồng thời phát huy tính chủ động, sáng tạo của HS đặc biệt là những học sinh có năng khiếu về văn. Học sinh viết văn có sự sáng tạo, vốn từ phong phú, các em sẽ tự tin trong giao tiếp đây là yếu tố quyết định đến sự thành công trong cuộc sống. - Giáo dục học sinh thêm yêu thích môn Tập làm văn và góp phần vào việc giữ gìn sự trong sáng của Tiếng việt. III.4.3.Giá trị làm lợi khác: - Học sinh yêu thích môn học Tập làm văn và yêu môn Tiếng Việt hơn, từ đó có hứng thú học môn Tiếng Việt hơn. - Kết quả kiểm tra cuối học kỳ I môn Tiếng Việt của lớp do tôi giảng dạy đạt được như sau: Lớp dạy Điểm từ 5-10 Điểm từ 9-10 Điểm bình quân 12
  11. 5C 36/36 đạt 100% 35/36 đạt 97,2% 9.7 - Qua kết quả kiểm tra đã khẳng định chất lượng môn Tiếng Việt được nâng lên rõ rệt trong đó có phân môn Tập làm văn. - Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tôi thấy việc ứng dụng công nghệ thông tin vào bài giảng đã nâng chất lượng viết văn miêu tả lên một cách rõ rệt. Học sinh hứng thú học tập hơn, tự tin, hào hứng sôi nổi trong tiết học Tập làm văn.Học sinh đã dần được rèn luyện các kĩ năng quan sát, tìm ý và viết văn miêu tả giàu hình ảnh, sinh động hơn.Các em chủ động trong việc tiếp cận kiến thức của bài hoc, làm việc hăng say, yêu thích môn văn. - Với kết quả của đề tài này, tôi mong được sự góp ý của các cấp lãnh đạo và sự quan tâm chia sẻ của các bạn đồng nghiệp. Đặc biệt là đối với giáo viên cấp tiểu học có thể ứng dụng đề tài này vào việc dạy học môn Tập làm văn để tạo hứng thú và nâng cao kết quả học tập cho học sinh. Tôi xin chân thành cảm ơn và rất mong được sự đóng góp ý kiến của Ban giám khảo . Hải Phòng, ngày 10 tháng 1 năm 2024 CƠ QUAN ĐƠN VỊ Tác giả sáng kiến ÁP DỤNG SÁNG KIẾN Nguyễn Thị Lệ Thủy 13