Mô tả Sáng kiến Một số biện pháp áp dụng trong tiết trả bài góp phần nâng cao chất lượng viết văn miêu tả cho học sinh Lớp 4 theo chương trình GDPT 2018

docx 11 trang Chăm Nguyễn 03/01/2026 150
Bạn đang xem tài liệu "Mô tả Sáng kiến Một số biện pháp áp dụng trong tiết trả bài góp phần nâng cao chất lượng viết văn miêu tả cho học sinh Lớp 4 theo chương trình GDPT 2018", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docxmo_ta_sang_kien_mot_so_bien_phap_ap_dung_trong_tiet_tra_bai.docx

Nội dung tài liệu: Mô tả Sáng kiến Một số biện pháp áp dụng trong tiết trả bài góp phần nâng cao chất lượng viết văn miêu tả cho học sinh Lớp 4 theo chương trình GDPT 2018

  1. - Sau khí đọc bài, sửa lỗi, giáo viên nhìn khái quát bài viết để đưa ra lời nhận xét phù hợp. Bước 2: Trả bài - Dành thời gian để học sinh làm 3 việc: + Đọc lại bài viết đã được chấm. + Xem lại các lỗi mắc phải. + Xem lại các ý hay, cách lập luận của mình. Bước 3: Sửa bài - Nhận xét chung: Giáo viên nhận xét chung chất lượng bài làm của cả lớp (nêu những ưu điểm và hạn chế). - Học sinh tự sửa bài: Giáo viên nhận xét lần lượt bài làm của từng em về chính tả, cách dùng từ, cách đặt câu sau đó học sinh tự thực hiện sửa bài ở cuối bài làm của mình. Bước 4: Đọc bài văn hay - Giáo viên chọn đọc bài theo kiểu: + Đọc câu hay, ý sáng tạo. + Đọc đoạn hay. + Đọc bài hay. - Giáo viên cho học sinh đọc 2-3 bài văn khá tốt, khen ngợi những học sinh viết tốt, đồng thời khuyến khích học sinh cả lớp hoc tập cách viết để lần sau đạt kết quả cao hơn. Muốn nâng cao chất lượng cho học sinh môn Tiếng Viêt nói chung và văn miêu tả nói riêng, giáo viên phải đặc biệt chú trọng tiết viết văn trả bài. Trong tiết này cần phải đạt tới yêu cầu rèn sửa kĩ năng cho học sinh. Bởi vậy, các khâu khi thực hiện đều phải chuẩn bị một cách chu toàn. Muốn tiết trả bài có hiệu quả cao, giáo viên phải chuẩn bị thật kĩ, kĩ hơn các giờ học khác. Giải pháp 2: Chấm bài tỉ mỉ, sử dụng sổ theo dõi. Để tiết trả bài có hiệu quả thì công việc chuẩn bị này đóng vai trò quan trọng, có tính chất quyết định cho tiết dạy thành công hay thất bại. Khi chấm bài, giáo viên được tiếp xúc với các sản phẩm tinh thần của học sinh, kiểm nghiệm thành quả lao động giảng dạy và giáo dục của mình. Bằng việc chấm bài mà biết học sinh có suy nghĩ những gì và diễn tả ý nghĩ như thế nào? Khi chấm bài, giáo viên cần có thái độ thương yêu, tôn trọng học sinh. Bài văn là kết quả lao động sáng tạo của các em, giáo viên cần chắt lọc mọi thành công của học sinh, dù là nhỏ nhất. Với sai lầm của học sinh, cần phải ân cần chỉ rõ, không được qua loa, tắc trách hoặc giận dữ bực bội, có những lời phê để lại trên bài làm ảnh hưởng đến hứng thú, niềm tin của học sinh. Giáo viên cần có thái độ kiên trì, nhẫn nại, khách quan, công bằng mới đánh giá đúng bài làm của học sinh vì đại đa số học sinh thường không có năng khiếu về văn. 3
  2. Vì thế, nhiều em thường mắc đi mắc lại một lỗi, giáo viên cần tìm hiểu nguyên nhân, giúp các em luyện tập nhiều lần. Khi chấm bài, tôi đọc kĩ từng bài, xem xét cả hai mặt nội dung và hình thức. Khi phát hiện các lỗi hoặc sai sót từ bài viết, tôi gạch chân và ghi nhận xét ra ngoài lề bên trái. Ví dụ: Câu thiếu chủ ngữ, lỗi chính tả, dùng từ, diễn đạt. Còn những đoạn văn lạc đề, dài dòng, chép văn bản, không có nghĩa, hay những đoạn văn có nét đặc sắc tôi dùng đấu móc đơn giới hạn đoạn văn đó và ghi nhận xét ngắn gọn nhưng cụ thể. Ví dụ: lạc đề, dài dòng, chép văn bản, không có nghĩa, ý hay, diễn tả sinh động, cảm xúc chân thành. Cần tránh nhận xét qua loa hoặc cả bài không có nhận xét. Đối với học sinh quá kém, tôi chỉ ra sai sót trầm trọng nhất, tránh gạch nát cả bài gây cho em đó tâm lý chán nản, thất vọng. Để đánh giá được sự tiến bộ của học sinh trong suốt năm học, tôi làm phiếu chấm bài, ghim lại thành cuốn sổ theo dõi, ghi chép tóm tắt kết quả, những ưu điểm cũng như những tồn tại của mỗi em. * Ví dụ 1. Nhận xét bài viết của học sinh: Nguyễn Thị A Bài số Ưu điểm Tồn tại 1 - Bố cục rõ ràng - Chính tả: 3 lỗi - Diễn đạt tương đối mạch lạc - Dùng từ: 4 lỗi - Chữ viết rõ ràng - Đặt câu : 3 lỗi 2 - Bố cục rõ ràng - Chính tả: 2 lỗi - Diễn đạt mạch lạc - Dùng từ: 2 lỗi - Tả có trọng tâm - Đặt câu : 1 lỗi - Chữ viết có tiến bộ Nhìn vào kết quả bài viết của học sinh, giáo viên sẽ thấy và thấy rất rõ sự tiến bộ nhanh hay chậm ở từng em. Từ đó, giáo viên sẽ có những biện pháp thích hợp để giúp học sinh hạn chế những lỗi mà các em hay mắc. Công việc này đòi hỏi sự tỉ mỉ, mất thời gian song chắc chắn dần dần học sinh sẽ có tiến bộ hơn. * Ví dụ 2: Giáo viên cũng có thể xây dựng phiếu chấm chữa cho cả lớp. Cụ thể từng bài, từng lỗi sai, hướng sửa lỗi. Các lỗi sai Tên học sinh Dẫn chứng Hướng sửa lỗi 1. Lạc đề 2. Bố cục 3. Lỗi chính tả, dùng từ 4. Lỗi diễn đạt 5. Lỗi viết câu 4
  3. Sau khi chấm xong, giáo viên cần thống kê lại xem học sinh có bao nhiêu lỗi trong bài viết, sau đó phân loại bài theo nhóm lỗi và cuối cùng là giáo viên tổng hợp theo loại: Bài viết hay, có sáng tạo; bài viết đảm bảo yêu cầu; bài viết chưa đảm bảo yêu cầu. Sau đó chọn chọn những bài tiêu biểu nhất, ghi lại những ý hay nhất. Cuối cùng của việc chấm bài là lời phê cần ngắn gọn, bao trùm ưu- khuyết điểm chủ yếu nhất. Giải pháp 3: Nâng cao kĩ năng xây dựng kế hoạch dạy học cho tiết trả bài. Kế hoạch dạy học cũng là yếu tố chuẩn bị quan trọng, nó là cơ sở của giờ lên lớp giúp giáo viên lựa chọn nội dung và cách tiến hành tiết trả bài. Tính kĩ lưỡng và tính khoa học trong bài soạn là yếu tố giúp giáo viên thành công và học sinh tiếp thu bài tốt. Nhưng qua khảo sát bài của học sinh, khảo sát giáo án của đồng nghiệp, dự giờ bạn, tôi thấy thiết kế của một số giáo viên còn chung chung, chưa thể hiện được tính ưu việt, tính sáng tạo trong kế hoạch dạy học, chưa thể hiện được sự khắc phục tồn tại của giáo viên. Tôi đã mạnh dạn lên kế hoạch dạy học cho tiết trả bài như sau: * Thứ nhất: Theo nguyên tắc chung, kế hoạch dạy học gồm đủ các phần: - Yêu cầu cần đạt - Đồ dùng và phương tiện dạy học. - Các hoạt động dạy học gồm các bước: + Khởi động + Khám phá + Hoạt động + Vận dụng, sáng tạo * Thứ hai: Trong phần Yêu cầu cần đạt, phải ghi rõ 3 yêu cầu của tiết học: - Kiến thức, kĩ năng - Năng lực - Phẩm chất Trong phần Hoạt động được tiến hành theo các bước sau: Bước 1: Giáo viên nhận xét bài làm của học sinh -Trình chiếu (hoặc ghi) đề bài phải làm đầu tiên trong tiết học, việc làm này nhắc lại, gợi nhớ lại đề bài các em đã làm tiết trước, nó tác động đến bộ nhớ của các em về vấn đề cần giải quyết trong tiết học. - Giúp học sinh xác định lại yêu cầu của đề bài để tự đối chiếu với kết quả bài viết. - Sau đó tiến hành xác định đề mang tính trực quan nối tiếp. Một lần nữa giúp các em nắm chắc yêu cầu của đề bài. Từ đó các em có thể so sánh và đã có thể hình dung ra mình đúng như thế nào? Mình thiếu những gì? Để từ đó mà các em dễ dàng nắm được ưu và nhược điểm bản thân. 5
  4. - Nêu rõ ưu khuyết điểm của học sinh trong việc thực hiện yêu cầu của đề bài, kết hợp với soi bài viết của HS (dẫn chứng cụ thể qua bài viết được giáo viên chấm và theo dõi qua sổ thống kê lỗi của giáo viên); kết hợp với nhận xét về chữ viết và cách trình bày bài văn và biểu dương học sinh có bài làm tốt hoặc bài làm có tiến bộ. Giáo viên nên công bố tên học sinh có ưu điểm, không cần thiết nêu tên học sinh có khuyết điểm. Bước 2: Hướng dẫn học sinh chữa bài Căn cứ vào kết quả bài làm của học sinh, giáo viên có thể tiến hành việc hướng dẫn học sinh chữa bài sao cho linh hoạt và đạt hiệu quả thiết thực theo thứ tự sau: 1. Trả bài làm cho học sinh, yêu cầu học sinh đọc thầm lại toàn bộ bài làm, lời nhận xét chung và những chỗ lưu ý cụ thể của giáo viên trong bài viết. 2. Hướng dẫn học sinh chữa lỗi chung về nội dung (sai, thiếu ý, hoặc chi tiết sự việc ) và hình thức (về bố cục, cách dùng từ, đặt câu, lỗi chính tả,..). 3. Tổ chức cho học sinh tự chữa bài làm của cá nhân, sau đó đổi bài để kiểm tra, giúp đỡ nhau về việc chữa lỗi. 4. Giáo viên chiếu lên màn hình và đọc cho học sinh nghe những câu văn hay, đoạn văn hay, bài văn hay để giúp các em vận dụng vào bài viết của mình từ đó giúp cho bài viết của các em giàu hình ảnh, cô đọng, súc tích. Gợi ý học sinh nhận xét, trao đổi để học tập những ưu điểm trong bài văn của bạn (về bố cục, sắp xếp ý, diễn đạt, dùng từ đặt câu, sử dụng biện pháp nghệ thuật). 5. Hướng dẫn học sinh chọn viết một đoạn văn trong bài làm cho tốt hơn. Tùy điều kiện thời gian cho phép, giáo viên có thể hướng dẫn học sinh thực hiện yêu cầu này tại lớp hoặc luyện tập thêm ở nhà để nâng cao kĩ năng viết văn. Đoạn văn học sinh chọn để viết lại cho tốt hơn có thể là đoạn văn còn mắc lỗi (chính tả, dùng từ, đặt câu, , đoạn văn chưa hay). 6. Sử dụng phiếu học tập nhằm phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của học sinh. Giải pháp 4: Phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh khi chữa lỗi. Về phương pháp, có thể nêu ra phương pháp chung nhất cho phần này mang tính tổng quát là “Thầy chủ đạo, trò chủ động” và cùng với sự vận dụng linh hoạt kết hợp hỏi, phát hiện, gợi tìm, gợi mở, tổng hợp, đánh giá, tôi tổ chức cho học sinh học tiết trả bài theo tuần tự: a) Giáo viên nhận xét, đánh giá chung bài làm của học sinh. Giáo viên nêu các ưu, nhược điểm bài làm của học sinh, có những đánh giá chung về bài làm của các em. b) Hướng dẫn học sinh chữa lỗi. 6
  5. Theo tôi, đây là bước quan trọng. Học sinh tự tìm ra lỗi của mình, biết cách sửa hoặc sửa được cho bạn tức là các em đã được củng cố thêm về kĩ năng viết văn. Vì vậy, việc đầu tiên của khâu này là tôi cho học sinh: - Tự tìm lỗi sai trong bài của mình: tôi không nêu ra cái sai cụ thể sau khi soi bài học sinh mặc dù lỗi sai đó tôi đã ghi trong sổ nhận xét. Như vậy, để tránh sự thụ động ở học sinh. Ở khâu này, tôi đã gợi mở làm cho học sinh phải động não bằng cách sau: + Gọi học sinh và yêu cầu em đọc đoạn văn sai mà tôi đã chữa trong vở. Tôi đưa ra một số câu hỏi: . Em có nhận xét gì về câu (đoạn) văn em vừa đọc? . Em định trình bày ý gì? Nội dung gì? Nội dung ấy đã toát lên chưa? . Theo em phải sửa lại như thế nào? + Nếu học sinh đó vẫn chưa làm được thì tôi tiếp tục gọi học sinh khác. Như vậy kết hợp hỏi, gợi mở đã tác động vào tư duy của các em, bắt buộc tư duy phải hoạt động, làm như vậy các em sẽ nhớ rất lâu. Các em thấy cách viết là sai và phải biết sửa lại như thế nào. - Với dạng lỗi về bố cục: Trước tiên tôi hỏi các em về bố cục thông thường của một bài văn, sau đó tôi cho học sinh đối chiếu với bài của mình xem đã đủ về bố cục chưa? Nếu chưa đủ thì còn thiếu phần nào? Em cần sửa ra sao? Giáo viên hướng dẫn học sinh chữa lỗi về mở bài, thân bài, kết bài. Sau đó tôi tiến hành sửa lỗi cá nhân và cho học sinh trao đổi bài cho nhau để cùng chia sẻ, học tập cái hay trong bài văn của bạn. Ngoài ra ở phần này, học sinh thường không biết tách giữa mở bài với thân bài hoặc giữa thân bài với kết bài. Vì vậy khi sửa lỗi về bố cục, tôi gợi học sinh nhớ lại dàn ý của bài. - Với dạng lỗi về dùng từ: Ví dụ 1: Khi các em viết: Quê hương em có rất nhiều thắng cảnh đẹp. Nếu xem xét ở góc độ một câu giới thiệu bình thường thì có vẻ câu này không có vấn đề gì. Nhưng khi ta soi xét trên góc độ ngôn ngữ thì câu văn trên đã mắc lỗi sai cách dùng từ. Đây là một lỗi khó, chính vì vậy giáo viên cần chỉ ra để học sinh thấy. Từ “thắng cảnh” là một từ Hán Việt có nghĩa là cảnh đẹp. Vậy vô hình dung câu trên đã dùng thừa ra 1 từ, đó là từ “đẹp”. Vậy trường hợp này câu đúng phải là: “Quê hương em có rất nhiều thắng cảnh”. Ví dụ 2: Học sinh viết câu: Bộ lông của chú mèo mềm, mịn đen láy. Với lỗi này, giáo viên hỏi học sinh về nghĩa của từ “đen láy”, đó là đen ánh lên, sáng lên (thường nói về mắt). Sau đó, giáo viên gợi cho học sinh tìm từ khác thay thế cho từ “đen láy” trong câu này và để học sinh đọc lại câu mà đã được thay thế từ như: Bộ lông của chú mèo mềm, mịn đen ánh. - Với dạng lỗi về diễn đạt: 7
  6. Các lỗi về câu thường gặp ở Tiểu học là câu thiếu chủ ngữ hoặc vị ngữ, câu có thành phần phụ thiếu thành phần chính, nêu ý chưa trọn vẹn, câu có nhiều từ ngữ rườm rà, lủng củng. Hệ thống câu hỏi dành cho phần này là làm cho học sinh chỉ ra được: Câu sai ở đâu? Lí do sai? Nêu cách sửa? Lỗi diễn đạt là lỗi khó. Đôi khi phải kết hợp với phương pháp diễn dịch, giảng giải để làm sáng tỏ cho học sinh. Ví dụ HS viết “Dáng người bạn cao ráo, nước da bạn trắng như em bé, mái tóc bạn đen buông xuống vai”. GV: Em nhận xét gì về các từ được dùng trong câu? HS: Lặp từ “bạn”: người bạn, da bạn, tóc bạn. GV: Từ sai: da trắng như em bé (trắng như da em bé). HS viết lại: Dáng người bạn cao ráo, nước da trắng như da em bé rất hợp với mái tóc dài, xõa xuống vai. GV chốt lại: Việc thay đổi trật tự trong câu, thay từ miêu tả sẽ làm cho câu có ý tường minh nhưng chưa sinh động. Vì thế, hãy áp dụng biện pháp nhân hóa, so sánh để viết câu, em sẽ thấy được giá trị gợi tả của nó. Câu sửa: Dáng người bạn cao ráo. Mái tóc đen mềm mại xõa xuống vai làm tăng thêm vẻ đẹp cho làn da trắng như da em bé của bạn. Bên cạnh việc chữa lỗi, tôi cho các em học tập lẫn nhau qua việc đọc lên những bài viết hay của các bạn trong lớp hoặc một số đoạn văn có từ gợi tả để tham khảo. Đồng thời, hướng dẫn các em chọn lọc hình ảnh của sự vật được miêu tả, sử dụng biện pháp nhân hóa và so sánh giúp bài làm sinh động hơn. c) Sử dụng phiếu bài tập trong tiết trả bài Để phát huy tính tích cực, chủ động học tập của học sinh, trong tiết trả bài, tôi sử dụng phiếu bài tập nhằm giúp học sinh chủ động phát hiện lỗi sai và sửa lỗi. Các phiếu bài tập dùng cho mỗi tiết dạy, tôi xây dựng dựa trên việc chấm bài và ghi chép những lỗi của học sinh, lựa chọn những lỗi điển hình mà học sinh hay mắc phải hoặc những lỗi chung mà tôi dự kiến không thể sửa hết cho học sinh của mình trong giờ trả bài, sau đó soạn dạng bài tập cho phù hợp để học sinh làm trong thời gian ngắn ở cuối giờ học (khoảng 3 phút). Ví dụ : Trả bài văn tả con vật. Câu 1. Gạch dưới những từ ngữ dùng chưa hợp lí trong các câu văn sau và ghi từ thay thế vào chỗ chấm. Chú gà có bộ lông trông thật xinh xắn. ( .) Đôi mắt của gà tròn lấp loáng như những vì sao. ( .) Câu 2. Chỉ ra lỗi sai của câu văn sau và viết lại cho hợp lí. Bạn Lan rất hiền và vui tính và bạn ấy còn rất ngoan nữa. 8
  7. Trên đây là một ví dụ về phiếu bài tập tôi đã dùng trong các tiết trả bài tập làm văn miêu tả. Phiếu bài tập này các em có thể làm cá nhân hoặc theo nhóm. Mỗi phiếu được xây dựng dựa trên kết quả chấm bài của học sinh. Bài tập trong phiếu là các lỗi điển hình mà học sinh hay mắc. Việc chấm bài và chuẩn bị cho tiết trả bài tập làm văn mà tôi nêu trên tuy mất khá nhiều thời gian nhưng qua tiết học, học sinh sẽ được rèn thêm về kĩ năng viết văn và sẽ ghi nhớ tốt hơn những lỗi mình mắc phải để không bao giờ mắc lại nữa. III.2 Tính mới, tính sáng tạo - Rèn kĩ năng phát hiện lỗi và sửa lỗi trong bài làm của mình. - Hướng dẫn học sinh phân tích, học tập những đoạn văn hay, bài văn hay của các bạn trong lớp. Hướng dẫn học sinh viết lại một đoạn văn hay hơn. - Giáo viên chấm bài tỉ mỉ sẽ thấy được những ưu điểm nhược điểm của từng học sinh qua các bài kiểm tra viết. Từ đó, đề ra được các biện pháp khắc phục hạn chế khi viết văn miêu tả của các em. - Học sinh hoàn thiện kĩ năng viết văn miêu tả qua việc đánh giá nhận xét của các bạn, của giáo viên về bài làm của mình. - Tạo hứng thú cho học sinh thông qua việc trao đổi, chia sẻ bài làm của mình với các bạn. - Phát huy tối đa tính tích cực của học sinh. Các em sẽ tự phát hiện những khiếm khuyết trong bài làm của mình, của bạn và biết tự sửa lỗi để lần sau các em viết văn mạch lạc, giàu hình ảnh và có cảm xúc chân thực. - Đề tài còn bồi dưỡng học sinh tâm hồn nhạy cảm, giàu cảm xúc, phát triển kĩ năng viết văn, góp phần hình thành cho các em ý thức trách nhiệm, lòng tự trọng đối với sản phẩm tinh thần do chính mình làm ra. - Học sinh hoàn thiện kĩ năng viết văn miêu tả qua việc đánh giá nhận xét của các bạn, của giáo viên về bài làm của mình. - Dạy học tiết trả bài văn miêu tả giúp Học sinh phát triển năng lực, kiến tạo kiến thức nhờ huy động, vận dụng những kiến thức đã học, khai thác kinh nghiệm, năng lực bản thân. Sau đó, học sinh kiểm nghiệm chúng qua thực tiễn và nhờ đó, các em tự làm giàu, làm phong phú thêm vốn từ cho chính bản thân mình. - Làm cho việc học của học sinh thú vị, hấp dẫn, tự giác. Tính tự giác học tập không chỉ là hệ quả mà còn là điều kiện bảo đảm quá trình học tập thành công, hiệu quả. Việc tổ chức các hoạt động dạy học hợp lý trong tiết trả bài văn miêu tả sẽ giúp học sinh vận dụng thành công trong học tập và nâng cao chất lượng vốn từ, hiểu biết để của mình, từ đó, học sinh cảm nhận được việc học là thú vị, hấp dẫn, nhận thấy lợi ích thực tiễn của học tập nên các em sẽ tích cực, tự giác hơn. - Giúp mối quan hệ giữa giáo viên và học sinh ngày càng trở nên thân thiện, bền vững: Trong quá trình dạy học tiết trả bài văn miêu tả, giáo viên luôn hiểu rõ cá nhân học sinh (trí thông minh, năng lực, sở thích, hứng thú, tình cảm, .) và cư xử 9
  8. thân thiện với các em. Hơn nữa giáo viên còn chọn cách góp ý, sửa chữa cho phù hợp với từng học sinh để giúp phát triển những điều tích cực, hạn chế những điểm tồn tại trong mỗi học sinh. Nhờ đó luôn giúp học sinh tiến bộ và phát triển không ngừng. Khi đó, học sinh cảm nhận được vai trò của người thày và thêm yêu quý, gần gũi với các thày cô. - Xây dựng mối quan hệ giữa học sinh với nhau thêm thân thiết, gắn bó: Dạy học giúp học sinh tự nhận ra được câu văn, đoạn văn của mình hay của bạn còn mắc lỗi và giúp HS viết lại (sửa giúp bạn) câu văn, đoạn văn của mình là coi trọng mối quan hệ giữa học sinh với nhau, trong đó nhóm là một hình thức tổ chức cơ bản. Qua nhóm, các em được tổ chức trao đổi, khuyến khích, thảo luận, giúp đỡ, hợp tác, phối hợp, tranh luận tích cực với nhau. Mối quan hệ giữa các học sinh trở nên thân thiết. Ngoài ra trong đánh giá, giáo viên coi trọng sự tiến bộ của cá nhân học sinh, không so sánh kết quả học tập của các học sinh với nhau, từ đó, trong lớp sẽ không còn hiện tượng so bì, ghen tỵ giữa các học sinh. - Việc dùng các hình ảnh, chi tiết tiêu biểu sẽ thuyết phục được người đọc. Cần cho học sinh các hình ảnh cụ thể để quan sát. Sau đó yêu cầu học sinh đưa ra các hình ảnh, chi tiết tiêu biểu, từ đó đưa ra nhận xét và rút ra bài học kinh nghiệm. Đặc biệt muốn chọn lọc các hình ảnh tiêu biểu cần khuyến khích học sinh tích cực đọc sách, báo, tài liệu tham khảo ghi chép lại qua một cuốn sổ. Sau đó khi viết văn dùng những hình ảnh này làm tư liệu đưa vào bài viết. III.3 Phạm vi ảnh hưởng, khả năng áp dụng của sáng kiến Qua quá trình thực hiện các biện pháp trên, mặc dù đây là năm đầu tiên thực hiện dạy lớp 4 theo chương trình GDPT 2018 tôi nhận thấy rằng: - Các tiết trả bài văn thực sự là những tiết học có chất lượng: lớp học sôi nổi, hoạt động giữa thầy và trò hài hòa, học sinh được đặt nhiều vào tình huống đòi hỏi chú ý, tập trung với các thao tác theo dõi, quan sát, so sánh, suy nghĩ, trình bày ý kiến, nên các em rất hào hứng. - Chất lượng làm văn của học sinh từng bước được nâng lên. Các loại lỗi dần được các em khắc phục như lỗi chính tả, lỗi về bố cục, lỗi diễn đat, Tôi nhận thấy đây là biện pháp có thể triển khai nhân rộng không chỉ ở khối lớp 4 mà còn ở tất cả các khối lớp tại trường Tiểu học Thị Trấn và tất cả các trường Tiểu học. III.4 Hiệu quả, lợi ích thu được từ sáng kiến. - Sau thời gian dạy cho học sinh, tôi thấy không tốn kém về mặt kinh tế, quan trọng là giáo viên kiên trì, áp dụng các biện pháp dạy học phù hợp để học sinh hứng thú học tập và có ý thức rèn kĩ năng viết văn tốt hơn. - Từ kết quả trên, học sinh tỏ ra yêu thích viết văn, học văn hơn, thêm yêu Tiếng Việt. Thực tế cho thấy, hiệu quả giờ dạy được nâng lên rất nhiều, cụ thể qua làm một số lần về bài viết của học sinh trong lớp, tôi đã thu được kết quả như sau: 10
  9. Lớp 4A Hoàn thành tốt Hoàn thành Chưa hoàn thành ( 41 học sinh ) Trước khi áp dụng 9 học sinh 26 học sinh 6 học sinh biện pháp = 22% = 63,4% = 14,6% Sau khi áp dụng 18 học sinh 22 học sinh 1 học sinh biện pháp = 43,9% = 53,7% = 2,4 % Đây là kết quả đáng mừng với một lớp mà lúc đầu các em đều không thích phần viết bài văn miêu tả. Kết quả này tuy chưa thật thuyết phục nhưng giúp tôi hiểu rằng, biện pháp mà mình đang thực hiện trong tiết trả bài viết văn đang đi đúng hướng giúp nhiều học sinh viết văn tốt hơn, nhất là văn miêu tả. - Học sinh hoàn thiện kĩ năng viết văn miêu tả qua việc đánh giá nhận xét của các bạn, của giáo viên về bài làm của mình. - Giáo viên chấm bài tỉ mỉ, sử dụng sổ theo dõi sẽ thấy được những ưu điểm nhược điểm của từng học sinh qua các bài kiểm tra viết. Từ đó đề ra được các biện pháp khắc phục hạn chế khi viết văn miêu tả của các em. - Học sinh chăm ngoan, tiến bộ hàng ngày. Giáo viên tự tin hơn trong công tác giảng dạy. Trong quá trình tôi vận dụng các biện pháp trên vẫn không thể tránh khỏi thiếu sót. Tôi rất mong nhận được sự góp ý của các đồng nghiệp và Hội đồng thẩm định sáng kiến để sáng kiến của tôi hoàn thiện hơn góp phần nâng cao chất lượng dạy học về: “Một số biện pháp áp dụng trong tiết trả bài góp phần nâng cao chất lượng viết văn miêu tả cho học sinh lớp 4 theo chương trình GDPT 2018” để bản thân tôi có thêm kinh nghiệm trong việc giảng dạy môn Tiếng Việt. Tôi xin chân thành cảm ơn! CƠ QUAN - ĐƠN VỊ Vĩnh Bảo, ngày 10 tháng 01 năm 2024 ÁP DỤNG SÁNG KIẾN TÁC GIẢ SÁNG KIẾN Trần Thị Ngọc 11