Mô tả Sáng kiến Một số biện pháp rèn kĩ năng giải toán có lời văn cho học sinh Lớp 2 theo Chương trình Giáo dục phổ thông 2018
Bạn đang xem tài liệu "Mô tả Sáng kiến Một số biện pháp rèn kĩ năng giải toán có lời văn cho học sinh Lớp 2 theo Chương trình Giáo dục phổ thông 2018", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
mo_ta_sang_kien_mot_so_bien_phap_ren_ki_nang_giai_toan_co_lo.docx
Nội dung tài liệu: Mô tả Sáng kiến Một số biện pháp rèn kĩ năng giải toán có lời văn cho học sinh Lớp 2 theo Chương trình Giáo dục phổ thông 2018
- nhầm lẫn giữa dạng toán "Thêm - bớt", "Bài toán về nhiều hơn", "Bài toán về ít hơn". Một số em còn nhút nhát, không tự tin, không chịu suy nghĩ để tìm tòi lời giải. Học sinh chưa mạnh dạn trao đổi với bạn, với cô giáo khi chưa hiểu yêu cầu của bài toán nên hiểu đến đâu, làm đến đó dẫn đến làm sai. - Qua thực tế giảng dạy và thảo luận cùng đồng nghiệp tôi nhận thấy: Việc giải toán có lời văn của học sinh hiệu quả chưa cao từ đó ảnh hưởng đến chất lượng môn Toán. Qua khảo sát chất lượng của học sinh lớp 2A, 2B thời điểm giữa học kì 1cho thấy. Năm học 2024 - 2025 Lớp Sĩ số Thời điểm giữa học kì 1 Số HS giải toán Số HS viết sai câu trả Số HS làm sai có lời văn đúng lời phép tính 2A 32 15 = 46,8% 10 = 31,3% 7 = 21,9% 2B 30 14 = 46,7% 10 = 33,3% 6 = 20,1% Đây là những nguyên nhân cơ bản, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng giải toán của học sinh. Khắc phục được những nguyên nhân trên có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc nâng cao chất lượng giáo dục Tiểu học nhằm thực hiện mục tiêu theo chương trình GDPT 2018, đào tạo con người mới: năng động, tự chủ, sáng tạo. Để khắc phục những tồn tại, bất cập nêu trên, tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài: “ Một số biện pháp rèn kĩ năng giải toán có lời văn cho học sinh lớp 2 theo chương trình giáo dục phổ thông 2018”. III. NỘI DUNG GIẢI PHÁP CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN: III.1. Nội dung giải pháp đề nghị công nhận sáng kiến: Giải pháp 1. Phân loại và quan tâm tới từng đối tượng học sinh. Dạy học chú trọng tới từng học sinh nhằm giúp các em có tinh thần trách nhiệm với việc học và lên kế hoạch sử dụng quỹ thời gian hợp lý trong từng hoạt động học tập cuả cá nhân. Đây là một kỹ năng khó để thành thạo đối với các em. Vì vậy giáo viên cần kiên trì và luôn sẵn sàng giúp đỡ, hỗ trợ học sinh, khuyến khích làm việc nhóm, tôi luôn cho rằng làm việc độc lập không có nghĩa là làm việc một mình mà có sự hợp tác cùng phát triển. Ngay từ khi nhận lớp, tôi đã xem kết quả học tập năm học trước, kết hợp việc quan sát trên lớp phân loại đối tượng học sinh, ghi chép những mảng kiến thức học sinh còn yếu. Từ đó quan tâm tới đối tượng một cách phù hợp. Với học sinh yếu hơn, thường được gọi tương tác, chia sẻ nhiều hơn. Đồng thời kết hợp việc đánh giá học sinh theo thông tư 27, tôi khích lệ các em, kết hợp với phụ huynh và học sinh khác cùng đánh giá.Trong mỗi bài dạy, mọi học sinh đều được quan tâm. Chẳng hạn khi hình thành kiến thức bài 4: Hơn, kém nhau bao nhiêu- sgk trang 16, Giáo viên đưa hình vẽ lên màn hình và hỏi: 3
- Cành trên có bao nhiêu con chim?( Có 6 con chim). Cành dưới có mấy con chim?( 4 con chim). Bài toán hỏi điều gì? ( Hỏi: Cành trên hơn cành dưới bao nhiêu con chim?)Với những câu hỏi dễ nhận biết qua trực quan, không cần suy luận như vậy, tôi dành hỏi cho những học sinh học sinh sức học còn yếu, đảm bảo mọi đối tượng học sinh cùng được tham gia trong quá trình khám phá. Giải pháp 2. Rèn kĩ năng xác định đề bài và dạng bài, cách trình bày bài toán. Trong mỗi bài toán khâu xác định đề bài và dạng bài rất quan trọng. học sinh có hiểu đề bài thì mới xác định được dạng toán và tìm cách giải đúng. - Trước hết muốn giải được bài toán có lời văn, giáo viên cần cho học sinh nắm được quy trình chung để giải bài toán có lời văn, được thực hiện 5 bước sau: + Bước 1: Tìm hiểu đề: Học sinh phải đọc kỹ đề toán để phân biệt dữ kiện của bài - xác định được cái đã cho và cái phải tìm. Giáo viên đặc biệt chú ý hướng dẫn cho học sinh cách hiểu một đề toán bất kỳ thông qua các dữ liệu bài toán đã cho. + Bước 2: Phân tích bài toán Sau khi học sinh đọc bài toán, học sinh nhớ các dữ liệu của bài toán bằng ý hiểu của mình (không phụ thuộc vào sách giáo khoa). Từ đó học sinh tự phân tích được bài toán bằng hai câu hỏi. + Bài toán cho biết gì? + Bài toán hỏi gì? Ví dụ: Bài 3/ trang 96 sách Toán 2 tập một - Kết nối tri thức với cuộc sống. Sau khi đọc xong đề học sinh đã tự phân tích được bài toán bằng ý hiểu. 4
- Để tránh nhàm chán các câu hỏi lặp lại nhiều lần, giáo viên đã thay đổi câu hỏi ngược lại để phát huy tư duy của học sinh. + Bài toán hỏi gì? + Đã biết điều gì ở bài toán? Khi học sinh đó hiểu được bài toán, giáo viên hướng dẫn học sinh tóm tắt bài toán. + Bước 3: Tóm tắt bài toán Việc này giúp các em bỏ bớt được những câu, những chữ không thật quan trọng trong đề toán, biểu thị được bằng lời hoặc hình vẽ các mối quan hệ trong bài toán, làm cho bài toán được rút gọn lại, mối quan hệ giữa các số đã cho và số phải tìm hiện ra rõ hơn. Các em nhìn tóm tắt có thể đọc lại bài toán một cách chính xác (học sinh sẽ giải bài toán dễ dàng hơn). Ở phần này, giáo viên cần cho học sinh biết nhiều cách tóm tắt khác nhau. Ví dụ: Bài 4 (SGK - trang 77 sách Toán 2 tập một Kết nối tri thức với cuộc sống Ngày thứ nhất, Mai làm được 29 bưu thiếp. Ngày thứ hai, Mai làm được 31 tấm bưu thiếp. Hỏi cả hai ngày mai làm được bao nhiêu tấm bưu thiếp. Cách 1: Ngày thứ nhất : 29 tấm bưu thiếp Ngày thứ hai : 31 tấm bưu thiếp Cả hai ngày Mai : .... tấm bưu thiếp? ? tấm bưu thiếp Cách 2: 29 bưu thiếp 31 bưu thiếp + Bước 4: Giải bài toán Các em dựa vào tóm tắt để viết bài giải Cả hai ngày Mai làm được số tấm bưu thiếp là: 29 + 31 = 60 (tấm) Đáp số: 60 tấm bưu thiếp. + Bước 5: Thử lại kết quả Tức là học sinh kiểm tra xem kết quả tính đó đúng chưa? Lời giải đó chuẩn chưa? Và đáp số đầy đủ chưa? Ở ví dụ trên ta lấy tổng số bưu thiếp cả hai ngày Mai làm được trừ đi số bưu thiếp ngày thứ nhất Mai làm, được kết quả là số bưu thiếp ngày thứ hai Mai làm là đúng. Hoặc ngược lại lấy tổng số bưu thiếp cả hai ngày làm được trừ đi số bưu thiếp ngày thứ hai được kết quả là số bưu thiếp ngày thứ nhất là đúng. Giải pháp 3. Dạy giải bài toán dựa vào xác định đúng từ khóa Tôi chia các bài toán làm bằng phép tính cộng thành 2 kiểu Kiểu 1 trong đó có 2 dạng: thêm vào dự kiện đã biết một số đơn vị rồi tính tổng hoặc gộp hai thành phần đã biết lại để tính tổng. Từ khóa trong dạng này có thể dựa vào sự kiện đã biết hoặc câu hỏi của bài toán. Ví dụ 1: Bài 4 trang 31 SGK Toán lớp 2 Tập 1: 5
- Đối với bài toán này dựa vào từ khóa " có tất cả" để học sinh biết lựa chọn phép tính để giải bài toán đúng. Kiểu 2: Bài toán về nhiều hơn ( trong dó có bài toán mở rộng). Với bài toán dạng này các em cần đọc kĩ đề bài, so sánh rồi mới lập bài toán. Ví dụ 2: Trên sân có 14 con gà, số vịt nhiều hơn số gà là 5 con. Hỏi trên sân có bao nhiêu con vịt? Đối với bài này học sinh xác định từ khóa " nhiều hơn" ở đầu bài cho biết. Lúc này học sinh sẽ xác định được vịt 'nhiều hơn' gà là 5 con thi làm phép tính cộng. Với dạng toán hơn kém nhau bao nhiêu đơn vị, học sinh hay nhầm lẫn sang dạng toán nhiều hơn một số đơn vị vì khi học sinh không đọc kĩ đề mà chỉ đọc qua có chữ nhiều hơn là học sinh làm phép cộng mà không biết đã làm sai. Ví dụ: Một trường học có 5 thùng đựng rác tái chế và 10 thùng đựng rác khác. Hỏi số thùng đựng rác khác nhiều hơn số thùng đựng rác tái chế mấy thùng? Đối với dạng bài này giáo viên cần cho học sinh hiểu kĩ đề bài và xác định từ khóa số thùng rác khác "nhiều hơn" số thùng rác tái chế là bao nhiêu? Từ "nhiều hơn"ở phần câu hỏi để học sinh phân biệt và từ đó chọn phép tính đúng. Giải pháp 4. Dạy học theo phát triển năng lực của học sinh Người giáo viên có năng lực tổ chức các hoạt động học tập là biết đưa học sinh vào trung tâm của hoạt động học, là giúp học sinh hiểu rằng sai sót là một phần tất yếu của quá trình học tập. Khi phát hiện lỗi sai giáo viên không nên tự chỉnh sửa mà phải giúp học sinh được tiếp cận bằng những câu hỏi tập trung vào điều học sinh học được từ lỗi sai đấy. Giáo viên hãy cẩn trọng lời nói trong các tình huống thử thách. Ví dụ: Bài 4 trang 82 SGK Toán lớp 2 Tập 1: Ba bể cá A, B, C có mực nước khác nhau như hình vẽ dưới đây: 6
- a) Mực nước ở bể B cao hơn mực nước ở bể A bao nhiêu xăng-ti-mét? b) Mực nước ở bể C cao hơn mực nước ở bể A bao nhiêu xăng-ti-mét? c) Sau khi bạn Nam bỏ thêm một số hòn đá cảnh và bể B thì mực nước ở bể B tăng thêm 5cm. Hỏi lúc này mực nước ở bể B cao hơn mực nước ở bể A bao nhiêu xăng-ti-mét? Để tìm được mực nước ở bể B cao hơn mực nước ở bể A thì học sinh quan sát hình vẽ để nhận thấy ngay. Tuy nhiên để tìm mực nước ở bể C cao hơn mực nước ở bể A thì học sinh phải tư duy lấy số xăng-ti-mét mực nước ở bể B cao hơn mực nước ở bể A cộng với số xăng-ti-mét mực nước ở bể C cao hơn mực nước ở bể B. 15 + 6 = 21 (cm) Để tìm số xăng-ti-mét mực nước ở bể B cao hơn mực nước ở bể A sau khi Nam bỏ thêm một số hòn đá cảnh vào bể B ta lấy số xăng-ti-mét mực nước ở bể B cao hơn mực nước ở bể A khi chưa bỏ thêm một số hòn đá cảnh vào bể B cộng với 5 cm. 5 + 5 = 10 (cm) Giáo viên nên dựa vào khả năng năng lực của từng học sinh để lựa chọn hình thức và đưa ra câu hỏi khai tác giúp học sinh tìm ra cách giải của bài toán. Giải pháp 5. Sử dụng hợp lý, có hiệu quả đồ dùng dạy học, tăng cường sử dụng phương tiện dạy học hiện đại. Giáo viên thường sử dụng các dụng cụ học tập trực quan, nhiều màu sắc hấp dẫn, sinh động để thu hút sự chú ý của học sinh. - Học sinh được học tập qua ứng dụng công nghệ thông tin bằng hình ảnh được trình chiếu một cách sinh động tạo sự hứng thú cho các em tập trung hơn. Đặc biệt là đồ dùng trực quan đã đem lại hứng thú cho học sinh. Đòi hỏi các em phải tư duy, sử lý nhanh các tình huống, tự tìm tòi khám phá kiến thức qua trực quan. Kết quả học sinh ghi nhớ được kiến thức sâu, các em chóng thuộc bài. Lớp học thoải mái, vui vẻ, giờ học đạt hiệu quả cao. Học sinh ham thích học toán. Người giáo viên tăng cường sử dụng các phần mềm dạy học cũng như các phương pháp dạy học sử dụng mạng điện tử, Sử dụng AI chuyển hình ảnh SGK thành video Với các tiết dạy có thể sử dụng công nghệ thông tin tôi đều sử dụng, học sinh rất hứng thú học, hiệu quả lại cao. Ví dụ khi sử dụng phần mềm để chuyển hình ảnh của bài toán thành video thêm các hiệu ứng động và âm thanh để làm cho nội dung bài học thêm sinh động và hấp dẫn. Trong tiết học tôi tích hợp video đã tích hợp vào bài giảng sử dụng video 7
- như một công cụ dạy học để tăng cường sự tương tác và kích thích sự chú ý của học sinh. Ví dụ: Bài toán tôi sử dụng (Bài 4 trang 18 SGK Toán lớp 2 Tập 1) Mai và Nam gấp được các thuyền giấy như hình dưới đây: a) Mai gấp được hơn Nam mấy cái thuyền? b) Nam gấp được kém Mai mấy cái thuyền? Chuyển đổi ảnh thành video sinh động. Tôi sử dụng công cụ Image Scaler trên canva để cải thiện chất lượng hình ảnhcủa bài toán đảm bảo các chi tiết quan trọng rõ ràng và dễ nhìn. Sau đó sử dụng Canva để chỉnh sửa video thêm các hiệu ứng điều chỉnh âm thanh. Áp dụng video trong tiết học. Tôi tích hợp vdeo đã được chuẩn bị vào phần trình bày bài giảng. Trong khi video phát, tôi dừng lại ở phần quan trọng để giải thích thêm và đạt câu hỏi cho học sinh nắm kiến thức đồng thời yêu cầu học sinh thảo luận nhóm tìm cách giải bài toán đã được trình bày trong video. Tôi thường xuyên thay đổi nhiều cách tiếp cận và hoạt động khác nhau để tăng hứng thú học tập và tối ưu hóa bài học, phù hợp với ưu thế mỗi học sinh. Việc sử dụng công nghệ thông tin có thể áp dụng trong từng hoạt động: Khởi động kết nối, khám phá, luyện tập( chữa bài)... Cũng có thể GV chụp bài làm trên vở học sinh đưa màn hình để chữa, không phải sử dụng bảng phụ, học sinh không mất thời gian đi lại. Giải pháp 6. Rèn tính độc lập, năng lực tự học, tự giải quyết vấn đề cho học sinh, tạo điều kiện để học sinh trao đổi, chia sẻ càng nhiều càng tốt. - Ngay từ đầu năm học, giáo viên đã phải quan tâm đến việc yêu cầu học sinh tự đọc bài toán, từ đó giúp học sinh tự mình hiểu theo cách của mình thông qua trải nghiệm cuộc sống đã có. Việc làm này tạo tính chủ động của người học khi tiếp cận một vấn đề Toán học nào đó thì đầu tiên phải biết bài toán ấy đang nói lên sự kiện nào và tìm ra cách giải. Sau bước tự đọc bài toán là bước thảo luận, trao đổi để làm rõ nội dung và tìm ra lời giải chính xác nhất. - Tính độc lập được quan tâm nhiều ở hoạt động thực hành: thể hiện rõ qua các bài tập vận dụng kiến thức, kỹ năng vừa học để tự giải quyết các bài tập theo yêu cầu của giáo viên. 8
- Ví dụ: bài 4/61 SGK toán 2 bộ sách kết nối tri thức với cuộc sống. Ở bài này các em được tìm hiểu kiến thức trọng tâm từ hoạt động cơ bản sau đó các em được vận dụng vào hoạt động thực hành. - Khích lệ học sinh tích cực trao đổi, thảo luận nhóm, chia sẻ những gì mình đã biết và hỏi những gì còn băn khoăn. Qua việc trao đổi, tranh luận còn giúp học sinh mạnh dạn trong nói năng, trau dồi ngôn ngữ và đặc biệt biết sử dụng chính xác các từ ngữ có tính chất toán học. Giải pháp 8: Tổ chức các hoạt động dạy học theo hướng trải nghiệm. - Học sinh Tiểu học thích được khen hơn chê, hạn chế chê các em trong học tập, rèn luyện. Ngoài ra học sinh thích được thi đua, thích được khen, thích học mà chơi, chơi mà học nên người giáo viên phải thường tổ chức cho các em chơi các trò chơi như: Tiếp sức, Chọn đúng sai, Rung chuông vàng, hái hoa học tập... nhằm bổ sung kiến thức, tạo sự tự tin, nhanh nhẹn, kỹ năng điều hành hoạt động nhóm. Từ đó giáo viên cần động viên khích lệ kịp thời giúp các em hứng thú trong học tập, các em sẽ chủ động và nâng cao hiệu quả việc học giải toán có lời văn nói riêng và việc học nói chung. - Tôi thường xuyên uốn nắn sửa cho học sinh từng chi tiết nhỏ trong bài giải. Tôi khen, động viên kịp thời cho những học sinh làm bài tốt và làm bài tiến bộ khi thì cái kẹo, khi thì quyển vở tạo cho học sinh phấn khích để học tập tốt hơn. - Đối với những em chậm tiến bộ, thường rụt rè, tự ti thì tôi luôn luôn chú ý nhắc nhở gọi các em trả lời. Chỉ cần các em có một tiến bộ nhỏ là tôi tuyên dương ngay để từ đó các em sẽ cố gắng tiến bộ và mạnh dạn, tự tin hơn. Chính sự khen chê đúng lúc, kịp thời và đúng đối tượng học sinh trong lớp đã có tác dụng khích lệ học sinh trong học tập. III.2. Tính mới, tính sáng tạo của giải pháp sáng kiến: Dạy học phát triển năng lực được áp dụng mang tính ưu việt mà cách dạy truyền thống chưa có được. Cụ thể: - Dạy học phát triển năng lực giúp pháp triển tư duy, trí thông minh của học sinh: Phát triển tư duy, thông minh của học sinh được coi trọng qua từng hoạt động học tập được tổ chức (khởi động, hình thành tri thức vận dụng tri thức để hình thành kỹ năng, ứng dụng kiến thức và kỹ năng vào cuộc sống, mở rộng kiến thức qua các kênh thông tin khác nhau như internet sách báo )trong quá trình 9
- học tập phát triển năng lực, các em phải giải quyết các vấn đề được đặt ra nên cần sử dụng các thao tác tư duy, động não, suy nghĩ, nhờ đó học sinh mới phát triển được tư duy và trí thông minh của mình. - Làm cho kết quả học tập có tính bền vững: Theo dạy học phát triển năng lực học sinh, kết quả học tập (kiến thức, kỹ năng, thái độ) được chính học sinh hình thành nhờ quá trình trải nghiệm, tư duy cho các em kiến tạo phát triển mà không phải là sự áp đặt từ phía giáo viên. Hơn nữa kiến thức và kỹ năng luôn gắn liền với kinh nghiệm thực tiễn phục vụ cho cuộc sống nên học sinh cảm nhận được ý nghĩa thiết thực của chúng. Khi đó những kiến thức kỹ năng này sẽ trở thành năng lực học sinh, tức giá trị của cá nhân, có tính giá trị thực tiễn cao. - Khai thác và làm phong phú vốn kinh nghiệm sống của học sinh: Dạy học phát triển năng lực giúp học sinh kiến tạo kiến thức nhờ huy động, vận dụng những kiến thức đã học, khai thác kinh nghiệm, năng lực bản thân. Sau đó, học sinh kiểm nghiệm chúng qua thực tiễn và nhờ đó, các em tự làm giàu, làm phong phú thêm vốn kinh nghiệm cho chính bản thân mình. Việc học tập không chỉ diễn ra trong lớp học, ở nhà trường mà còn có thể ở những nơi công cộng, cộng đồng dân cư, nơi học sinh được tiếp xúc, giao lưu, trò chuyện với nhiều tầng lớp khác nhau trong xã hội. - Làm cho việc học của học sinh thú vị, hấp dẫn, tự giác: Tính tự giác học tập không chỉ là hệ quả mà còn là điều kiện bảo đảm quá trình học tập thành công, hiệu quả. Dạy học phát triển năng lực coi trọng việc phát triển trí thông minh của học sinh. Việc tổ chức các hoạt động dạy học hợp lý sẽ giúp học sinh vận dụng thành công trong học tập và nâng cao chất lượng cuộc sống của mình, từ đó, học sinh cảm nhận được việc học là thú vị, hấp dẫn, nhận thấy lợi ích thực tiễn của học tập nên các em sẽ tích cực, tự giác hơn. - Giúp mối quan hệ giữa giáo viên và học sinh ngày càng trở nên thân thiện, bền vững: Trong quá trình dạy học phát triển năng lực, giáo viên luôn hiểu rõ cá nhân học sinh (trí thông minh, năng lực, sở thích, hứng thú, tình cảm, hoàn cảnh, điều kiện học tập .) và cư xử thân thiện với các em. Hơn nữa giáo viên còn đối xử cá biệt với từng học sinh để giúp phát triển những điều tích cực, hạn chế những điểm tồn tại trong mỗi học sinh. Nhờ đó dạy hoc tích cực luôn giúp học sinh tiến bộ và phát triển không ngừng. Khi đó, học sinh cảm nhận được vai trò của người thày và thêm yêu quý, gần gũi với các thày cô. - Xây dựng mối quan hệ giữa học sinh với nhau thêm thân thiết, gắn bó: Dạy học phát triển năng lực coi trọng mối quan hệ giữa học sinh với nhau, trong đó nhóm là một hình thức tổ chức cơ bản. Qua nhóm, các em được tổ chức trao đổi, khuyến khích, thảo luận, giúp đỡ, hợp tác, phối hợp, tranh luận tích cực với nhau. Mối quan hệ giữa các học sinh trở nên thân thiết. Ngoài ra trong đánh giá, giáo viên coi trọng sự tiến bộ của cá nhân học sinh, không so sánh kết quả học tập 10
- của các học sinh với nhau, từ đó, trong lớp sẽ không còn hiện tượng so bì, ghen tỵ giữa các học sinh. - Phối hợp với các lực lượng giáo dục một cách hiệu quả: Dạy học phát triển năng lực đòi hỏi học sinh trải nghiệm, tham gia các hoạt động ngoại khóa, kết nối nội dung học tập với thực tiễn cuộc sống của mình. Khi đó, sự đồng hành của các lực lượng giáo dục, nhất là gia đình và các đoàn thể xã hội, với nhà trường là rất quan trọng. III.3. Phạm vi ảnh hưởng, khả năng áp dụng sáng kiến: - Các biện pháp chúng tôi đưa ra không chỉ được áp dụng ở lớp tôi mà tôi còn trao đổi cùng đồng nghiệp trong khối, trong trường cùng áp dụng và đã có ảnh hưởng tích cực. - Việc sử dụng các biện pháp còn góp phần rèn luyện cho học sinh phương pháp suy nghĩ, phân tích, tổng hợp, giải quyết vấn đề, phát triển trí thông minh óc sáng tạo, rèn luyện đức tính cần cù, kiên trì. Nó giúp cho học sinh nắm được những kiến thức, kĩ năng toán học cơ bản, vận dụng chúng vào cuộc sống và góp phần phát triển, giáo dục một số năng lực, phẩm chất của con người lao động mới, góp phần không nhỏ vào việc hình thành và phát triển nhân cách con người. - Giúp người dạy chuyển từ phương pháp dạy học theo lối "truyền thụ một chiều" sang dạy cách học, cách vận dụng kiến thức, rèn luyện kỹ năng, hình thành năng lực và phẩm chất. Tăng cường việc học tập trong nhóm của học sinh, đổi mới quan hệ giáo viên - học sinh theo hướng cộng tác có ý nghĩa quan trọng nhằm phát triển năng lực xã hội - Được áp dụng vào việc dạy Toán lớp 2 bộ sách kết nối tri thức với cuộc sống trong Trường Tiểu học nơi tôi công tác và còn có thể áp dụng đối với lớp 2 các trường khác. III.4. Hiệu quả, lợi ích thu được từ sáng kiến: - Hiệu quả áp dụng: Nhờ áp dụng các biện pháp nêu trên, Sau 1 học kì thực dạy, chúng tôi đã thấy các em giải toán có nhiều tiến bộ rõ rệt. Chúng tôi ra đề kiểm tra cuối kì và kết quả thu được như sau: Năm học 2024 - 2025 Lớp Sĩ số Thời điểm cuối học kì 1 (Sau khi áp dụng biện pháp) Số HS giải toán có lời Số HS viết sai câu trả Số HS làm sai phép văn đúng lời tính 2A 32 28 = 87,5% 2 = 6,25% 2 = 6,25% 2B 30 26 = 86,7% 2 = 6,65 2 = 6,65% Qua kết quả trên cho thấy, nếu giáo viên khéo léo trong việc sử dụng các biện pháp dạy học mới, kích thích được hứng thú học tập của học sinh thì kết 11
- quả học tập của các em sẽ tốt hơn từ đó nâng cao kết quả dạy học môn Toán nói chung và chất lượng giáo dục Tiểu học nói riêng. Nhìn vào bảng kết quả trên, cho chúng ta thấy được có phương pháp tốt thì học sinh làm bài tốt hơn. Chất lượng học của học sinh không tự dưng mà có được, mà đòi hỏi mỗi người giáo viên chúng ta biết phương pháp phát huy năng lực của các em trong học toán. Minh chứng cho thấy chất điểm thi khảo sát của lớp đạt chất lượng cao, góp phần đưa chất lượng môn Toán của trường đạt chỉ tiêu. Điều đó chứng tỏ việc áp dụng các giải pháp mới đem lại hiệu quả thiết thực. - Hiệu quả kinh tế: Việc áp dụng các biện pháp được đề xuất trong báo cáo này sẽ không tốn thời gian vì học sinh được trực tiếp thực hành qua những tiết học, những buổi học. Không tốn kém kinh phí đầu tư vì giáo viên là người trực tiếp giảng dạy. Các hoạt động dạy - học trên lớp diễn ra tự nhiên, lớp học sôi nổi, phát huy khả năng chủ động, tích cực của học sinh. - Hiệu quả về mặt xã hội: Học sinh được đáp ứng nhu cầu khám phá, tìm tòi, kích thích tư duy sáng tạo. Rèn cho học sinh về đạo đức, nhân cách và tính kiên trì, nhẫn nại Do đó sau khi áp dụng vào lớp mình phụ trách đã bước đầu đáp ứng được yêu cầu về nâng cao chất lượng cho học sinh mà nhà trường đề ra. - Giá trị làm lợi khác: Phát triển tư duy ngôn ngữ khoa học. Góp phần giáo dục toàn diện hoàn thành nhân cách cho học sinh. Học sinh có niềm yêu thích say mê học Toán. Qua đó, chúng tôi khẳng định sáng kiến:“ Một số biện pháp rèn kĩ năng giải toán có lời văn cho học sinh lớp 2 theo chương trình giáo dục phổ thông 2018” đã đạt hiệu quả tốt. Trên đây là một số giải pháp mà chúng tôi đưa ra theo quan điểm của cá nhân chúng tôi, Rất mong được sự đóng góp ý kiến của Hội đồng thẩm định sáng kiến và bạn bè đồng nghiệp để sáng kiến của chúng tôi ngày càng hoàn thiện hơn, góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy. Tôi xin trân trọng cảm ơn! CƠ QUAN, ĐƠN VỊ Thị Trấn, ngày 15 tháng 12 năm 2024 ÁP DỤNG SÁNG KIẾN TÁC GIẢ SÁNG KIẾN Nguyễn Hồng Quyên ĐỒNG TÁC GIẢ SÁNG KIẾN Trần Thị Minh Hoan 12
- TÀI LIỆU THAM KHẢO: 1. Tài liệu Toán 2 tập 1, 2 nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam . Bộ sách kết nối tri thức với cuộc sống. 2. Sách thiết kế Toán lớp 2 Tập 1, 2 Bộ sách kết nối tri thức với cuộc sống. ( tài liệu sách chương trình phổ thông 2018) ; Nhà xuất bản Giáo Dục Việt Nam. 13

