Mô tả Sáng kiến Một số biện pháp làm tốt công tác chủ nhiệm lớp để nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh
Bạn đang xem tài liệu "Mô tả Sáng kiến Một số biện pháp làm tốt công tác chủ nhiệm lớp để nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
mo_ta_sang_kien_mot_so_bien_phap_lam_tot_cong_tac_chu_nhiem.docx
Nội dung tài liệu: Mô tả Sáng kiến Một số biện pháp làm tốt công tác chủ nhiệm lớp để nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh
- bộ hay thiếu sót, những khó khăn gặp phải của HS trong mỗi giờ học. *Một số tồn tại bất cập: - Hầu hết các em bố mẹ đều làm công nhân, một số em có hoàn cảnh đặc biệt, bố mẹ đi làm ăn xa các em phải ở với ông bà nên sự quan tâm đến các em chưa được sát sao. - Trong lớp có HS chậm phát triển nên mặc cảm, tự ti không hòa đồng với các bạn HS cùng trang lứa; một số HS ý thức tổ chức kỉ luật còn hạn chế. - Học sinh năm đầu tiên tếp cận với sách mới theo chương trình GDPT 2018 nên cả cô và trò không tránh khỏi bỡ ngỡ khi tiếp cận với yêu cầu cần đạt của chương trình. - Diễn biến tâm lí của học sinh khá phức tạp. Các em chưa có ý thức tổ chức kỉ luật cao, tính tự giác cũng còn kém. Phần lớn các em vẫn thích chơi hơn thích học. Một số em còn thụ động trong việc học. Có em lại e dè, nhút nhát, không tự tin. Chính vì thế chất lượng chưa đạt như mong muốn. Trước sự diễn biến phức tạp trong tâm lí của học sinh lớp 4, tôi nghĩ mình phải phát huy tốt vai trò chủ nhiệm lớp. Lương tâm của một nhà sư phạm luôn nhắc nhở tôi phải uốn nắn kịp thời cho các em hình thành có ý thức nội quy, nền nếp đã được quy định, tích cực chủ động trong mọi công việc, biết quan tâm giúp đỡ mọi người. Tôi nghĩ rằng, các em HS lớp tôi nói riêng và HS Tiểu học nói chung cần lắm người GV yêu nghề, mến trẻ, tận tâm với nghề có trách nhiệm cao trong công việc và có kinh nghiệm làm công tác chủ nhiệm lớp. Hãy là người thầy nghiêm khắc, người mẹ dịu hiền, người bạn tâm tình giúp các em có một tuổi thơ hồn nhiên, vui tươi, trong sáng, giúp các em được phát triển một cách toàn diện dưới mái trường Tiểu học thân thương. Xuất phát từ lí do trên, tôi đã chọn cho mình đề tài về “Một số biện pháp làm tốt công tác chủ nhiệm lớp để nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh”. III. NỘI DUNG ĐỀ NGHỊ CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN: III.1. Nội dung giải pháp đề nghị công nhận sáng kiến: Giải pháp 1. Tìm hiểu hoàn cảnh từng học sinh: Đón năm học 2023 – 2024, tôi được Ban giám hiệu trường Tiểu học Thị Trấn phân công nhiệm vụ giảng dạy và làm công tác chủ nhiệm lớp 4B. Lớp tôi có 40 HS. Các em đa số trong cùng một độ tuổi, có một em đã lưu ban, chậm phát triển nên chênh lệch tuổi với các bạn.Trước tiên tôi nghiên cứu lí lịch HS (hoàn cảnh gia đình, nghề nghiệp của bố mẹ, số con trong gia đình, ). Nghiên cứu về học bạ của HS. Trao đổi với HS để nắm bắt tâm tư, nguyện vọng, sở thích, thái độ của từng em trong quan hệ với tập thể lớp. 3
- Mặt khác, tôi trao đổi với GVCN năm cũ để nắm bắt tình hình chung của lớp cũng như tình hình học tập, rèn luyện của từng cá nhân. Sau tuần đầu nhận lớp tôi đã trực tiếp trao đổi với phụ huynh HS lớp mình để biết được điều kiện sống thực tế của các em, tạo mối quan hệ mật thiết với cha mẹ HS. Tôi đã tìm hiểu nhằm để biết được điều kiện sống của HS, biết được đặc điểm của học sinh để có biện pháp giáo dục hữu hiệu nhất. Trong buổi họp phụ huynh đầu năm, tôi cùng phụ huynh bầu ra Ban chấp hành hội cha mẹ HS của lớp theo từng khu vực HS ở để Ban chấp hành có điều kiện gần gũi các em. Tôi chủ động trao đổi, bàn bạc, thống nhất với phụ huynh biện pháp giáo dục, tránh làm các em bị tổn thương tâm lý. Tôi thường xuyên liên lạc với phụ huynh qua điện thoại, qua nhóm Zalo của lớp; kịp thời động viên khuyến khích những HS có biểu hiện chán học. Tôi phân loại đối tượng HS để có kế hoạch dạy học phù hợp. Như vậy tìm hiểu HS không chỉ đầu năm học mà là một việc làm liên tục, thường xuyên thì GV mới thu được những thông tin cụ thể có độ tin cậy về diễn biến tâm lí, hoàn cảnh HS để có biện pháp giáo dục kịp thời. Giải pháp 2. Lập kế hoạch công tác chủ nhiệm lớp: Ngay từ đầu năm học, căn cứ vào tình hình thực tế địa phương, đặc điểm tình hình trường, lớp; căn cứ vào kế hoạch của Nhà trường, tôi xây dựng kế hoạch chủ nhiệm lớp một cách chi tiết trong từng tuần, từng tháng, từng học kì, bám sát các công tác của nhà trường và các nhiệm vụ của người GVCN để xây dựng kế hoạch. Với mỗi nhiệm vụ, tôi ghi rõ biện pháp thực hiện, phân công cụ thể từng việc cho GV và HS. Hàng ngày, hàng tuần, tôi quan sát, theo dõi, trao đổi, kiểm tra, nhận xét quá trình học tập, rèn luyện của HS, kịp thời phát hiện những cố gắng tiến bộ của HS để tư vấn, hướng dẫn, giúp đỡ; đưa ra nhận định đúng những ưu điểm nổi bật và những hạn chế của mỗi HS để có giải pháp kịp thời nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động học tập, rèn luyện của HS góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục tiểu học. a) Thành lập và phát huy vai trò của đội ngũ cán sự lớp, xây dựng ý thức tự quản của lớp: Để xây dựng một tập thể tự quản tốt, muốn ổn định mọi hoạt động của lớp thì cần có đội ngũ cán bộ, cán sự lớp tự tin, năng động. Khi nhận lớp, tôi chưa bầu cán sự lớp ngay mà sử dụng ban cán sự lớp năm học trước. Sau 2 tuần, khi các em phần nào hiểu được bạn mình, tôi tổ chức bầu cán bộ lớp. Tôi đưa ra các chức danh: Lớp trưởng, 3 lớp phó ( lớp phó phụ trách học tập, lớp phó phụ trách lao động vệ sinh, lớp phó văn thể mĩ). Dưới nữa là các tổ trưởng. Tuy nhiên đội 4
- ngũ cán sự lớp không cố định, hết HKI, tôi tổ chức bầu lại. Nêu HS nào thực hiện tốt công việc được giao sẽ được các bạn tín nhiệm lại. Tôi đã thực hiện theo các bước sau: + Cho HS tự ứng cử, đề cử vào từng chức vụ. + Lần lượt từng HS lên vận động tranh cử. + Tổ chức cho HS bỏ phiếu. Ban cán sự lớp đã bầu xong, tôi nói: “Các em đã tự lựa chọn bạn đại diện cho lớp giúp các thầy cô điều hành lớp. Vậy các em phải tôn trọng và giúp đỡ các bạn ấy thực hiện tốt nhiệm vụ của mình. Các em hãy cùng nhau đoàn kết để xây dựng lớp mình thành một tập thể vững mạnh”. Tiếp theo tôi hướng HS thảo luận để HS ghi nhớ nhiệm vụ của từng thành viên trong ban cán sự lớp.Trong thời gian đầu tôi dành thời gian để giám sát các em. HS nào không phù hợp với chức danh đã bầu thì có thể đề cử bổ sung, không nhất thiết HS đó cứ phải là việc mình không đủ khả năng hoặc không phù hợp. Chỉ trong một thời gian ngắn tôi thấy đội ngũ cán sự lớp tôi làm việc rất có hiệu quả. Tôi lập sơ đồ Ban cán sự của lớp 4B. Nhìn vào sơ đồ đó các em sẽ luôn luôn nhớ trách nhiệm và sẽ cố gắng làm tốt công việc của mình. b) Tổ chức thảo luận, học tập và thực hiện nội quy trường lớp: Tôi không muốn áp đặt các em mà để tự các em khám phá, tìm ra chân lí. Tiết sinh hoạt lớp trong tuần đầu tiên, tôi tổ chức, gợi ý cho các em xây dựng nội quy lớp học. Tôi đặt ra các câu hỏi như: + Để học tốt chúng mình cần làm gì? + Muốn có một tập thể lớp vững mạnh chúng ta phải làm gì? + Chúng ta cần có thái độ thế nào đối với người lớn? + Cần làm gì để chấp hành luật giao thông đảm bảo an toàn giao thông? Có thể câu trả lời của các em không thật đầy đủ nhưng qua gợi ý của tôi các em phần nào nhận thức được những việc cần làm. Và nội quy với thông điệp: Cây nội quy: chuyên cần, đoàn kết, lễ phép, tự giác, sáng tạo, chăm ngoan, chấp hành luật giao thông được ghi trong những bông hoa rất đẹp treo ở bên cửa ra vào. Để các em cùng thi đua thực hiện tốt nội quy lớp học, tôi lại cùng các em đưa ra hình thức khen thưởng những HS có tiến bộ về mọi mặt. Kết quả được ghi nhận kịp thời qua “Kết quả thi đua” được trang trí ở vị trí trang trọng, nổi bật ở đầu lớp. Những bạn nào thực hiện tốt, không mắc khuyết điểm thì được tặng cờ thi đua. Hàng ngày, các tổ trưởng phải theo dõi các bạn trong tổ của mình, xem các bạn học tập thế nào, trong giờ có hăng hái giơ tay phát biểu 5
- không, bạn nào hoàn thành xuất sắc nội dung bài học, tích cực tham gia đầy đủ các hoạt động giữa giờ, bạn nào vi phạm nền nếp như ăn quà vặt, ăn mặc không đúng quy định, đi học muộn, Cuối tuần thống kê tuyên dương những HS có ý thức tốt, em nào mắc phải khuyết điểm tự nhận lỗi trước lớp và GVCN nhắc nhở, khuyên bảo các em. Luôn khuyến khích, động viên kịp thời sự tiến bộ của các em cho dù là nhỏ nhất. Qua những việc làm như vậy, tôi thấy phong trào thi đua của lớp rất sôi nổi, các em tiến bộ rõ rệt. c) Sắp xếp chỗ ngồi hợp lí cho học sinh: Lớp học với 40 HS có chiều cao thấp khác nhau, trình độ nhận thức cũng khác nhau. Tôi chia lớp làm 6 nhóm học tập, mỗi nhóm đều có đủ đối tượng cả về mặt nhận thức các môn học, sự hình thành và phát triển về phẩm chất, năng lực để các em giúp đỡ lẫn nhau và nhóm sẽ ưu tiên những bạn bé, bạn bị bệnh về mắt hoặc những bạn yếu sẽ được ngồi trên. Mỗi kì học 4 lần, tôi luân chuyển các nhóm theo vòng tròn khép kín. Làm như thế sẽ đảm bảo được tính công bằng cho HS và nhất là giúp các em tránh một số bệnh về mắt. Đối với một số HS đã được ưu tiên cũng sẽ không bao giờ phải ngồi xa bảng quá. Giải pháp 3. Giáo viên chủ nhiệm luôn gần gũi, thân thiện, là tấm gương sáng để học sinh noi theo: Trong mắt nhìn, trong suy nghĩ của HS, bao giờ hình ảnh của người thầy, người cô luôn là một tấm gương đẹp nhất. Bởi vậy sự chuẩn mực của thầy cô trong ứng xử, giao tiếp với các em là hết sức cần thiết. Những lời nói ân cần, cử chi gần gũi sẽ tạo được sự hòa đồng, tin tưởng, dễ sẻ chia, cảm thông ở HS và sự ân cần này phải được duy trì mọi lúc, mọi nơi. Không chỉ trang bị cho mình những kiến thức cần thiết cho việc giảng dạy, những vốn sống về con người, cuộc đời, người GVCN cần rèn luyện cho mình đạt những phẩm chất đạo đức một cách chuẩn mực trên cơ sở đó mới có thể nhắc nhở, uốn nắn HS. Từ hành vi, ngôn ngữ, cách ứng xử, cách suy nghĩ, đánh giá những việc trong cuộc sống, những thói quen trong sinh hoạt .luôn được người GVCN tự xem xét, điều chỉnh, không ngừng hoàn thiện mình trong mắt học trò. Cách ứng xử của GV trước lớp rất quan trọng. Mỗi lần HS có lỗi, tôi thường chỉ bảo các em: “Khi có lỗi, biết nhận lỗi và sửa sai là điều quan trọng hơn cả”. Nhiều lần như thế, mưa dầm thấm đất, tôi thấy các em đã ý thức được việc sửa sai của mình. Khi lên lớp, tôi thường nói gọn, rõ ràng, dứt khoát, dùng từ, câu dễ hiểu, hợp với trình độ HS. Biết lắng nghe HS nói. Mỗi khi các em 6
- phát biểu ý kiến hay nói một điều gì, cho dù bận rộn cũng phải lắng nghe các em nói. Có như vậy khi thầy cô nói các em mới chú ý nghe trở lại. Bên cạnh đó, GVCN phải biết thông cảm và chia sẻ những khó khăn của các em. Trả lời những câu hỏi của các em một cách thấu đáo (nếu chưa có câu trả lời, hứa sẽ tìm câu trả lời chính xác). Cho các em biết là các em có thể điện thoại cho thầy cô để nói chuyện hay hỏi bài vở: cách làm bài, giải thích chữ khó, cách trả lời ... Hỏi các em về những khó khăn trong đời sống, những khó khăn ở trường... giúp các em giải quyết những khó khăn này. Trong lớp học hay ngoài lớp học, thầy cô còn phải đóng vai người anh, người chị mà các em có thể tin tưởng, nhờ cậy được. Qua đó, các em biết sống nhẫn nại, kiên trì và giàu lòng nhân ái. Thỉnh thoảng trong giờ ra chơi hay một số tiết hoạt động tập thể tôi thường tụ tập các em xung quanh mình. Nhìn ánh mắt hồn nhiên, trong sáng của các em, tôi thấy mình phải cố gắng để lại ấn tượng tốt trong lòng các em. Để các em thoải mái khi nói chuyện, tôi luôn tươi cười, hỏi các em những khó khăn trong đời sống, những khó khăn ở trường... và cùng các em tháo gỡ những khó khăn này. Mỗi khi các em phát biểu ý kiến hay thưa cô một điều gì cho dù bận rộn lắm tôi cũng lắng nghe các em nói. Sau mỗi tuần, tôi kiểm tra và đọc thật kĩ ý kiến của các em và giải đáp đến nơi, đến chốn. Tùy từng tình huống tôi có thể giải đáp trước lớp hoặc với từng cá nhân HS. Cũng có khi, tôi nhắc nhở các em gái cặp tóc cho gọn gàng, vệ sinh cá nhân sạch sẽ, hỏi han thân tình, khuyến khích các em ăn thêm cơm, uống sữa để tăng sức khỏe. Qua đó giúp các em sống cởi mở và giàu lòng nhân ái. Mặt khác, HS Tiểu học rất thích thầy cô ăn mặc đẹp. Vì thế tôi cũng luôn để ý đến cách ăn mặc gọn gàng, đẹp, lịch sự phù hợp trong môi trường giáo dục để cho các em có ấn tượng tốt về thầy cô của mình. Trước những tình cảm và việc làm đó của tôi đã tác động tích cực đến HS. Giải pháp 4. Nâng cao chất lượng dạy các môn học và các hoạt động giáo dục khác: a) Tạo giờ học nhẹ nhàng, hiệu quả: - Trước hết là việc thực hiện chương trình và kế hoạch dạy học theo quy định của Bộ, ngành. Tôi lưu ý đến việc dạy học theo phát triển năng lực, phẩm chất HS theo yêu cầu cần đạt của Chương trình GDPT 2018. - Thứ hai tôi quan tâm đặc biệt tới việc thiết kế bài, chuẩn bị kĩ Kế hoach bài dạy trước khi lên lớp; soạn bài theo hướng đổi mới, phát huy tính tích cực, chủ động của HS trong chiếm lĩnh tri thức làm sao để GV chỉ là người tổ chức, 7
- điều khiển, hướng dẫn cho HS chủ động chiếm lĩnh tri thức. Chú trọng đến bồi dưỡng năng lực suy nghĩ, vận dụng sáng tạo kiến thức đã học, tránh thiên về ghi nhớ máy móc, không nắm vững bản chất vấn đề của HS. Câu hỏi cần rõ ràng, cụ thể, có sức khái quát cao và có sự phân hóa cho từng đối tượng HS để giờ học thực sự hấp dẫn sinh đông, cuốn hút. - Thứ ba là việc thực hiện giờ dạy trên lớp. GV cần tổ chức hoạt động học đa dạng cho HS, thực hiện linh hoạt các khâu lên lớp từ kiểm tra bài cũ, khám phá, vận dụng – thực hành, ôn luyện, củng cố, nâng cao kiến thức đã học, đến việc kiểm tra, đánh giá bước đầu việc nắm kiến thức của HS ngay trên lớp. Để giờ dạy có hiệu quả GV nên chú ý đến sự kết hợp các phương pháp dạy học một cách linh hoạt. Tăng cường sử dụng đồ dùng dạy học, ứng dụng công nghệ thông tin để dạy học đặc biệt là tích cực sử dụng các trò chơi vào trong các tiết học, coi đó là công cụ hỗ trợ tích cực cho hoạt động dạy học có hiệu quả nhưng cũng không nên lạm dụng công nghệ thông tin biến nó thành phương tiện dạy học chính yếu,...Để giờ dạy hấp dẫn GV cần sử dụng ngôn ngữ chuẩn xác, trong sáng, sinh động, ngắn gọn, dễ hiểu, tác phong thân thiện, gần gũi, coi trọng việc khuyến khích, động viên HS học tập, tạo hứng thú thực sự cho các em. - Thứ tư là tạo tiếng cười trong mỗi tiết học: Tiếng cười là liều thuốc bổ. Tiếng cười trong dạy học- giáo dục sẽ làm tan đi không khí căng thẳng vì tư duy khoa học. Không những thế, tiếng cười còn tạo ra hưng phấn để kích thích suy nghĩ. Những người thông minh thường có tính hài hước, chính sự hài hước lại tác động vào não để kích thích tư duy. Khi giảng bài, GV vận dụng tính hài hước để thu hút sự chú ý của HS. Có nhiều cách để tạo tiếng cười. Riêng tôi, thường gây cười bằng những mẩu chuyện vui có nội dung tương tự bài học hay từ ngay chính những những hành động, đặc điểm ngây thơ của HS. Gây cười ở đây không phải là chế giễu mà tạo cho HS sự tự nhiên, tạo cho không khí lớp học thoải mái hơn. - Thứ năm, để có một giờ dạy thực sự hiệu quả, sinh động người GV cần có nền tảng kiến thức vững vàng, kĩ năng ứng xử sư phạm linh hoạt. Muốn vậy cần không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ qua hình thức tự học, tích cực dự giờ đồng nghiệp, tích cực tham dự các lớp bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, Như vậy ngoài trang bị kiến thức một cách tốt nhất, GV cần chú trọng sử dụng lời nói thân thiện, ánh mắt, cử chỉ trìu mến, khuyến khích động viên kịp thời, thưởng phạt công bằng, tạo tiếng cười trong mỗi tiết học sẽ tạo được giờ học nhẹ nhàng, hiệu quả. 8
- b) Thực hiện tốt Hoạt động trải nghiệm - Tiết sinh hoạt lớp: Sinh Hoạt lớp là một tiết học có thời lượng như bao môn khác nhưng hiệu quả mà nó mang lại là vô cùng to lớn, sau một tuần học dài các em lại được tập làm người lớn, biết tự nhận xét bản thân mình, cũng biết phê bình góp ý cho bạn nói chung tiết sinh hoạt cuối tuần của lớp tôi rất là vui và luôn được các bạn ấy mong đợi. Còn riêng phần tôi thì tôi nhận thấy cứ sau một tuần đó các con lại lớn lên một chút, lớn lên về nhận cách và lớn lên cả về năng lực. Tiết sinh hoạt lớp được tôi chú trọng, quan tâm và thực hiện nên hiệu quả mang lại là rất lớn trong quá trình dạy và học; nó mang lại giá trị rất cao trong quá trình giáo dục, rèn luyện và hoàn thiện nhân cách cho các em, cũng từ đó mà các em chú ý hơn vào các hành động cũng như lời ăn tiếng nói của mình, các em biết mình đúng, biết mình sai, và sữa sai cho bản thân. Đây chính là một biện pháp các em biết hoàn thiện bản thân. c) Tổ chức hướng dẫn học sinh tham gia các hoạt động trải nghiệm tập thể, hoạt động ngoài giờ lên lớp: Tích cực tổ chức cho HS tham gia các phong trào hoạt động Đội trong nhà trường. Thông qua các ngày lễ hoặc chủ điểm tháng tổ chức các hoạt động giáo dục truyền thống đạo đức, giáo dục kĩ năng sống cho HS. Thường xuyên tổ chức các trò chơi dân gian cho HS. Tổ chức tham gia lao động vệ sinh ở khu dân cư nơi mình sinh sống. quét dọn, Tổ chức các phong trào văn hóa, văn nghệ của lớp gồm những em có năng khiếu về ca hát để phục vụ các buổi sinh hoạt của lớp. Để giúp các em có tâm lí thật thoải mái, tiếp thu bài học được tốt hơn tôi thường xuyên tổ chức các tiết học ngoài không gian lớp học hay các tiết học dã ngoại. Trong giờ ra chơi, ngoài múa hát tập thể, tập các bài thể dục, giáo viên nên tổ chức cho các em chơi các trò chơi dân gian để hướng các em biết yêu quý và giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc. Ngoài ra, GV cần tìm hiểu năng khiếu khác của HS như bóng đá, cờ vua, cầu lông, ...rồi thành lập các tổ, nhóm phân công một số em luyện tập vào giờ ra chơi. Cũng từ đó tăng cường thêm sự đoàn kết của các thành viên trong lớp giúp HS hòa đồng, thân thiện với nhau hơn. Mặt khác HS được bổ sung và mở rộng thêm tri thức đã học, phát triển óc thẩm mĩ, tăng cường thể chất, nhận thức xã hội. Rèn luyện kĩ năng tự quản hoạt động ngoài giờ lên lớp. Đẩy mạnh phong trào “Nói lời hay làm việc tốt”. Nêu gương điển hình “Người tốt, việc tốt” để giáo dục HS. Xây dựng nền nếp, kỉ cương trong và ngoài giờ học, giáo dục tính 9
- trung thực trong học tập và rèn luyện. Giải pháp 5. Tích cực giáo dục kĩ năng sống trong quá trình giáo dục: Hiện nay việc đưa giáo dục kĩ năng sống vào dạy học đang được Bộ GD&ĐT chú trọng. Thông qua các môn học nhằm rèn luyện cho HS các kĩ năng như: Kĩ năng tự nhận thức; Kĩ năng tự phục vụ và tự bảo vệ; Kĩ năng ra quyết định; Kĩ năng kiên định và kĩ năng từ chối; Kĩ năng làm chủ bản thân; Kĩ năng giao tiếp; Kĩ năng hợp tác; Kĩ năng tư duy phê phán; Kĩ năng tìm kiếm và xử lí thông tin, Để giáo dục kĩ năng sống cho HS tôi đã làm như sau: - Giáo dục kĩ năng sống qua mỗi bài học: Nắm được các kĩ năng sống cụ thể của mỗi bài, từ đó có hình thức, phương pháp dạy học phù hợp để HS đạt được kĩ năng đó. - Giáo dục kĩ năng sống qua hoạt động ngoài giờ lên lớp. Qua các hoạt động đó cần giáo dục cho HS các kĩ năng cụ thể: + Kĩ năng tự phục vụ: vệ sinh thân thể (rửa tay, tắm), sắp xếp góc học tập, nhà cửa, quần áo, + Kĩ năng ứng phó với với môi trường xung quanh: tranh luận với bạn bè, thực hiện tham gia giao thông an toàn, + Kĩ năng giao tiếp, tham gia văn nghệ, vui chơi: đóng kịch, hát đồng ca, dân ca, múa hát sân trường, + Kĩ năng bảo vệ môi trường: Chăm sóc cây cối, giữ cho lớp học sạch sẽ, giữ cho môi trường xanh - sạch - đẹp, giữ gìn, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên. - Xây dựng những tiểu phẩm gần gũi có liên quan đến thực tế cuộc sống, hoặc đưa ra những tình huống trong sách kĩ năng sống giúp HS phân tích tình huống, có những nhận định tốt nhất trong cách xử lí tình huống làm giàu thêm kinh nghiệm sống cho HS. - Cập nhật sách giáo dục kĩ năng sống, kĩ năng xử lí tình huống trong tủ sách của lớp. Động viên HS đọc, tham khảo. Giải pháp 6. Kết hợp Gia đình - Nhà trường - Xã hội để giáo dục, giúp đỡ học sinh: Thường xuyên kết hợp các lực lượng trong nhà trường như Đoàn thanh niên, Đội TNTP Hồ Chí Minh để tiến hành các hoạt động giáo dục toàn diện trên lớp; kết hợp với các đồng chí GV chuyên để giúp đỡ những HS có hoàn cảnh khó khăn trong học tập và rèn luyện. Thường xuyên nắm bắt, cập nhật các thông tin của học sinh và báo cáo tình hình học tập cũng như nền nếp... của lớp về Ban giám hiệu nhà trường. Đề xuất ý kiến về biện pháp giáo dục về Ban giám 10
- hiệu nhà trường để chỉ đạo cùng phối hợp thống nhất tác động sư phạm tới lớp, tới từng HS. Kết hợp với các lực lượng ngoài nhà trường như cha mẹ HS để có thông tin hai chiều giữa GV và phụ huynh bằng cách thông qua sổ liên lạc, họp phụ huynh, trao đổi qua điện thoại, zalo... hoặc thăm gia đình HS. Liên hệ với chính quyền địa phương và các đoàn thể xã hội như Đoàn thanh niên, Hội khuyến học (của thôn, xã, dòng họ) để khen thưởng, động viên kịp thời. Đó là những phương pháp, cách thức mà tôi đã thực hiện trong quá trình chủ nhiệm lớp. Từ trong thâm tâm tôi luôn nhận thức được GVCN là người thầy đặc biệt, bởi họ không những phải làm nhiệm vụ dạy dỗ học trò như các GV khác mà còn phải gánh trên vai bao trách nhiệm nặng nề, đóng vai trò làm chiếc cầu nối giữa nhà trường với HS và gia đình HS, giữa các GV bộ môn với HS. Tâm lí của HS tiểu học không giống với học ở các cấp học trên. Vì vậy trong mọi hoạt động giáo viên cần phải khéo léo, luôn tạo không khí thoải mái trong mỗi giờ học, không nên bắt các em ngồi hàng giờ trong lớp để làm văn, giải toán,... Người GVCN giỏi là người phải có tâm và có tài, phải luôn luôn gẫn gũi, lắng nghe và thấu hiểu, coi các em như con của mình. III. 2. Tính mới, tính sáng tạo: Việc làm tốt công tác chủ nhiệm lớp là nhiệm vụ mà bất kì người giáo viên nào cũng có kế hoạch và thực hiện. Tuy nhiên, với các biện pháp trên, đã phát huy được tích tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh đáp ứng được mục tiêu cũng như những đổi mới trong giáo dục hiện nay.Việc đổi mới công tác chủ nhiệm lớp, phát huy tính chủ động tự quản, tự xây dựng nề nếp lớp học được xem là khâu đột phá trong nội dung công tác chủ nhiệm lớp hiện nay. Nếu chúng ta sử dụng phương pháp phát huy tính chủ động, tự quản của học sinh trong công tác chủ nhiệm lớp sẽ đem lại hiệu quả rõ rệt, làm cho học sinh có ý thức tự giác trong việc thực hiện các yêu cầu giáo dục, hình thành thói quen chăm lo, chủ động trong các phong trào và các hoạt động của lớp, phát triển ý thức và năng lực tự quản các hoạt động của lớp và của mỗi cá nhân. Học sinh nhận thức được rằng tập thể lớp chính là ngôi nhà nhỏ của các em mà ở đó chính các em chứ không phải ai khác là người có trách nhiệm gắn bó xây dựng để ngôi nhà ngày càng hạnh phúc hơn. Đào tạo thế hệ trẻ trở thành những người năng động, sáng tạo, độc lập tiếp thu tri thức là một vấn đề mà nhiều nhà giáo dục đã và đang quan tâm trong giai đoạn hiện nay. Ngày nay, song song với việc dạy học văn hóa theo hướng hiện đại, tăng cường tính chủ động, sáng tạo và phát huy tính tích cực của học sinh 11
- thì việc đổi mới giáo dục nhân cách học sinh theo hướng trên cũng là một vấn đề cấp thiết đang được đặt ra. Trong việc giáo dục nhân cách học sinh, giáo viên chủ nhiệm đóng vai trò hết sức quan trọng. Vì vậy, đổi mới công tác chủ nhiệm được đặt ra đối với giáo viên được phân công đảm nhận công việc này, việc phát huy tính chủ động tự quản của học sinh được xem là khâu đột phá trong nội dung đổi mới công tác chủ nhiệm, công tác giáo dục nhân cách học sinh. Trong thực tế, nếu học sinh không có nề nếp tự quản tốt thì việc giáo dục và dạy học trên lớp sẽ không đạt hiệu quả cao. Đi đôi với chất lượng thì kết quả học tập, công tác xây dựng nề nếp cho học sinh là một trong những nhiệm vụ trọng tâm hàng đầu của người giáo viên tiểu học trong giai đoạn hiện nay. Học sinh có được kĩ năng sống cơ bản sẽ giúp các em có khả năng xử lý các tình huống trong cuộc sống, có ý thức bảo vệ sức khỏe, phòng tránh các tai nạn, phòng ngừa bạo lực và tệ nạn xã hội. Giúp các em xác định những mục tiêu của cuộc sống hiện tại và tương lai. Giáo dục kỹ năng sống đầy đủ sẽ tạo điều kiện và định hướng cho các em rèn luyện để trở thành những công dân hữu ích trong tương lai giàu lòng yêu quê hương, đất nước, sẵn sàng cống hiến tài năng trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Qua việc áp dụng một số biện pháp trên trong công tác chủ nhiệm lớp của mình, tôi thấy lớp tôi có chuyển biến rõ rệt về nề nếp cũng như chất lượng học tập. Đặc biệt là giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, tri thức, nhân cách, sức khoẻ, thẩm mỹ và có kĩ năng sống tốt. III.3. Phạm vi ảnh hưởng, khả năng áp dụng của sáng kiến Sáng kiến kinh nghiệm này đã được đúc kết từ thực tiễn quá trình làm công tác chủ nhiệm của bản thân. Những biện pháp nêu trên, nó không quá nặng nề đối với các em. Giáo viên cần thường xuyên theo dõi, nhắc nhở, làm gương nhằm giúp các em có ý thức tự giác, tự điều chỉnh các hành vi, hình thành nên những thói quen nề nếp tốt. Vì vậy, có thể áp dụng rộng rãi đối với các khối lớp trong các trường Tiểu học. Đề tài dễ áp dụng, dễ thực hiện bởi các biện pháp đề ra không quá khó đối với giáo viên, nội dung thực hiện rất gần gũi với giáo viên, học sinh, gắn bó với cuộc sống sinh hoạt hằng ngày. Những biện pháp thực hiện rộng rãi, gần gũi, dễ tuyên truyền, dễ áp dụng trong đơn vị nhà trường, cho tất cả giáo viên và cộng đồng. Với mục tiêu hướng các em tới “Tiên học lễ, hậu học văn” và kết hợp tốt giữa 3 môi trường giáo dục Nhà trường- Gia đình- Xã hội. Tổ chức hướng dẫn HS thực hiện tốt “5 điều Bác Hồ 12
- dạy”. Giúp các em biết vận dụng những kiến thức trong môn Đạo đức để có những hành vi chuẩn mực. Giáo dục HS tính thật thà, dũng cảm, trung thực. Gặp và trao đổi trực tiếp với gia đình về những vấn đề còn vướng mắc trong khi giáo dục đạo đức cho các em để các em luôn là những người con ngoan, biết kính trên nhường dưới, vâng lời, lễ phép với ông bà, người lớn tuổi, thầy cô và đoàn kết với bạn bè. III.4. Hiệu quả, lợi ích thu được do áp dụng giải pháp. Qua một thời gian thực hiện các biện pháp trên, theo dõi quá trình học tập và quan sát mọi hoạt động của học sinh, tôi đã thống kê được: Số HS chăm học, tự tin, Số HS chưa tự giác thụ Số HS e dè, nhút nhát chủ động trong hoạt động học, chơi theo trong hoạt động học, động học, chơi, sống có khuôn mẫu chơi tình cảm SL % SL % SL % 35 87,5 4 10 1 2,5 Từ việc áp dụng các biện pháp trên mà nền nếp lớp chủ nhiệm luôn xếp loại tốt. Từ nền nếp tốt đã thúc đẩy chất lượng lớp được nâng cao. Cụ thể, trong đợt kiểm tra cuối học kì I, kết quả xếp loại của lớp tôi như sau: + Về các môn học đánh giá bằng điểm số: Điểm 9-10 Điểm 7-8 Điểm 5-6 Điểm <5 Môn SL % SL % SL % SL % Tiếng Việt 33 84,6 5 12,8 1 2,6 0 0 Toán 34 87,2 4 10,2 1 2,6 0 0 Tiếng Anh 30 76,9 7 17,9 2 5,2 0 0 + Các môn đánh giá bằng nhận xét đều: Hoàn thành tốt và hoàn thành. + Nền nếp lớp các tháng đều xếp loại Tốt. Cuối HK1 lớp đạt danh hiệu Tiến tiến. Trong lớp không còn học sinh vi phạm nội quy trường lớp hay có hành vi gây mất đoàn kết như đánh bạn, giễu cợt bạn bè. Thay vào đó là sự quan tâm, biết yêu thương giúp đỡ bạn bè, có những hành động thân thiện, hợp tác, ứng xử văn minh lịch sự giữa các thành viên. Ý thức thực hiện mọi quy định và tham gia các hoạt động của của nhà trường rất sôi nổi. Không khí học tập tự quản 15 phút đầu giờ lúc nào cũng rất hiệu quả. 100% HS của lớp đều tích cực tham gia các buổi sinh hoạt tập thể, hoạt động ngoài giờ lên lớp, các hoạt động ngoại khoá: Tết Trung thu, chào mừng ngày 20/10, 20/11,.. Tham gia tích cực các cuộc thi Thể dục thể thao (lớp 13

