Mô tả Sáng kiến Một số biện pháp phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh trong dạy học môn Lịch sử cấp THCS

docx 23 trang Chăm Nguyễn 18/01/2026 180
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Mô tả Sáng kiến Một số biện pháp phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh trong dạy học môn Lịch sử cấp THCS", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docxmo_ta_sang_kien_mot_so_bien_phap_phat_huy_tinh_tich_cuc_chu.docx
  • pdfMô tả Sáng kiến Một số biện pháp phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh trong dạy học môn Lịc.pdf

Nội dung tài liệu: Mô tả Sáng kiến Một số biện pháp phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh trong dạy học môn Lịch sử cấp THCS

  1. 3 Điều quan trọng nhất trong trong việc đổi mới phương pháp dạy học là làm thế nào để học phát huy được tính tích cực, chủ động học sinh trong quá trình dạy học . Từ đó rèn luyện năng lực tư duy, khả năng sáng tạo, phát triển trí tuệ, trí thông minh của học sinh nói chung, được xem là nhiệm vụ chủ yếu, nhiệm vụ quan trọng nhất của quá trình dạy học hiện đại. Vì vậy, then chốt của việc đổi mới phương pháp dạy học là điều chỉnh mối quan hệ giữa tái hiện và sáng tạo, đến việc tăng cường các phương pháp sáng tạo nhằm đổi mới tính chất hoạt động nhận thức của học sinh trong quá trình dạy học. Muốn làm được việc này phải thông qua các thao tác tư duy như: Đối chiếu, so sánh, phân tích, tổng hợp...vạch ra dấu hiệu bản chất. Quá trình này không tự diễn ra mà đòi hỏi phải có sự kích thích nhất định cho tư duy. Yêu cầu tìm ra bản chất của sự kiện, hiện tượng quá khứ là những biểu hiện của những nhiệm vụ nhận thức nảy sinh ra trên cơ sở tri giác. Chính các câu hỏi “như thế nào?”, “tại sao?”... sẽ kích thích óc tìm tòi, sự phân tích, so sánh và khái quát hoá của học sinh. Như vậy, trong các hoạt động nhận thức lịch sử của học sinh (tri giác, nhớ, hình dung, tưởng tượng, tư duy...) thì tư duy có vai trò quan trọng. Việc phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh trong dạy học Lịch sử có ý nghĩa quan trọng. Trước hết, tích cực, chủ động, độc lập trong nhận thức đặc biệt là trong tư duy sẽ đảm bảo cho các em lĩnh hội sâu sắc và nhớ lâu kiến thức. Thứ hai, phát triển tính tích cực, chủ động, độc lập trong nhận thức, đặc biệt trong tư duy là phương tiện tốt để hình thành kiến thức, khơi dậy những xúc cảm lịch sử, kích thích hứng thú học tập, tạo cơ sở để giáo dục tư tưởng, tình cảm học sinh. Ngoài ý nghĩa giáo dưỡng, giáo dục, phát triển tính tích cực, chủ động, độc lập trong nhận thức, đặc biệt trong tư duy còn là phương thức tốt góp phần phát huy các năng lực nhận thức, năng lực thực hành, kĩ năng, kĩ xảo của học sinh nói chung và rèn luyện các thao tác cũng như chất lượng của tư duy nói riêng. 1.2. Thực trạng dạy và học trước khi tạo ra sáng kiến Trong vài năm gần đây, bộ môn Lịch sử nói chung và môn Lịch sử trong trường Trung học cơ sở nói riêng đã được chú trọng hơn trước . Điều đó được thể hiện ở chỗ môn Lịch sử được xếp ngang hàng với các môn khác như Địa Lý, Giáo dục công dân, Vật Lí , Hoá học, Sinh học được tổ chức thi tuyển học sinh giỏi, thi tuyển vào THPT với tư cách là bộ môn tổ hợp; được cung cấp thêm các trang thiết bị và tài liệu tham khảo phục vụ cho việc daỵ và học .
  2. 4 Tuy nhiên qua một số năm giảng dạy bộ môn này tôi thấy rằng việc dạy học môn Lịch sử hiện nay vẫn còn giặp rất nhiều khó khăn, trở ngại, nhất là việc phát huy tính tích cực của học sinh. Điều đó đã dẫn đến chất lượng bộ môn đối với học sinh lớp 9 khi ra trường là không cao, chưa đáp ứng được yêu cầu giáo dục và mục tiêu đào tạo đặt ra. Thực trạng của vấn đề này tập trung ở những lý do sau: Thứ nhất: Vẫn tồn tại một quan niệm cố hữu cho rằng môn Lịch sử cũng như Địa lí , Kĩ thuật , Thể dục , GDCD đều là những môn phụ. Thực tế có một số trường hiện nay không có giáo viên chuyên sử mà giáo viên chủ yếu dạy kẹp nhíp ( Giáo viên Văn , Địa lí, GDCD phải dạy sử) do đó không đáp ứng yêu cầu của bộ môn, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay. Thứ hai: Về cơ sở vật chất phục vụ giảng dạy và học tập tuy đã được đầu tư nhưng vẫn còn thiếu so với yêu cầu giáo dục hiện nay. Tình trạng dạy chay vẫn còn khá phổ biến. Trong suốt quá trình học bộ môn từ lớp 6 đến lớp 9 cả thầy và trò chưa có điều kiện tham quan các di tích Lịch sử vì không có kinh phí. Điều đó làm cho vốn kiến thức của các em chỉ bó gọn trong sách vở và bài giảng . Ngoài ra cách tổ chức một số cuộc thi cử cũng còn nhiều hạn chế, đó là chỉ chú trọng về mặt kiểm tra lí thuyết mà coi nhẹ bài tập thực hành, không chú ý đến việc phát triển năng lực sáng tạo của học sinh. Trên cơ sở thực tế trường THCS, tôi nhận thấy được các mặt tích cực và hạn chế của giáo viên và học sinh trong việc dạy và học như sau: * Về phía giáo viên. - Tích cực: Giáo viên đã cố gắng thay đổi phương pháp giảng dạy của mình theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh thông qua phương pháp dạy học trực quan, phương pháp giải quyết vấn đề, phương pháp tổng hợp, phương pháp vấn đáp, miêu tả, kể chuyện hoặc nêu đặc điểm của nhân vật Giáo viên đã tích cực hướng dẫn cho học sinh thảo luận nhóm, hỗ trợ kiến thức cho nhau và thông qua hoạt động này những bạn yếu kém được hoạt động tích cực hơn dưới sự hướng dẫn của giáo viên và các bạn khá, giỏi. Trong quá trình giảng dạy đã kết hợp nhuần nhuyễn các đồ dùng dạy học, khai thác một cách triệt để các đồ dùng và phương tiện dạy học như tranh, ảnh, bản đồ, sa bàn, mô hình, video, và từng bước ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học lịch sử. - Hạn chế:
  3. 5 Mặc dù giáo viên đã cố gắng đổi mới phương pháp dạy học, song nhìn chung vẫn là hoạt động của thầy như: phân tích, đánh giá, giải thích là chủ yếu, còn học sinh lắng nghe chép bài là phổ biến (80%) hoặc thầy đọc, trò chép. Giáo viên chưa tích cực hóa hoạt động của học sinh tạo điều kiện cho các em suy nghĩ, chiếm lĩnh và nắm vững kiến thức mà chỉ học thuộc một cách máy móc theo vở ghi hoặc sách giáo khoa. Ở các trường THCS hiện nay, giáo viên chỉ tập trung vào các giờ lên lớp, chưa quan tâm đến các hoạt động ngoài lớp. Giáo viên chưa nêu câu hỏi nhận thức đầu giờ, tức là sau khi kiểm tra bài cũ, điều này làm giảm bớt sự tập trung của học sinh ngay từ hoạt động đầu tiên. Một số câu hỏi giáo viên đặt ra khó, học sinh không trả lời được nhưng lại không có hệ thống câu hỏi gợi mở nên nhiều khi giáo viên phải trả lời thay cho học sinh. Nội dung học còn nặng về kiến thức và quá nhiều sự kiện trong từng tiết học, nên dẫn đến phải nhồi nhét kiến thức cho học sinh, không có thời gian rèn luyện cho các em năng lực độc lập, tư duy và lĩnh hội kiến thức. Đây là một thực tế đáng buồn hiện nay. Như vậy, việc học sinh không thích học Lịch sử, chưa tích cực trong hoạt động học tập nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ phương pháp dạy học của giáo viên. Vì vậy, việc đề xuất các biện pháp sư phạm giúp học sinh phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh trong dạy học Lịch sử là vấn đề cấp thiết. * Về phía học sinh: - Tích cực: Ở trường Trung học cơ sở, đa số học sinh chú ý lắng nghe giảng, tập trung suy nghĩ trả lời các câu hỏi mà giáo viên đặt ra, các em đã chuẩn bị bài mới ở nhà nên tiếp thu nhanh và nắm được nội dung bài học. Đa số học sinh đều tích cực thảo luận nhóm và đạt hiệu quả trong quá trình lĩnh hội kiến thức. Học sinh yếu kém đã có nhiều cố gắng và tích cực tham gia các hoạt động như hoạt động nhóm, đọc sách giáo khoa,..các em đã mạnh dạn khi trả lời các câu hỏi và ghi nhớ các sự kiện, nhân vật - Hạn chế: Tuy nhiên, một thực tế hiện nay cả phụ huynh và học sinh đều có tâm lý xem môn lịch sử chỉ là môn học phụ, không được coi trọng như các môn Toán, Lý, Hóa Mặt khác, nội dung còn quá nặng nề, nên khó thuộc, khó nhớ các sự kiện,
  4. 6 hiện tượng, nhân vật lịch sử nên các em không thích học, dẫn đến lười học và chưa có sự say mê môn Lịch sử, nhiều học sinh không chuẩn bị bài ở nhà, không làm bài tập, trên lớp thiếu tập trung lắng nghe và suy nghĩ. Cho nên việc ghi nhớ các sự kiện, hiện tượng, nhân vật lịch sử còn yếu. Học sinh vẫn thường trả lời các câu hỏi của giáo viên thông qua nhìn sách giáo khoa và nhắc lại, chưa có độc lập tư duy. Học sinh chỉ trả lời những câu hỏi dễ, đơn giản như trình bày, còn những câu hỏi như phân tích, so sánh, giải thích còn lúng túng, hoặc chỉ trả lời mang tích chất chung chung. + Qua điều tra, khảo sát chất lượng tại trường THCS, với phương pháp dạy học truyền thống đầu năm học 2022-2023 tôi thu được kết quả như sau: Kết quả Giỏi Khá Trung bình Yếu HS khối 9 Tổng số TS Tỉ lệ TS Tỉ lệ TS Tỉ lệ TS Tỉ lệ 104 18 17,3% 30 28,9% 48 46,1% 8 7,7% Từ kết quả điều tra thực tế chất lượng dạy học và quá trình công tác, bản thân đã mạnh dạn áp dụng một số biện pháp nhằm phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh trong thực tế giảng dạy ở trường. Trên cơ sở những nguyên tắc trong dạy học Lịch sử, tôi đưa ra một số biện pháp sư phạm nhằm phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh trong dạy học môn Lịch sử cấp THCS , với mong muốn góp phần nhỏ vào việc thay đổi phương pháp và nâng cao chất lượng bộ môn. Giáo viên phát huy được tính chủ động, tích cực trong quá trình dạy và học môn Lịch sử cấp THCS. Từ đó góp phần giúp học sinh phát triển năng lực tư duy, sáng tạo trong các nội dung lịch sử các cấp học tiếp theo. Quá trình hoạt động chung thống nhất giữa thầy và trò sẽ làm cho học sinh nắm vững hơn những tri thức, hình thành được kĩ năng, kĩ xảo cho học sinh, đồng thời góp phần bồi dưỡng phẩm chất đạo đức và hình thành nhân cách cho các em. Từ những hiểu biết về quá khứ học sinh sẽ xác định được nhiệm vụ hiện tại và có thái độ đúng với quy luật của tương lai. Đồng thời góp phần nâng cao nhận thức lịch sử cho học sinh, đảm bảo cho các em có đủ hành trang kiến thức cho hiện tại và có những cống hiến thiết thực để xây dựng quê hương đất nước trong tương lai. 2. Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến: * Đề xuất giải pháp mới nhằm khắc phục nhược điểm của phương pháp cũ:
  5. 7 - Dựa vào thực tế giảng dạy, dự giờ, trao đổi kinh nghiệm với các đồng nghiệp, thông qua tham khảo các sách báo, các phương tiện thông tin đại chúng. - Dựa vào công tác điều tra, khảo sát, nghiên cứu tình hình học tập của học sinh, thảo luận phương án xử lí. - Dựa vào kinh nghiệm giảng dạy, các hoạt động tiếp thu kiến thức của học sinh, từ đó phân tích, tổng hợp để đưa ra các giải pháp để ôn tập và nâng cao nội dung lịch sử phù hợp với từng bài và phù hợp với từng nhóm đối tượng học sinh. - Qua tìm hiểu đối chứng giữa phương pháp dạy học cũ (truyền thống) và phương pháp dạy học phát huy tính chủ động, tích cực của học sinh. * Tính mới, sự khác biệt của giải pháp mới so với giải pháp cũ: Qua tìm hiểu đối chứng giữa phương pháp dạy học cũ (truyền thống) và phương pháp dạy học phát huy tính chủ động, tích cực của học sinh nói chung và trong dạy học lịch sử nói riêng, có thể khẳng định : Các biện pháp phát huy tính chủ động, tích cực của học sinh sẽ mang lại hiệu quả cao hơn, nó đòi hỏi cả giáo viên và học sinh phải lao động sư phạm nhiều hơn. Phải chủ động, sáng tạo tiếp thu tinh hoa của cách dạy học truyền thống, đồng thời phải tìm tòi, sáng tạo ra các phương pháp dạy học mới nhằm khắc phục sự bảo thủ, chủ động, một chiều trong quá trình dạy học. * Các bước thực hiện giải pháp mới Biện pháp 1: Tạo hứng thú học tập cho học sinh * Mục tiêu: Kích thích HS tích cực, say mê học tập để tiếp thu những kiến thức mới, tự giác nắm vững kiến thức lịch sử. * Cách thực hiện: Tạo hứng thú học tập cho HS có vai trò quan trọng trong quá trình dạy học Lịch sử ở nhà trường. Có hứng thú học tập, HS nhanh chóng tiếp thu bài, nhớ bài lâu, hiểu được tầm quan trọng của lịch sử với sự phát triển của nhân loại. Hứng thú học tập còn kích thích các em tích cực, say mê học tập để tiếp thu những kiến thức mới, tự giác nắm vững kiến thức lịch sử và biết vận dụng những kiến thức đó vào thực tiễn cuộc sống. Hứng thú học tập giúp HS phát triển toàn diện, ý thức được trách nhiệm và nghĩa vụ của mình trong cuộc sống. Hứng thú học tập được hình thành trong quá trình dạy học của GV. Ý thức được điều này, tôi luôn chú ý tạo hứng thú học tập cho HS ngay từ những buổi học ban đầu, ngay từ khi HS làm quen với phân môn Lịch sử. Biện pháp 2: Sử dụng linh hoạt các kĩ thuật dạy học tích cực * Mục tiêu: Nhằm phát huy tính tích cực, chủ động trong học tập của học sinh.
  6. 8 * Cách thực hiện: Các kĩ thuật dạy học đó là: kĩ thuật Chia nhóm, kĩ thuật Giao nhiệm vụ, kĩ thuật Đặt câu hỏi, kĩ thuật Khăn trải bàn, kĩ thuật Trình bày một phút, kĩ thuật Hỏi và trả lời, kĩ thuật Đọc tích cực, kĩ thuật Phân tích phim, kĩ thuật Bản đồ tư duy. Với các kĩ thuật dạy học này, các em có cơ hội được thực hành, trải nghiệm, tích cực, chủ động, làm cho các em thích thú, giờ học nhẹ nhàng, thiết thực, bổ ích. Dưới đây tôi chỉ xin nêu một số kĩ thuật trong các kĩ thuật dạy học đó: * Kĩ thuật khăn trải bàn HS được chia thành các nhóm nhỏ từ 4 đến 6 người. Mỗi nhóm sẽ có một tờ giấy A0 đặt trên bàn, như là một chiếc khăn trải bàn. Chia giấy A0 thành phần chính giữa và phần xung quanh, tiếp tục chia phần xung quanh thành 4 hoặc 6 phần tuỳ theo số thành viên của nhóm (4 hoặc 6 người). Mỗi thành viên sẽ suy nghĩ và viết các ý tưởng của mình (về một vấn đề nào đó mà GV yêu cầu) vào phần cạnh “khăn trải bàn” trước mặt mình. Sau đó thảo luận nhóm, tìm ra những ý tưởng chung và viết vào phần chính giữa “khăn trải bàn” . * Ví dụ Bài 18: Nước Mĩ giữa hai cuộc chiến tranh thế giới (1918-1939) (Chương trình Lịch sử 8) Hoạt động 1: Nước Mĩ trong thập niên 20 của thế kỉ XX Tôi yêu cầu HS đọc thông tin, kết hợp với tư liệu sưu tầm làm việc theo nhóm 4: Nêu tình hình nước Mĩ trong thập niến 20 của thế kỉ XX bằng kĩ thuật khăn trải bàn. Sau đó cử đại diện trình bày trước lớp. HS được làm việc, được ghi lại những ý kiến của bản thân rồi tổng hợp thành ý kiến chung của nhóm: Mĩ bước vào thời kì phát triển kinh tế phồn vinh và trở thành trung tâm công nghiệp, thương mại và tài chính quốc tế, HS rất tích cực, hào hứng học tập với kĩ thuật dạy học này. * Kĩ thuật phòng tranh Mỗi thành viên (hoạt động cá nhân) hoặc các nhóm (hoạt động nhóm) phác hoạ những ý tưởng về cách giải quyết vấn đề trên một tờ bìa và dán lên tường xung quanh lớp học như một triển lãm tranh. HS cả lớp đi xem “ triển lãm’’và có thể có ý kiến bình luận hoặc bổ sung. Cuối cùng, tất cả các phương án giải quyết được tập hợp lại và tìm phương án tối ưu. * Ví dụ: Bài 4. Xã hội nguyên thuỷ (Chương trình Lịch sử 6, thuộc bộ sách Lịch sử &Địa lý 7- Bộ Cánh Diều) Tôi sử dụng kĩ thuật này ở 2 hoạt động : 1 là hoạt động tìm hiểu về đời sống vật chất của người nguyên thuỷ, 2 là hoạt động tìm hiểu đời sống của người nguyên
  7. 9 thuỷ ở Việt Nam. Tuy nhiên để thực hiện được kĩ thuật này, trước khi học bài này, tôi đã yêu cầu các em chuẩn bị tìm thông tin, tranh ảnh về các công cụ lao động, cách thức lao động, địa bàn cư trú của người nguyên thuỷ và những công cụ, vật dụng mới được người nguyên thuỷ ở Việt Nam chế tạo ra tiêu biểu ở thời kì này của các nền văn hoá Hoà Bình, Bắc Sơn, Quỳnh Văn....Trong giờ học tôi chia các nhóm làm việc: gắn tranh ảnh, thông tin hoặc ghi những thông tin quan trọng đáp ứng yêu cầu thảo luận. Qua “triển lãm tranh” này HS đã rút ra được kiến thức cần nắm được của bài. HS hiểu được đời sống vật chất của người nguyên thuỷ trên thế giới cũng như đời sống của người nguyên thuỷ ở Việt Nam. * Kĩ thuật công đoạn HS được chia thành các nhóm, mỗi nhóm được giao giải quyết một nhiệm vụ khác nhau. Ví dụ: nhóm 1- thảo luận câu A, nhóm 2- thảo luận câu B, nhóm 3- thảo luận câu C, nhóm 4- thảo luận câu D. Sau khi các nhóm thảo luận và ghi kết quả thảo luận vào giấy A 0 xong, các nhóm sẽ luân chuyển giấy A O đã ghi kết quả thảo luận cho nhau. Cụ thể là: nhóm 1 chuyển cho nhóm 2, nhóm 2 chuyển cho nhóm 3, nhóm 3 chuyển cho nhóm 4, nhóm 4 chuyển cho nhóm 1. Các nhóm đọc và góp ý kiến bổ sung cho nhóm bạn. Sau đó lại tiếp tục luân chuyển kết quả cho nhóm tiếp theo và nhận tiếp kết quả từ một nhóm khác để góp ý. Cứ như vậy cho đến khi các nhóm đã nhận lại được tờ giấy A 0 của nhóm mình cùng với các ý kiến góp ý của các nhóm khác. Từng nhóm sẽ xem và xử lí các ý kiến của các bạn để hoàn thiện lại kết quả thảo luận của nhóm. Sau khi hoàn thiện xong, nhóm sẽ treo kết quả thảo luận lên tường lớp học. * Ví dụ: Bài 6 : Các nước Anh, Pháp, Đức, Mĩ cuối thế kỉ XIX- đầu thế kỉ XX (chương trình Lịch sử 8) Tôi thực hiện theo cách thức như trên, chia lớp thành nhóm để tìm hiểu về các nước này. Nhóm tìm hiểu về nước Anh, nhóm tìm hiểu về nước Pháp, nhóm tìm hiểu nước Đức và nhóm tìm hiểu về nước Mĩ. Sau đó các nhóm luân chuyển kết quả cho nhóm tiếp theo và nhận tiếp kết quả từ một nhóm khác để góp ý. HS rất thích thú khi học với kĩ thuật dạy học này. * Kĩ thuật các mảnh ghép * Ví dụ: Bài 8: Nước Mĩ (chương trình Lịch sử 9) Tôi chia HS thành các nhóm, sau đó phân công cho mỗi nhóm thảo luận, tìm hiểu về một nội dung: Nhóm 1,2: Kinh tế Mĩ sau chiến tranh thế giới thứ hai; Nhóm 3,4: Chính sách đối nội ; Nhóm 5,6: Chính sách đối ngoại; Nhóm 7,8: So sánh với Liên Xô.
  8. 10 Sau khi thảo luận nhóm về vấn đề đã được phân công, mỗi thành viên của các nhóm này sẽ tập hợp lại thành các nhóm mới, như vậy trong mỗi nhóm mới sẽ có đủ các HS đã tìm hiểu về vấn đề đã nêu ở trên và HS đã được tìm hiểu sâu vấn trong nhóm cũ sẽ có trách nhiệm trao đổi lại với cả nhóm về vấn đề mà mình có cơ hội tìm hiểu sâu. * Kĩ thuật “ Bản đồ tư duy” ( BĐTD) Trước hết, thế nào là Bản đồ tư duy? Bản đồ tư duy (Mindmap) là phương pháp được đưa ra như là một phương tiện mạnh để tận dụng khả năng ghi nhận hình ảnh của bộ não. Đây là cách để ghi nhớ chi tiết, để tổng hợp, hay để phân tích một vấn đề ra thành một dạng của lược đồ phân nhánh. Đây là một kĩ thuật để nâng cao cách ghi chép. Bằng cách dùng giản đồ ý, tổng thể của vấn đề được chỉ ra dưới dạng một hình trong đó các đối tượng thì liên hệ với nhau bằng các đường nối. Với cách thức đó, các dữ liệu được ghi nhớ và nhìn nhận dễ dàng và nhanh chóng hơn. Qua áp dụng phương pháp sử dụng BĐTD, học sinh hiểu và ghi nhớ bài học tốt hơn, việc vận dụng BĐTD vào dạy học Lịch sử 4 còn rèn luyện cho các em kĩ năng làm việc cũng như sắp xếp cuộc sống một cách khoa học hơn, tập luyện sự kiên trì và phát triển trí tưởng tượng, sáng tạo hiệu quả. Để vẽ được BĐTD, trước hết các em phải tưởng tượng được cách vẽ như thế nào. Vì vậy trước tiên tôi giới thiệu một số BĐTD để HS biết được sự phong phú và ích lợi của việc lập BĐTD. Ví dụ: BĐTD tổng hợp kiến thức bài 8: Nước Mĩ ( chương trình Lịch sử 9
  9. 11 Sau khi giới thiệu về BĐTD, tôi yêu cầu HS trình bày các kiến thức được thể hiện trên BĐTD bằng lời cho cả lớp cùng nghe.Sau khi HS dùng lời để mô tả đặc điểm của đối tượng, ở những bài sau tôi khuyến khích các em sử dụng hình ảnh để thể hiện đặc điểm của đối tượng, phát huy tối đa khả năng sáng tạo của HS và giúp các em dễ nhớ bài học. Ngoài ra, tôi chú ý dùng phấn màu (bút màu) trong quá trình vẽ BĐTD để hình thành cho các em thói quen dùng màu sắc để thể hiện các nội dung khác nhau.Sau khi hướng dẫn HS nắm được cách vẽ BĐTD, tôi hướng dẫn các HS sử dụng linh hoạt trong quá trình dạy học như trong phương pháp động não, đàm thoại - gợi mở, trong phương pháp thảo luận nhóm, trong củng cố kiến thức và bài ôn tập . Biện pháp 3: Hướng dẫn học sinh vẽ sơ đồ, đồ thị Phương pháp dạy học bằng hệ thống biểu đồ,đồ thị được sử dụng ở một số bài dạng tiến trình cách mạng, quá trình phát triển, tư tưởng nhận thức Phương pháp này giúp học sinh hứng thú,hiểu và nắm bài nhanh đặc biệt phù hợp trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi. VD: Bài 5: “Các nước Đông Nam Á” (chương trình Lịch sử 9) Vẽ đồ thị về quá trình hình thành và phát triển của Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN)? Trả lời: Quá trình hình thành và phát triển của Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN) Chart Title 10 9 Campuchia gia nhập Là o và Mianma gia 8 nhập 7 Việt Nam gia nhập 6 Thành lập ARF 5 AFTA 4 Bru-nây gia nhập 3 Kí hiệp ước Bali 2 ASEAN thành lập 1 0 1967 1976 1984 1992 1994 1995 1997 1999 Series 1 Series 2 Series 3
  10. 12 -Bước 1:Cho học sinh nêu các sự kiện tiêu biểu đánh dấu sự phát triển của ASEAN. -Bước 2:Vẽ đồ thị. -Bước 3: Cho học sinh nhận xét về sự phát triển của ASEAN Biện pháp 4: Tổ chức “Câu lạc bộ Em yêu lịch sử” Với mục đích khơi dậy niềm đam mê môn học, tôi luôn khuyến khích HS bằng cách tổ chức câu lạc bộ “ Em yêu lịch sử ”. Thực tế cho thấy đây là “sân chơi” bổ ích cho các em có niềm đam mê với lịch sử nước nhà. Và dưới đây là nội dung một buổi sinh hoạt Câu lạc bộ Em yêu lịch sử: VD Dành cho học sinh lớp 6 Mục đích là củng cố kiến thức về các sự kiện, hiện tượng, nhân vật thời đầu dựng nước và giữ nước đến năm 938. Các hoạt động chính như sau: * Trò chơi 1: Ai nhanh hơn? - Giáo viên treo 2 tấm bìa có kẻ sẵn sơ đồ lên bảng - Giáo viên chia lớp làm 2 đội, mỗi đội cử 2 bạn lên chơi. - Cách chơi: Khi giáo viên hô: “Bắt đầu!” lần lượt từng người chơi của đội ghi vào chỗ ( ) của sơ đồ tên hai giai đoạn lịch sử mà các em đã học từ bài 1 đến bài 5. Hết thời gian quy định đội nào ghi nhanh, ghi đúng tên 2 giai đoạn lịch sử đội đó thắng cuộc * Trò chơi 2: Đi tìm sự kiện - Giáo viên chọn một học sinh dẫn chương trình và điều khiển hoạt động - Khi người dẫn chương trình nêu tên thời gian thì người chơi phải nhanh chóng trả lời đúng sự kiện tương ứng. Ví dụ: + Người dẫn chương trình: Khoảng năm 700 TCN.. + Người chơi: Nước Văn Lang ra đời + Người dẫn chương trình: Năm 179 TCN + Người chơi: Triệu Đà chiếm được Âu Lạc + Người dẫn chương trình: Năm 40 + Người chơi: Khởi nghĩa Hai Bà Trưng + Người dẫn chương trình: Năm 938 + Người chơi: Chiến thắng Bạch Đằng - Trò chơi này có thể chơi chung cả lớp hoặc chia làm 2 đội. Đội nào có nhiều người tham gia hơn hoặc nhiều người trả lời đúng hơn là đội đó thắng cuộc. * Trò chơi 3: Đố vui lịch sử
  11. 13 - Giáo viên chọn một học sinh dẫn chương trình và điều khiển hoạt động - Sau khi người dẫn chương trình đọc câu hỏi, ai giơ tay (hoặc bấm chuông) trước sẽ được quyền trả lời. Nếu sai thì quyền trả lời thuộc về người khác. Người dẫn chương trình có thể hỏi: + Nhà nước đầu tiên của nước ta có tên là gì? (Văn Lang) + Nghề chính của nước Lạc Việt là gì? (Làm ruộng) + Nêu một số trò chơi trong lễ hội c ủa người dân Lạc Việt. (Đua thuyền, nhảy múa, đấu vật ) + Nước Âu Lạc tiếp nối nước Văn Lang vào thời gian nào? (Năm 218 TCN) + Khởi nghĩa Hai Bà Trưng nổ ra vào năm nào? (Năm 40) + Chiến thắng Bạch Đằng diễn ra năm nào? (Năm 938) - Kết thúc trò chơi, giáo viên nhận xét và khen ngợi các em hăng hái tham gia hoặc có nhiều câu trả lời đúng. * Trò chơi 4: Ô chữ kì diệu - Giáo viên treo tấm bìa chuẩn bị sẵn có ô chữ “CHIẾN THẮNG BẠCH ĐẰNG” lên bảng . Cũng có thể thiết kế ô chữ trên powerpoint - Mỗi tổ cử một đại diện lên chơi. - Giáo viên gợi ý: Ô chữ của chúng ta gồm 18 chữ cái. Đây là chiến thắng vẻ vang chấm dứt hoàn toàn hơn một nghìn năm nhân dân sống dưới ách đô hộ của phong kiến phương Bắc và mở ra thời kì độc lập lâu dài cho dân tộc ta. - Trò chơi diễn ra theo mô hình “Chiếc nón kì diệu”, người thắng cuộc là người có số điểm cao nhất và giải đúng ô chữ “Chiến thắng Bạch Đằng”. Tuy nhiên, như vậy là chưa đủ. Chính vì lẽ đó, tôi luôn cập nhật thông tin trên mạng Internet, tìm hiểu các cuộc thi bổ ích đã được triển khai, giới thiệu cho các em . Ví dụ như: Cuộc thi Tự hào Việt Nam do Trung ương Đoàn phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức. Cuộc thi tìm hiểu lịch sử “ Nhân tài đất Việt” do KizCiti tổ chức. Hội thi “Tìm hiểu lịch sử Việt Nam”. Cuộc thi "Em yêu lịch sử Việt Nam" do Bộ Giáo dục và Đào tạo phát động. Biện pháp 5: Học Lịch sử thông qua gia đình, các phương tiện thông tin, tham quan, dã ngoại . Gia đình là tế bào của xã hội, là môi trường quan trọng tác động đến hình thành nhân cách cho các em. Nét đẹp truyền thống về gia đình Việt Nam vẫn được giữ đó là nhiều thế hệ cùng sống chung trong một nhà. Vì thế, đây chính là một môi