Mô tả Sáng kiến Một số biện pháp giúp học sinh Lớp 4, 5 học tốt văn miêu tả theo hướng phát triển năng lực

doc 15 trang Chăm Nguyễn 27/12/2025 150
Bạn đang xem tài liệu "Mô tả Sáng kiến Một số biện pháp giúp học sinh Lớp 4, 5 học tốt văn miêu tả theo hướng phát triển năng lực", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docmo_ta_sang_kien_mot_so_bien_phap_giup_hoc_sinh_lop_4_5_hoc_t.doc

Nội dung tài liệu: Mô tả Sáng kiến Một số biện pháp giúp học sinh Lớp 4, 5 học tốt văn miêu tả theo hướng phát triển năng lực

  1. + Thời lượng dạy học mỗi kiểu bài tương đối hợp lí. * Một số tồn tại, bất cập. - Nội dung dạy học Tập làm văn lớp 5chương trình chương trình GDPT 2000 tập trung chủ yếu vào dạy cấu tạo bài văn, dựng đoạn, viết bài, chưa chú trọng đến việc cung cấp vốn sống và bồi dưỡng cảm xúc cho học sinh về đối tượng miêu tả. - Giáo viên chủ yếu chú trọng dạy lý thuyết, chưa chú ý đến việc rèn kỹ năng, đặc biệt là các buổi quan sát thực tế. Việc học thường được diễn ra theo một quy trình: Thầy giảng – trò nghe rồi bắt chước làm theo. - Bên cạnh đó, việc học chỉ diến ra trong phạm vi không gian lớp học, thiếu những buổi thâm nhập vào thực tế, trải nghiệm nên các em chỉ được quan sát bằng hình thức tưởng tượng lại bài học. Đó cũng là một hạn chế khi làm bài, hạn chế khả năng và trí tưởng tượng phong phú của học sinh. Vì thế: - Nhiều em chưa có kĩ năng quan sát, chưa biết quan sát sự vật bằng nhiều giác quan mà chủ yếu quan sát bằng mắt, từ đó chưa cảm nhận được cái hay, cái đẹp, cái đặc sắc độc đáo của sự vật, hiện tượng. - Bài văn viết dưới dạng kể chưa có từ ngữ miêu tả. Đặc biệt các em dùng từ lặp nhiều, chủ yếu là liệt kê các bộ phận của sự vật, chưa diễn đạt được vốn từ ngữ, ngôn ngữ của mình về đối tượng cần tả. Diễn đạt câu còn lủng củng. - Sử dụng các biện pháp nghệ thuật tu từ, các từ ngữ gợi tả, gợi cảm còn mờ nhạt. Bởi vậy bài văn thường khô khan, ít cảm xúc. - Vốn sống, vốn kiến thức thực tế của học sinh còn hạn chế. Ngại đọc và lười đọc. - Bài làm các em còn sao chép lại văn mẫu. Với cách học ấy, các em không có cảm xúc gì về đối tượng miêu tả, miêu tả hời hợt, thiếu cái hồn, cái riêng, thiếu cái chân thực, cái hồn nhiên ngây thơ của tuổi học trò. Từ những bất cập trên, chúng tôi mạnh dạn đưa ra giải pháp“ Giúp học sinh lớp 4+5 học tốt văn miêu tả theo hướng tiếp cận năng lực” III. NỘI DUNG ĐỀ NGHỊ CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN: III.1. Nội dung giải pháp đề nghị công nhận sáng kiến 1. Giải pháp 1: Tổ chức, hướng dẫn học sinh quan sát đối tượng miêu tả thông qua dạy học trải nghiệm. Với học sinh Tiểu học, đặc điểm tâm lí của các em là từ Trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng. Mà văn tả cảnh là một thể loại văn khó, học sinh không thể ngồi trong nhà hoặc xem tranh ảnh hoặc video mà quan sát cảnh vật một cách trọn vẹn được. Nó đòi hỏi người viết phải có vốn kiến thức thực tế, sự quan sát và cảm nhận cảnh vật một cách tinh tế.Vì vậy giáo viên nên đề xuất với ban giám hiệu, bàn với hội phụ huynh của lớp để lên lịch cho học sinh tham gia trải nghiệm 3
  2. hoặc đi giã ngoại để các em được ngắm những cảnh đẹp quen thuộc nơi các em ở như: Cánh đồng, con sông, vườn cây, vườn hoa Trong thời gian ngắm cảnh, giáo viên hướng dẫn, định hướng cho học sinh quan sát có ghi chép để các em lấy tư liệu cho bài viết sau này. Từ đó hình thành trong đầu các em những đặc điểm tiêu biểu, nổi bật của cảnh vật được quan sát. Nếu được đi dã ngoại ngắm cảnh thì việc viết những câu văn hay, giàu cảm xúc với các em là không khó. Từ đó sẽ định hướng, giáo dục cho học sinh bộc lộ được tình cảm của mình với cảnh được tả. Ví dụ 1:Viết đoạn văn ngắn tả vườn rau nhà em. Bên cạnh luống xà lách là luống su hào. Những củ su hào xanh mịn, căng bóng, tròn xoe nằm lăn lóc trên mặt luống. Taù lá to bằng bàn tay người lớn, hình bầu dục xanh đậm đang đung đưa như đánh nhịp điệu nhạc cho bài hát của thiên nhiên. Trên những phiến lá xanh ấy còn đọng lại những giọt sương trong vắt, lấp lánh như pha lê. Luống cuối cùng mẹ em trồng những cây gia vị như hành, mùi, ngò gai, cà chua, ớt. Những trái cà chua đỏ tươi như những chiếc đèn lồng xinh xắn lấp ló trong tán lá xanh non. Quả một, quả chùm, quả treo trên ngọn trông thật ngộ nghĩnh, đáng yêu. Một làn gió nhẹ thổi qua, cây lá trong vườn đung đưa và rì rào ca hát. Từ những kinh nghiệm ấy tôi luôn luôn chú ý đến phương pháp “ Tổ chức cho học sinh quan sát dưới hình thức dạy học trải nghiệm”. Để làm được điều này, đòi hỏi giáo viên phải tạo điều kiện cho học sinh đến tận nơi để quan sát đối tượng trước khi miêu tả và coi đó là nguyên tắc khi giảng dạy văn miêu tả. Chỉ trên cơ sở thu nhận trực tiếp các nhận xét, các ấn tượng cảm xúc về sự vật, hiện tượng thì cảm xúc mới nảy sinh. Có như thế thì bài viết mới có cảm xúc thực sự. Khi đưa học sinh quan sát thực tế, vai trò hướng dẫn của người giáo viên là rất quan trọng. Giáo viên cần hướng dẫn các em cách chọn vị trí quan sát như thế nào để thuận lợi nhất, trình tự quan sát, khi quan sát được điều gì cần phải ghi nhận ngay, giáo viên phải cho học sinh làm bài thu hoạch ngay sau khi quan sát. Ví dụ 2: Có một đề văn như sau: “Em hãy tả cảnh cánh đồng lúa chín ở quê em vào một buổi sáng đẹp trời”. Để giúp cho các em làm tốt bài tập này. Theo tôi nên cho học sinh đi thăm cánh đồng vào buổi sáng. Trước khi đi tôi phổ biến cách để học sinh quan sát và ghi nhận thông tin, khi quan sát được bằng cách đưa ra một loạt những câu hỏi để các em trả lời các câu hỏi đó, như: - Từ xa em thấy cánh đồng lúa đang chín như thế nào? - Lại gần em thấy ruộng lúa sao? Khóm lúa, bông lúa, lá lúa, hạt lúa như thế nào? 4
  3. - Khi mặt trời lên cao, quang cảnh cánh đồng lúa ra sao? - Bên phải, bên trái cánh đồng lúa có gì đáng chú ý? Trong lúc quan sát tôi khéo léo gợi mở để các em có thể phát huy sự hiểu biết, vốn ngôn ngữ, kết hợp với khả năng liên tưởng cảm xúc để cho việc quan sát tốt hơn. Làm văn miêu tả không phải lúc nào cũng có đối tượng trước mắt để rồi thực hiện cách thức “bút chì cầm tay ghi chép tại hiện trường”. Ở lớp 4 tả con vật em quý, giáo viên có thể nhắc các em quan sát ở nhà và ghi chép những đặc điểm quan sát được theo hệ thống câu hỏi gợi mở cô hưỡng dẫn. Nhưng lên lớp 5, các em phải tả người như tả cô bán hàng, tả người hàng xóm, thì không thể quan sát đối tượng trực tiếp được mà các em phải sử dụng hồi ức của mình, phải huy động những hiểu biết, những nhận xét, những cảm xúc đã có trong ký ức của mình về đối tượng miêu tả để làm bài văn. Hồi ức tưởng tượng là cách nhìn gián tiếp sự vật, là phục hồi hình ảnh bằng cách gợi nhớ để giúp các em làm bài khi miêu tả. Bài văn miêu tả sẽ tốt, sẽ thành công khi hình ảnh sự vật được gợi lên trong tâm trí các em khá hoàn chỉnh. Nghĩa là sau khi các em đã hình dung đầy đủ sự vật các em sẽ viết được bài một cách chi tiết, hoàn chỉnh có sự lựa chọn. Trong các tiết học này, tôi luôn sử dụng hệ thống câu hỏi gợi mở để giúp các em dần hồi tưởng lại sự vật mà bài văn miêu tả yêu cầu tả. Ví dụ 3: “ Mỗi ngày đến trường là một ngày vui háo hức vì được học tập và vui chơi. Hãy tả lại một thầy giáo(hoặc cô giáo) để lại cho em nhiều ấn tượng sâu sắc nhất”. Đối với bài tập này tôi sử dụng một hệ thống câu hỏi mở rộng sau: - Thầy cô mà em yêu quý là ai ? Thầy(cô) có đặc điểm ngoại hình gì nổi bật ? Vì sao em yêu quý thầy( cô) giáo ấy? (Thái độ, cử chỉ, lời nói, ). - Khi miêu tả cô nên dùng từ ngữ nào để tả cho sát với thực tế? Ví dụ 4: Bài văn miêu tả hình dáng người bà của em. Dùng câu hỏi so sánh: - Hình dáng của bà có giống cô giáo trong bài trước không? - Nên dùng từ ngữ, hình ảnh nào để miêu tả một cách chính xác và phù hợp (hình dáng, cử chỉ như thế nào là gây ấn tượng và phù hợp nhất). Cứ như vậy, mặc dù dùng hồi ức tưởng tượng, các em vẫn có thể có đầy đủ các tư liệu chính xác về đối tượng miêu tả. Những chi tiết ghi nhận được tại chỗ trước đó sẽ trở lại với các em. 2. Giải pháp 2: Dạy văn miêu tả thông qua dạy Tích hợp liên môn các môn học. 5
  4. 2.1. Cách dạy tích hợp phân môn Tập làm văn vào các môn học và tác dụng, ưu điểm của nó. Dạy học tích hợp có nghĩa là đưa những nội dung giảng dạy phân môn Tập làm văn, đặc biệt là văn miêu tả thông qua các môn học như: Hoạt động trải nghiệm, Luyện từ và câu, Tập đọc, Mĩ thuật, Âm nhạc,.... Với học sinh Tiểu học, vốn từ của các em còn ít thì thông qua phân môn Luyện từ và câu, giáo viên giúp các em mở rộng vốn từ, viết được câu văn hay, giàu hình ảnh và đúng ngữ pháp. Thông qua phân môn Tập đọc, Âm nhạc, các em được học tập những bài văn, bài thơ hay, có tính nghệ thuật cao của các nhà văn, nhà thơ. Thông qua cái nhìn của những tác giả lớn , học sinh cảm nhận được cái hay, cái đẹp trong văn học, cảm nhận được tình yêu con người, yêu quê hương đất nước. Từ đó, thổi vào hồn các em tình yêu văn học và các em mong muốn viết được những đoạn văn hay, bài văn hay, giàu cảm xúc. Môn học Hoạt động trải nghiệm là môn học tác động trực tiếp đến sự tri giác của học sinh. Thông qua môn học này, giáo viên lồng ghép, dạy học sinh biết cách quan sát sự vật một cách bài bản, từ bao quát đến chi tiết rồi cảm nhận về cảm xúc của mình khi quan sát sự vật đó.... Cách dạy này mang tính thực tiễn khách quan hơn giúp cho bài học trở nên sinh động, thu hút với các em, không gây nhàm chán mà tạo động lực để các em sáng tạo, tự tư duy theo cách suy nghĩ của bản thân. Những kiến thức được các em vận dụng ngay vào giải quyết những vấn đề thực tiễn, ít học vẹt. Những nội dung đã tích hợp còn tiết kiệm thời gian học cho học sinh tìm hiểu những kiến thức khác vì các em không phải học đi học lại một nội dung ở những môn khác nhau nữa. Điều đó không những tạo quá nhiều áp lực, gây tẻ nhạt trong việc học, làm chậm khả năng tư duy của các em, biến bộ não thành những cỗ máy lập trình sẵn nữa mà thay vào đó làm tăng khả năng tự giác, chủ động trong học tập, giúp các em tìm lại niềm hứng thú. 2.2. Sự chuẩn bị của giáo viên Để đạt được mục tiêu: Học sinh thích học văn và viết tốt các bài văn miêu tả thì đòi hỏi giáo viên phải có sự am hiểu những kiến thức liên môn trong quá trình giảng dạy để dễ dàng tổng hợp lồng ghép, tích hợp kiến thức phân môn Tập làm văn một cách tự nhiên, nhẹ nhàng vào các môn học. Ngoài ra, một công cụ hỗ trợ đắc lực cho giáo viên trong giảng dạy chính là Hệ thống đồ dùng dạy học( ti vi, máy tính, máy chiếu). Với công cụ này, giáo viên có thể kết hợp nhịp nhàng với học sinh để các em giới thiệu được những hình ảnh mà các em quan sát được bằng hình ảnh kết hợp lời văn miêu tả.Giáo viên phải chuẩn bị thấu đáo, định 6
  5. hình kiến thức cần lồng ghép trong từng bài học là gì, để học sinh cảm thụ kiến thức một cách tự nhiên, thấm thuần, tránh sáo rỗng, nhàm chán. 3. Giải pháp 3: Hướng dẫn học sinh lập dàn ý bài văn miêu tả bằng cách sử dụng sơ đồ tư duy kết hợp với các phương pháp dạy học tích cực và đồ dùng dạy học hiện đại. Theo tôi đây là một việc làm khó. Giáo viên cần hướng dẫn cho học sinh lập dàn ý trước khi viết một bài văn hoàn chỉnh. Có lập được dàn ý thì mới có thể tìm ý sắp xếp ý, viết thành một bài văn mạch lạc bố cục rõ ràng ý văn trong sáng. HS phải tiến hành lựa chọn, sắp xếp thành hệ thống các ý, đưa chúng vào những phần khác nhau của một dàn bài cụ thể. Trong quá trình giảng dạy tôi thường sử dụng các phương pháp như sau: Phương pháp đàm thoại; tổ chức trò chơi; quan sát; hoạt động nhóm; đóng vai; tham quan môi trường thực tế, hoạt động trải nghiệm. Việc sử dụng các kĩ thuật dạy học tích cực như: sơ đồ tư duy, trình bày 1 phút, đã thực sự phát huy tác dụng tốt, tạo hiệu quả thiết thực trong tiết dạy tập làm văn. Từ dàn bài hình thành, mỗi HS sẽ triển khai các ý cho riêng mình và trình bày trước nhóm rồi trước lớp. Ý kiến của các em sẽ được em khác bổ sung và hoàn thiện. Qua đó, câu văn của các em sẽ trau chuốt hơn, có hình ảnh nghệ thuật hơn, ít sai lỗi dùng từ, đặt câu và hơn hết các ý trong bài văn thể hiện được cái tôi của riêng các em. Ví dụ: Sơ đồ tư duy khi dạy cấu tạo bài văn tả con vật: Sơ đồ tư duy của bài văn tả cảnh: 7
  6. 4. Giải pháp 4: Rèn kỹ năng phân tích đề bài cho học sinh: Đây chính là khâu quan trọng để học sinh xác định được đối tượng miêu tả có hướng đi đúng khi viết bài. Để làm tốt được điều này giáo viên phải rèn cho học sinh thói quen: đọc kĩ đề bài, xác định thể loại, kiểu loại miêu tả, đối tượng miêu tả, trọng tâm miêu tả đối với bất cứ đề văn nào trước khi làm bằng hệ thống câu hỏi khái quát như sau.( Với đề bài văn tả cảnh.) ? Đề bài thuộc thể loại văn nào ? ? Đối tượng miêu tả là gì ? Cảnh được miêu tả vào thời gian nào? ? Em định tả cảnh theo trình tự nào ? Trọng tâm miêu tả của cảnh ? + Ví dụ đề bài: Tả cảnh một buổi sáng( hoặc trưa, chiều) trong một vườn cây.( hay trong công viên, trên đường phố, trên cánh đồng, nương rẫy)( tiết 2) GV có thể hướng dẫn HS như sau: ? Đề bài thuộc thể loại văn gì ? Kiểu - Thể loại miêu tả- kiểu bài tả cảnh bài? - cảnh một buổi sáng ( hoặc trưa, chiều) ? Đối tượng miêu tả là gì? trong một vườn cây ( hay trong công viên, trên đường phố, trên cánh đồng, nương rẫy ? Em chọn tả cảnh nào? Trong thời - Buổi sáng trên cánh đồng hoặc buổi điểm nào? sáng trong vườn cây hoặc buổi chiều trong công viên hoặc buổi trưa trong vườn cây... - G lưu ý đây là một đề văn mở các em có quyền lựa chọn thời điểm miêu tả ( buổi sáng hoặc trưa hoặc chiều), đối tượng miêu tả (một vườn cây hay trong công viên, trên đường phố, trên cánh đồng, nương rẫy). Và em nên chọn cảnh để tả mà em thấy quen thuộc và thích thú nhất. - Giáo viên cùng học sinh lưu ý những đặc điểm khác nhau của từng đề để xác định trọng tâm miêu tả của từng đối tượng và lập dàn ý miêu tả. 5. Giải pháp 5: Cung cấp vốn từ ngữ cho học sinh, rèn kĩ năng đặt câu, viết đoạn. 8
  7. 5.1. Cung cấp vốn từ ngữ cho học sinh: Để cung cấp thêm vốn từ cho học sinh, trước tiên người giáo viên phải tiến hành dạy tốt các tiết Luyện từ và câu, đặc biệt là các kiểu bài:“Mở rộng vốn từ ”. Trong kiểu bài này giáo viên cần chú ý xây dựng vốn từ ngữ cho học sinh. Ngoài những từ ngữ vốn có trong sách giáo khoa, các em có thể tự bổ sung một số từ ngữ khác dựa vào sự hiểu biết của riêng mình về các chủ đề đã học. Khi giảng dạy Luyện từ và câu tôi thường dùng các phương pháp quy nạp, diễn dịch, đặc biệt là phương pháp quy nạp. Từ ngữ, các đơn vị lời nói nằm trong vốn ngôn ngữ tiếng Việt mà học sinh đưa ra, giáo viên có thể giúp học sinh quy nạp kiến thức, phân loại nó thành mô hình (mẫu). Các em có thể đặt lại câu theo mẫu đó với việc sử dụng nhiều từ gợi tả âm thanh và gợi tả hình ảnh khác nhau. Để giúp học sinh tăng thêm vốn từ ngữ giúp viết văn miêu tả được hay, có hình ảnh, khi dạy các tiết bổ trợ tôi đã sử dụng các biện pháp sau: * . Sưu tầm những đoạn văn miêu tả hay, cho học sinh đọc và yêu cầu học sinh thống kê những từ gợi tả âm thanh, hình ảnh, những từ gợi tả, gợi cảm trong đoạn văn đó. Mục đích của kiểu bài này không chỉ đơn thuần yêu cầu các em học sinh xác định được từ gợi tả âm thanh, hình ảnh trong đoạn văn mà còn giúp các em học tập được cách miêu tả và sử dụng từ ngữ trong văn miêu tả. Ở bài tập này, hầu hết các em phát hiện được các từ gợi tả âm thanh, hình ảnh . Trên cơ sở đó tôi phân tích để học sinh thấy rõ tác dụng của việc sử dụng các từ ngữ gợi tả hình ảnh, âm thanh trong bài tập đó. Tiếp theo bài tập ấy tôi đưa ra một bài tập khác nhằm kiểm tra việc nắm bắt những điều mà tôi vừa phân tích và giảng giải ở trên xem khả năng hiểu bài của các em đến đâu. Ví dụ: Cô có một loạt các từ gợi tả âm thanh, hình ảnh sau: phành phạch, lanh lảnh, rì rầm, lanh canh, í ới Hãy viết một đoạn văn ngắn miêu tả cảnh thôn xóm nơi em ở vào buổi sáng khi mọi người thức dậy đi làm. Với bài tập này giúp các em phát huy được óc sáng tạo, trí tưởng tượng của mình. * Ra các bài tập yêu cầu học sinh vận dụng linh hoạt các từ gợi tả, gợi cảm các biện pháp tu từ trong văn miêu tả. Ở đây học sinh cần phải nắm được nghĩa các từ đã cho từ đó mới có thể tìm được từ thay thế để được các câu văn có hình ảnh và sinh động hơn. Sau đây là một số ví dụ minh họa. Ví dụ: Cho các từ ngữ sau: Nhấp nhô, xanh biêng biếc, tấp nập, tung tăng.Em hãy lựa chon các từ đó thay thế cho các từ in nghiêng trong các câu văn sau để được các câu văn cụ thể, sinh động hơn ( dành cho HS trung bình, yếu) 9
  8. a. Mùa thu, con sông quê tôi nước rất xanh. b. Những cánh cò trắng muốt bay trên cánh đồng lúa chín. c. Xa xa, những ngọn núi cao thấp, vài ngôi nhà thấp thoáng. Bên cạnh các dạng bài tập trên để giúp học sinh cảm nhận được cái hay cái đẹp của thơ văn từ đó biết vận dụng vào bài văn của mình tôi đã hướng dẫn các em một số dạng bài tập có tính chất phát hiện cái hay cái đẹp của văn thơ. Các dạng bài tập này chủ yếu dành cho những em học sinh có chút năng khiếu văn, yêu thích học văn. 5.2. Rèn luyện kỹ năng viết lời văn giàu cảm xúc phù hợp với yêu cầu nội dung và thể loại miêu tả cảnh: Bài văn hay không thể thiếu cảm xúc của người viết. Cảm xúc không chỉ bộc lộ ở phần kết bài mà còn cần thể hiện trong từng câu, từng đoạn của bài văn.Vì vậy GV thường xuyên nhắc nhở các em viết lời văn miêu tả cần phải chân thực, giàu hình ảnh và giàu cảm xúc. Muốn làm được điều đó các em cần huy động vốn từ ngữ gợi cảm, gợi tả ( từ láy, từ ghép, nhiều động từ, tính từ các loại) và sử dụng các biện pháp nghệ thuật so sánh, nhân hoá...Vấn đề này giáo viên cần gợi ý cho các em một cách cụ thể trong từng bài. VD: Hướng dẫn HS viết câu chân thực, giàu cảm xúc: - Nhìn thấy cánh đồng lúa chín vàng trải rộng mênh mông bát ngát em thấy lòng mình như thế nào? ( Em vui lắm vì người dân quê mình sắp có một vụ mùa bội thu, no đủ). Tương tự như vậy yêu cầu học sinh đưa ra những suy nghĩ, cảm xúc, nhận xét một cảnh, một hiện tượng lạ mắt khác để bài văn của các em tránh được nhược điểm khô khan, liệt kê sự việc mà tạo được ấn tượng và cảm xúc cho người đọc. Nên yêu cầu học sinh có sổ tay văn học để nghi lại những ý văn hay, những câu văn đầy hình ảnh...để trau dồi kiến thức vốn ngôn ngữ cho bản thân khi viết văn. 6. Giải pháp 6. Rèn kỹ năng phát hiện lỗi sai và tự sửa lỗi sai thông qua tiết Trả bài. Một vấn đề không kém phần quan trọng trong tập làm văn cũng như thể loại văn tả cảnh là khi học sinh đã hoàn thiện xong đoạn, bài văn của mình, giáo viên tích cực hướng dẫn HS tự kiểm tra, đối chiếu bài bạn phát hiện lỗi sai sửa cho bạn về cách dùng từ, viết câu, lỗi chính tả...để rút kinh nghiệm bản thân. Ngoài những lỗi về bố cục, lỗi chính tả học sinh hay mắc lỗi về diễn đạt, lỗi về câu. Có thể nói lỗi câu là lỗi phổ biến của học sinh. Trong các tiết trả bài hoặc chấm chữa, giáo viên cần chỉ rõ những lỗi của học sinh về câu. Lỗi về câu của học sinh rất đa dạng: * Bước chuẩn bị của giáo viên. 10
  9. - Bước chuẩn bị của giáo viên là rất quan trọng. Muốn tiết trả bài đạt hiệu quả tốt người giáo viên phải chấm bài làm văn của học sinh thật kỹ, cẩn thận nhằm phát hiện những ưu điểm, nhược điểm của bài văn sau đó ghi theo trình tự sau để làm cơ sở cho việc chữa bài và giáo viên cần có sổ ghi lỗi mắc phải của học sinh. * Bài văn của em nào diễn đạt trôi chảy, mạch lạc, biết sử dụng các biện pháp nghệ thuật miêu tả so sánh nhân hoá... Bài văn nào có câu văn hay, ý hay, dùng từ sáng tạo, hình ảnh bố cục chặt chẽ * Ghi những lỗi phổ biến các em thường mắc phải như: chính tả, dùng từ chưa chính xác, câu văn chưa hoàn chỉnh, thiếu hoặc thừa thành phần chủ - vị, chưa rõ nghĩa, lặp từ, lặp ý hoặc thừa thành phần không cần thiết. * Ghi ra một số bài tiêu biểu nhất của lớp để đọc cho các em nghe và tham khảo, học tập. + Quá trình thực hiện tiết dạy. - Giáo viên yêu cầu học sinh đọc lại đề và giúp học sinh xác định lại trọng tâm của đề. - Đánh giá nhận xét chung ưu khuyết điểm của bài làm lần này. Trả bài cho học sinh trước khi chữa lỗi. + Chữa lỗi sai : Đây là khâu quan trọng hàng đầu của tiết dạy, học sinh có thể nhận được cái sai, cái chưa được, có tìm được cách sửa chữa lỗi hợp lý không. Giáo viên có thể thống kê những lỗi sai phổ biến sau: a. Chữa lỗi về chính tả: Giáo viên ghi các lỗi chính tả mà học sinh hay mắc yêu cầu học sinh đọc lại sau đó tự sửa lỗi. Lỗi chính tả là lỗi học sinh hay mắc nhất trong một bài làm văn. Từ chỗ sai chính tả đẫn đến sai ý của câu, sai nghĩa của từ mà các em sử dụng trong bài văn. b. Chữa lỗi về dùng từ : Giáo viên ghi câu văn học sinh dùng từ thiếu chính xác. Học sinh đọc câu văn và nhận xét rồi cho các em sửa. c.Lỗi sắp xếp ý trong đoạn văn( bài văn) lộn xộn, không hợp lí. Ví dụ, theo trình tự miêu tả cảnh là miêu tả từ xa đến gần( hoặc từ gần đến xa), từ trên xuống dưới, từ bao quát đến chi tiết,... nhưng học sinh lại không theo trình tự trên sẽ dẫn đến người đọc không hình dung được cảnh miêu tả. Vì vậy, giáo viên phải hướng dẫn học sinh miêu tả theo trình tự, tránh xếp ý lộn xộn thì bài văn sẽ không hay. d. Lỗi về câu và diễn đạt không toát ý. Ở đây, học sinh sẽ phổ biến là viết câu sai ngữ pháp, diễn đạt cả đoạn văn không toát ý. Với lỗi này, giáo viên sẽ dùng những câu hỏi gợi mở để giúp các em 11
  10. sửa câu( câu phải đủ 2 thành phần chính là CN và VN) và hướng dẫn diễn đạt lại vấn đề cho mạch lạc, rõ ràng và tiến tới hay, sinh động. 7. Giải pháp 7: Phát động phong trào đọc sách để mở rộng vốn từ Nhà văn M.Gorki đã nói: “Mỗi cuốn sách đều là một bậc thang nhỏ mà mỗi khi bước lên, tôi tới gần quan niệm về cuộc sống tốt đẹp nhất”. Sách là người bạn quý của mỗi con người. Ngay từ bé, nếu trẻ nhỏ được khơi gợi niềm yêu thích đọc sách, thì khi lớn lên việc đọc sách không còn là một việc “phải làm” mà đã trở nên một thói quen hay nói đúng hơn là một niềm “đam mê”. Nhờ đó, vốn từ vựng của học sinh cũng ngày một tăng lên theo năm tháng. Sách không chỉ giúp các em nâng cao nhận thức, hiểu biết về kho tàng tri thức của nhân loại mà còn hình thành ở các em những kỹ năng cần thiết cho tương lai. Những tiết sinh hoạt cuối tuần, hoạt động sau giờ học, tôi lại tổ chức cho HS chia sẻ nội dung những câu chuyện, bài thơ hay,...mà em đã đọc trong sách để hình thành cho các em thói quen đọc sách và tiếp thu cái hay cái đẹp mà sách mang lại. Cho nên để tạo thói quen và rèn luyện ý thức đọc sách cho học sinh, nhà trường đã triển khai xây dựng thư viện xanh và tôi cũng có một tủ sách trong lớp học để các em có thể tranh thủ đọc được. III. 2. Tính mới, tính sáng tạo: *Tính mới: - Với các giải pháp nêu trên, GV và HS dễ dàng áp dụng vào dạy và học các bài văn miêu tả theo hướng phát triển năng lực học sinh. - HS được thực hành, luyện tập, tự khám phá và lĩnh hội kiến thức một cách chủ động mà không bị gò bó hay dập khuôn theo một khuôn mẫu nào cả. - Việc học không chỉ diễn ra trong phạm vi không gian lớp học mà các em được trải nghiệm, được tận mắt quan sát đối tượng miêu tả và tái hiện bằng ngôn ngữ, cảm xúc của chính bản thân mình vì thế các giờ học sẽ trở nên nhẹ nhàng. Giáo viên chỉ là người định hướng, hướng dẫn các em cách quan sát và thể hiện lại đối tượng bằng cảm nhận của bản thân mình. Các em thực sự được sáng tạo theo khả năng và trí tưởng tượng của mình. Và cứ như vậy, vốn từ ngữ của học sinh dần được nâng lên, khả năng miêu tả tốt hơn, sáng tạo hơn, thể hiện rõ cái tôi của mình trong mỗi bài văn. - Bên cạnh đó việc lập dàn ý bài văn miêu tả bằng cách sử dụng sơ đồ tư duy giúp tích cực hoá hoạt động học tập của học sinh. Sử dụng sơ đồ tư duy trong khâu lập dàn ý giúp học sinh tìm tòi và khắc sâu kiến thức thông qua suy nghĩ và hoạt động tích cực. Các em không bị ép học thuộc lòng và tái hiện nguyên văn nội dung ghi nhớ, Ngược lại các em chủ động tìm ra kiến thức và tái hiện lại trên giao diện mở của sơ đồ tư duy. Như vậy việc ghi nhớ, trình bày, sắp xếp ý được mạch lạc, rõ ràng, phát huy năng lực của từng học sinh. 12
  11. *Tính sáng tạo: Đổi mới PP dạy học phân môn TLV theo hướng tiếp cận năng lực giúp HS không phải học thuộc văn, ghi nhớ văn mẫu mà phải biết tự viết, tự sáng tạo thông qua các hoạt động cụ thể, biết sử dụng những tri thức học được để giải quyết các tình huống do cuộc sống đặt ra. Giúp HS tiếp cận nội dung chủ yếu yêu cầu HS trả lời câu hỏi: Biết cái gì? Vì chương trình tiếp cận năng lực luôn đặt ra câu hỏi: Biết làm gì từ những điều đã biết cho nên so với thiết kế truyền thống, thiết kế chương trình theo hướng tiếp cận năng lực có sự khác biệt. Thiết kế truyền thống thường bắt đầu từ mục tiêu giáo dục sau đó xác định các lĩnh vực/môn học, chuẩn kiến thức và kĩ năng, phương pháp dạy học và cuối cùng là đánh giá. Thiết kế chương trình theo năng lực trước hết cần xác định các năng lực chung cần trang bị và phát triển cho HS. III.3. Phạm vi ảnh hưởng, khả năng áp dụng của sáng kiến: Thế kỉ XXI là thế kỉ của khoa học và công nghệ AI - công nghệ trí tuệ nhân tạo, điện thoại thông minh và mạng internet đã tác động sâu sắc đến cuộc sống của con người. Cùng với những giá trị vượt trội mà chúng đem lại những trải nghiệm của con người về tự nhiên xã hội và thế giới xung quanh ngày càng hạn chế. Hơn lúc nào hết, giai đoạn hiện nay, vốn hiểu biết và cảm xúc của HS với con người, sự vật, hiện tượng xung quanh ngày một nghèo nàn. Đó chính là rào cản lớn nhất cho học sinh khi học tạo lập văn bản - kĩ năng vô cùng quan trọng và cần thiết ở mọi thời đại. Vì vậy, thu thập vốn sống, bồi dưỡng cảm xúc về đối tượng miêu tả thông qua các hoạt động trải nghiệm là một trong những giải pháp tối ưu hỗ trợ GV tổ chức tốt quá trình viết văn. Viết tốt các em không chỉ được trang bị một công cụ cho quá trình học tập lâu dài mà còn được bồi dưỡng tâm hồn, hình thành nhân cách, hướng tới đáp ứng yêu cầu về con người mới trong giai đoạn hiện nay. Mặt khác, để chuẩn bị cho học sinh học lên trung học cơ sở, mục tiêu trọng tâm trong dạy học Tiếng Việt ở cấp tiểu học là phát triển kỹ năng, trong đó, điểm nhấn là kỹ năng viết. Phân môn Tập làm văn là phân môn thực hành tổng hợp nhằm rèn luyện kỹ năng tạo văn bản nói và viết cho học sinh. Với hướng dạy này có thể áp dụng trong dạy văn miêu tả nói riêng và dạy các phân môn khác nói chung. Các giải pháp mà tôi đưa ra áp dụng trong dạy văn miêu tả cho HS lớp 4,5 nói riêng và là nền tảng các em học tiếp lên lớp trên. Các thầy cô trong huyện và trên thành phố ai cũng có thể áp dụng các giải pháp này đặc biệt với chương trình GDPT 2018. Chính vì vậy mà tôi đã mạnh dạn áp dụng vào giảng dạy cho HS lớp 4,5 để tiếp cận dần với CTGDPT 2018. III.4. Hiệu quả, lợi ích thu được do áp dụng giải pháp. 13