Đơn công nhận SKKN Một số biện pháp rèn kỹ năng phòng tránh nguy cơ mất an toàn và bạo hành trẻ độ tuổi 3-4 tuổi ở Trường Mầm non

doc 26 trang Chăm Nguyễn 27/07/2026 240
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Đơn công nhận SKKN Một số biện pháp rèn kỹ năng phòng tránh nguy cơ mất an toàn và bạo hành trẻ độ tuổi 3-4 tuổi ở Trường Mầm non", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docdon_cong_nhan_skkn_mot_so_bien_phap_ren_ky_nang_phong_tranh.doc

Nội dung tài liệu: Đơn công nhận SKKN Một số biện pháp rèn kỹ năng phòng tránh nguy cơ mất an toàn và bạo hành trẻ độ tuổi 3-4 tuổi ở Trường Mầm non

  1. 3 Phương pháp dạy không thay đổi, hình thức học mang tính chất bắt buộc, nội dung không phong phú, ít được lồng ghép các nội dung rèn kỹ năng phòng tránh nguy cơ mất an toàn và bạo hành trẻ vào trong các chủ đề. Môi trường cho trẻ hoạt động được quan tâm nhưng chưa sát sao, chưa có các biển hiệu phòng tránh các nơi nguy hiểm, phụ huynh chưa quan tâm đến nhu cầu chơi và môi trường chơi đã được an toàn hay chưa. 2. Giải pháp mới cải tiến Trước khi thực hiện các giải pháp mới chúng tôi tiến hành khảo sát trên trẻ các nội dung sau: Số trẻ Chưa Nội dung khảo sát Tỷ lệ Tỷ lệ đạt đạt Trẻ biết đồ dùng nguy hiểm nên tránh xa và đồ 5 20% 20 80% dùng không nguy hiểm. Trẻ biết đội mũ bảo hiểm khi ngồi lên xe máy. 8 32% 17 68% Trẻ không đi theo người lạ 10/25 40% 15/25 60% Trẻ biết cách xử lý khi bị bạn tranh đồ chơi 5/25 20% 20/25 80% Trẻ biết cách xử lý khi bị đánh. 7/25 28% 18/25 72% Trẻ biết không đến gần bếp đang đun. 6 24% 19 76% Trẻ biết cách xử lý khi xảy ra đám cháy. 5/25 20% 20/25 80% Sau đây là một số biện pháp cụ thể nhằm “Rèn kỹ năng phòng tránh nguy cơ mất an toàn và bạo hành trẻ độ tuổi 3-4 tuổi ở Trường Mầm non” 2.1. Biện pháp 1: Xây dựng môi trường giáo dục an toàn cho trẻ. * Môi trường trong lớp học: Xây dựng môi trường giáo dục an toàn là một trong những yếu tố quan trọng trong việc khuyến khích tính độc lập, tìm tòi, sáng tạo của trẻ, giúp trẻ phát triển một cách toàn diện. Muốn xây dựng môi trường giáo dục an toàn thì bản thân tôi thường xuyên vệ sinh lớp học sạch sẽ, cọ rửa bàn ghế, đồ dùng đồ chơi và sắp xếp chúng một cách gọn gàng, khoa học, đảm bảo an toàn cho trẻ: Sắp xếp các đồ vật sắc nhọn như dao, kéo ở giá treo trên cao trong nhà kho và các vật dụng có khả năng gây nguy hiểm cho trẻ như: ổ điện, các loại nước lau sàn, vim, xà phòng ở vị trí ngoài tầm với của trẻ. (Hình 1: Đồ dùng vệ sinh để trên cao, tránh tầm với của trẻ). Bên cạnh đó, việc bố trí đồ chơi ở các góc gọn gàng, ngăn nắp, giữa các góc chơi có khoảng rộng cách nhau hợp lí đảm bảo an toàn tuyệt đối cho trẻ khi vận động. Ngoài đồ dùng đồ chơi sẵn có, tôi còn tận dụng những nguyên vật liệu từ thiên nhiên có sẵn ở địa phương và nguyên vật liệu đã qua sử dụng như: Bìa cát tông, chai nhựa, lon nước ngọt, que kem. Những nguyên vật liệu phải đảm bảo an toàn, không độc hại,
  2. 4 không sắc nhọn để làm đồ dùng đồ chơi cho trẻ. Từ đó kích thích trẻ ham muốn được tham gia vào các hoạt động, được khám phá, phát huy được tính tích cực, năng động và sáng tạo ở trẻ, giúp trẻ phát triển toàn diện ở tất cả các lĩnh vực. (Hình 2: Đồ dùng đồ chơi làm từ nguyên vật liệu đã qua sử dụng không độc hại, an toàn như: Bìa cát tông, chai nhựa .) Các loại tủ đựng chăn màn chiếu, giá góc đựng đồ dùng đồ chơi của trẻ tôi đã tham mưu với ban giám hiệu nhà trường đầu tư mua sắm và bố trí sắp xếp ổn định chắc chắn (bắt vít vào tường) để tránh nguy cơ bị lật, đổ khi trẻ hoạt động. Thiết bị được treo, móc cần đảm bảo không làm va đập vào đầu, vào người trẻ, được cố định chắc chắn tránh rơi xuống phía dưới, chậu cây cảnh ở ngoài hiên được gắn xi măng phía dưới để khi va chạm tránh bị lật đổ. (Hình 3: Giá đồ chơi sắp xếp gọn gàng, bắt vít chắc chắn) * Môi trường ngoài lớp học Xây dựng môi trường ngoài lớp học đảm bảo an toàn cũng rất cần thiết. Trường mầm non Đông Sơn có không gian rộng rãi, thoáng mát, có nhiều cây xanh, khu vực chơi ngoài trời của trẻ sạch sẽ, đồ chơi phong phú thu hút được trẻ tham gia vào các hoạt động, các góc chơi trải nghiệm trên sân trường dành cho trẻ như: khu vui chơi thể chất, khu vườn cổ tích, khu hoạt động khám phá tạo hình, khu vui chơi cát nước đều được trải thảm cỏ rất êm và sạch sẽ, đồ chơi ngoài trời thường xuyên được bảo trì, sửa chữa đảm bảo an toàn cho trẻ để trẻ được tham gia vào các hoạt động chơi cùng với thiên nhiên và khám phá trải nghiệm. Các đồ chơi trong góc chơi rất thân thiện và an toàn với trẻ. (Hình 4: Khu vui chơi thể chất) (Hình 5: Khu vườn cổ tích) Hàng ngày cô giáo cho trẻ ra sân chơi, hòa mình vào thiên nhiên, cô tổ chức nhiều trò chơi cho trẻ như: Trò chơi dân gian: Nu na nu nống, Dung dăng dung dẻ; Thả đỉa ba ba, Lộn cầu vồng; Các trò chơi rèn luyện sự khéo léo của đôi bàn tay như: Hai chú lính chì, Tôm cá cua, Hai chú chim xinh, các hoạt động tập thể như nhảy dân vũ, hay chỉ là hoạt động cô và trẻ trò chuyện cùng nhau hoặc cho trẻ xem cảnh vật xung quanh sân trường, cây cối, vườn rau, vườn cây ăn quả, cho trẻ chơi cầu trượt, đu quay, chơi thú nhún và cũng có thể là hoạt động kể chuyện cho trẻ nghe. (Hình 6: Cô cho trẻ chơi các trò chơi ở môi trường ngoài lớp học) 2.2. Biện pháp 2: Sưu tầm, sáng tác trò chơi, bài thơ, câu chuyện có nội dung giáo dục trẻ phòng tránh các nguy cơ mất an toàn và bạo hành trẻ. Qua thực tiễn công tác tôi nhận thấy khi dạy trẻ về các nguy cơ mất an toàn bằng cách “thực hành miệng” các cách phòng tránh, các cách hoạt động an toàn thì trẻ sẽ không hình dung ra được, không khắc sâu trong trí nhớ của trẻ và tôi nhận thấy trò chơi
  3. 5 đem lại hiệu quả rất tốt trong việc giáo dục trẻ, giúp trẻ nhận biết một cách dễ dàng nhất, dễ hiểu nhất, giáo viên sẽ cảm thấy nhẹ nhàng hơn khi truyền đạt kiến thức. a. Sáng tác các trò chơi: Với đặc điểm của trẻ mầm non, đặc biệt là trẻ 3-4 tuổi với khả năng tập trung và nhận thức chưa cao đối với trẻ thì hoạt động vui chơi là hoạt động chủ đạo “học bằng chơi, chơi mà học” nên giáo viên có thể truyền đạt kiến thức đến trẻ một cách đơn giản nhất đó là thông qua các trò chơi. Vì vậy tôi đã sáng tác một số trò chơi đơn giản nhằm giúp trẻ hứng thú, tích cực tham gia vào các hoạt động và có thể phòng tránh một số nguy cơ mất an toàn một cách dễ dàng nhất. Với các trò chơi này tôi tổ chức trong phần trò chơi ôn luyện của các hoạt động khám phá, giờ hoạt động chiều để góp phần giáo dục trẻ một cách hiệu quả. Ví dụ * Trò chơi: Bước nhảy thông thái Mục đích: Giúp trẻ biết đâu là đồ dùng an toàn, đâu là đồ dùng không an toàn, biết tránh xa đồ dùng mất an toàn. Chuẩn bị: Một vòng tròn mầu đỏ, một vòng tròn mầu xanh Cách chơi: Cô cho trẻ đứng vòng tròn, khi cô giơ hình ảnh về các loại đồ dùng thì trẻ quan sát, gọi đúng tên đồ dùng đó, nếu là đồ dùng không an toàn thì trẻ nhảy vào ô mầu đỏ, nếu là đồ dùng an toàn thì trẻ nhẩy vào ô mầu xanh. Luật chơi: Trẻ nào nhận biết sai và nhẩy vào nhầm ô thì phải nhẩy lò cò. Kết quả: 96% trẻ nhận biết được các đồ vật như dao, kéo, cái dĩa là đồ dùng mất an toàn và có thể gây nguy hiểm cho trẻ. (Hình 7: Trẻ chơi trò chơi: Bước nhảy thông thái) * Trò chơi 2: Bé nào thông minh. Mục đích: Giúp trẻ nhận biết và chọn đúng một số hành vi gây nguy hiểm cho trẻ: leo trèo lên bàn ghế, đẩy nhau, nghịch các vật sắc nhọn. Chuẩn bị: Trò chơi trên máy tính, đàn nhạc. Cách chơi: Cô cho trẻ ngồi theo 3 đội, giới thiệu luật chơi, cách chơi. Trên màn hình máy tính sẽ xuất hiện một số hành vi an toàn và hành vi không an toàn với trẻ. Yêu cầu các đội quan sát, suy nghĩ và dành quyền trả lời bằng cách lắc xắc xô, đại diện đội lên nhấn chuột vào hình ảnh không an toàn. Luật chơi: Nếu trả lời sai sẽ dành quyền trả lời cho đội khác. b. Sáng tác, sưu tầm các bài thơ, câu chuyện: Xuất phát từ đặc điểm tâm sinh lý của trẻ mầm non là rất thích nghe kể chuyện, đọc thơ. Nội dung các câu chuyện bài thơ thường để lại ấn tượng cho trẻ khó phai mờ. Qua nội dung của tác phẩm đó trẻ sẽ nhận biết được tính cách nhân vật, phân biệt được việc làm tốt – xấu, đúng – sai hướng đến việc làm tốt ngay từ nhỏ.
  4. 6 Chính vì vậy tôi đã sáng tác một số bài thơ, câu chuyện lống vào đó các tình huống nhằm mục đích giáo dục trẻ, giúp trẻ tiếp nhận một cách hứng thú, tự nguyện. Ví dụ: Câu chuyện “Đừng tùy tiện theo người lạ”. “Sáng chủ nhật tuần trước, Mi Mi được đi siêu thị cùng mẹ, cô bé hiếu động cứ chạy hết chỗ này đến chỗ khác khiến cho mẹ không tài nào giữ nổi. Mẹ nói với Mi Mi con không được nghịch ngợm như vậy nữa, nhưng Mi Mi không nghe lời chỉ đợi cho mẹ quay đi rồi chạy ngay, nhưng cô bé đâu hiểu rằng siêu thị ngày cuối tuần rất đông người, đi vòng quanh cuối cùng quay lại thì chẳng thấy bóng dáng mẹ. Mi Mi sợ quá òa lên khóc, lúc ấy có một phụ nữ đeo kính đen bước lại và nói: Chào cháu! Cô là bạn của mẹ cháu đây, mẹ cháu đang đợi cháu ở đằng kia kìa cô cháu mình cùng tới chỗ đó nha. Mi Mi gật đầu và đi theo người lạ không chút nghi ngờ. Cũng may lúc đó Mẹ Mi Mi bước đến thật nhanh còn người phụ nữ kia biết kế hoạch đã bị lộ tảy nên vội vàng bước đi thật nhanh. Mẹ nói với Mi Mi: Đó là người xấu muốn bắt cóc trẻ em, vì thế lần sau con không được nhận quà hay đi theo người lạ đấy. May hôm nay mẹ đến kịp nếu không thì không biết điều gì sẽ xảy ra nữa”. Khi kể xong câu chuyện cho trẻ nghe tôi đàm thoại với trẻ để trẻ hiểu hơn về nội dung câu chuyện, hiểu rõ tính cách nhân vật: Trong câu chuyện, bạn Mi Mi được mẹ cho đi đâu chơi? Mẹ Mi Mi đã nhắc bạn ấy những gì? Bạn ấy có nghe lời mẹ không? Điều gì đã xảy ra với Mi Mi? Chúng mình có nên học theo bạn Mi Mi không? Khi đàm thoại với trẻ cô đi sâu hỏi từng cá nhân trẻ để từ đó trẻ nhận thức sâu sắc những việc bé nên làm và không nên làm, việc này sẽ giúp trẻ vận dụng vào thực tế khi trẻ gặp phải tình huống tương tự. Qua nội dung của tác phẩm đó trẻ sẽ nhận biết được tính cách nhân vật, phân biệt được việc làm tốt – xấu, đúng – sai hướng đến việc làm tốt ngay từ nhỏ. Ví dụ : Bài thơ XUỐNG CẦU THANG Này các bạn nhỏ Khi xuống cầu thang Bé lưu ý nhé Bước xuống cẩn thận Nhớ đừng đùa nhau Đừng lấy tay vịn Làm cầu trượt chơi Nhỡ mà bị rơi Thì nguy hiểm lắm! Cô giảng nội dung và đàm thoại cùng trẻ: Khi xuống cầu thang con cần lưu ý điều gì? Có được đùa nhau khi đi cầu thang không? Nếu các con trượt lên tay vịn của cầu thang thì điều gì sẽ xảy ra. (Hình 8: Đi cầu thang)
  5. 7 Ngoài ra còn một số bài thơ câu chuyện có nội dung giáo dục trẻ kĩ năng nhận phòng tránh nguy cơ mất an toàn như: Bài thơ “Cái ổ điện”, “Đừng chơi gần bếp”, “Nhắc bé” hay câu chuyện “Hổ con bị lạc”, “Thoái khỏi hỏa hoạn” Đừng chơi gần bếp Bé ơi đừng có loanh quanh lại gần Bếp ga, tủ lạnh, quạt trần Nồi cơm, chảo điện rất gần tay ta Lại còn cả phích nước đầy Không may ngã phải là gây bỏng liền An toàn là việc đầu tiên Bé ơi phải nhớ tránh liền bếp thôi Cái ổ điện Đây là cái ổ điện Dùng để cắm quạt vào Bé đã biết chưa nào? Đừng sờ vào “Giật đấy” Và không được dùng gậy Kim loại sắt và nhôm Cho vào trong ổ điện Và nhớ là phải biết Không dùng kéo cắt dây Bị giật sẽ rất gay Nguy hiểm chết người đấy Nhớ đừng làm như vậy Thì mới là bé ngoan. Nhắc bé Cái mũi để thở Cái miệng để ăn Nghe được rõ rành Là tai bé đấy Không dùng que gậy Hột hạt, đồ chơi Cho vào mọi nơi Mắt tai, miệng mũi Nhỡ gặp điều rủi Thì phải làm sao Phải nhớ lúc nào Cũng luôn phòng tránh
  6. 8 Từ đó trẻ lớp tôi nhận biết được một số nguy cơ mất an toàn và cách phòng tránh chúng. 2.3. Biện pháp 3: Đưa nội dung Rèn kỹ năng phòng tránh nguy cơ mất an toàn và bạo hành trẻ vào các hoạt động giáo dục trong ngày. Nếu như trước kia hoạt động rèn kỹ năng phòng tránh nguy cơ mất an toàn và bạo hành trẻ chỉ được thực hiện trong hoạt động mọi lúc, mọi nơi và thực hiện một cách đơn giản, thì trong thời điểm hiện tại chúng tôi đã đưa các nội dung phòng tránh nguy cơ mất an toàn và bạo hành trẻ vào trong hoạt động có chủ đích, hoạt động chiều. Ví dụ: Đề tài: Cách xử lí khi bị ép ăn. Thời gian tổ chức: Hoạt động chiều. * Ổn định tổ chức: Cô tập trung trẻ, trò chuyện với trẻ những hoạt động trong ngày của trẻ. Cô cho trẻ xem video trẻ đang tự xúc cơm ăn, cô trò chuyện với trẻ về nội dung của video, giáo viên khái quát lại giá trị dinh dưỡng của các món ăn, giáo dục trẻ ăn hết suất * Nội dung - Hoạt động 1: Thảo luận nội dung. Cô cho trẻ quan sát hình ảnh trẻ bị ép ăn và cùng thảo luận về nội dung tranh. + Bạn trong tranh đang làm gì? + Thái độ của bạn ấy như thế nào? + Bạn trong tranh đang tự ăn hay bị ép ăn? Cô chia nhóm thảo luận: + Nếu bị ép ăn, con sẽ cảm thấy như thế nào? + Làm thể nào để tránh khỏi tình trạng bị ép ăn? + Khi bị ép ăn con sẽ làm gì? Trẻ thảo luận và đưa ra ý kiến. Cô giáo khái quất lại nội dung - Hoạt động 2: Trò chơi: Tìm nhà Cô nói luật chơi, cách chơi sau đó cho trẻ chơi. Trong hoạt động này giáo viên đã đưa trẻ vào trung tâm của hoạt động, trẻ được trải nghiệm, thảo luận đưa ra cách giải quyết vấn đề mình được quan sát, bên cạnh đó trẻ được tham gia hoạt động thực hành cách giải quyết tình huống, Qua hoạt động thảo luận, thực hành sử lý tình huống trẻ ghi nhớ một cách sâu sắc các nội dung mình đã được học, vận dụng vào thực tế khi gặp tình huống tương tự. 2.4. Biện pháp 4: Hình thành thói quen tốt thông qua hoạt động vui chơi. Trong trò chơi trẻ tích cực hoạt động và nắm vững các quy tắc đạo đức, các chuẩn mực hành vi con người trong các mối quan hệ xã hội, nắm vững thái độ của con
  7. 9 người đối với lao động, với tài sản chung và với chính bản thân trẻ. Góp phần hình thành ở trẻ thái độ hành vi đúng đắn phù hợp với chuẩn mực hành vi xã hội, vì thế có thể nói rằng trò chơi, đặc biệt là trò chơi đóng vai theo chủ đề được coi là trường học của những hành vi đạo đức của trẻ. Thông qua vai chơi hấp dẫn trẻ dễ dàng hướng tới cái đẹp trong hành vi, cử chỉ, thái độ của bạn mình, trẻ dễ dàng phục tùng theo những quy tắc đạo đức đó. Việc tổ chức tốt các hoạt động vui chơi không chỉ giúp hình thành các kỹ năng cần thiết mà còn đặt nền tảng khá vững chắc để phát triển toàn diện cho trẻ. Chính vì vậy chúng ta nên tận dụng hoạt động vui chơi để giáo dục trẻ cách phòng tránh nguy cơ mất an toàn có thể sảy ra trong cuộc sống hàng ngày. Nếu dạy trẻ về các nguy cơ mà chỉ được nói “bằng lời” các cách phòng tránh, các cách hoạt động an toàn thì sẽ không thực sự đạt hiệu quả. Muốn trẻ nhận biết đúng và ứng xử đúng với những tình huống có nguy cơ mất an toàn thì giáo viên cần cho trẻ trải nghiệm thực tế và trải nghiệm dưới nhiều hình thức khác nhau. Giáo viên có thể sử dụng các tình huống, trò chơi, các bài tập ... để cho trẻ thực hiện. Ví dụ: Trong chủ đề giao thông trong góc chơi phân vai khi trẻ chơi trò chơi “Bố chở con đi học” giáo viên dạy trẻ cách đội mũ bảo hiểm sao cho đúng cách và an toàn, yêu cầu trẻ đội mũ và cài dây dưới cằm trước khi ngồi lên xe, cho trẻ làm đi làm lại 2-3 lần để trẻ nhớ các thao tác, hình thành kỹ năng đội mũ bảo hiểm. (Hình 9: Bé thực hành đội mũ bảo hiểm.) - Trong chủ đề “Mẹ và những người thân yêu của bé” cô cho trẻ đóng vai mẹ con, hướng dẫn trẻ cách sử dụng các loại dụng cụ nhà bếp như dao, kéo, phích nước, xoong, nồi ... khi sử dụng xong bỏ vào nơi quy định, cho trẻ sử dụng 2-3 lần để trẻ khắc sâu. - Trong chủ đề “Những con vật đáng yêu” cô cho trẻ xem video bé bị chó cắn, khi xem xong video cô và trẻ trò chuyện về nội dung vủa video, cô giáo dục trẻ không dược đến gần chó. Trong hoạt động vui chơi, chúng ta có thể thấy rất nhiều tình huống sảy ra, vì vậy giáo viên phải quan sát, kịp thời sử lý các tình huống, điều chỉnh hành vi cho trẻ giúp trẻ có thói quen tốt để đảm bảo an toàn. Lâu dần những thói quen, hành vi đó sẽ được tích lũy và nó trở thành kỹ năng sống đối với trẻ giúp trẻ an toàn trong mọi tình huống xảy ra. 2.5. Biện pháp 5: Tạo tình huống cho trẻ tham gia hoạt động trải nghiệm. Việc tạo tình huống cho trẻ tham gia vào các hoạt động trải nghiệm thực tế giúp trẻ dễ dàng hơn trong việc tiếp thu kiến thức. Thay vì “Con không được làm thế này, thế kia” thì ta nên đưa ra các tình huống cụ thể thông qua thực tế giúp trẻ hiểu tại sao không được làm như thế, nếu xảy ra thì sẽ phải làm như thế nào? Từ những suy nghĩ tìm cách xử lý ở các tình huống cụ thể đó sẽ giúp trẻ dần có kỹ năng suy đoán, biết áp dụng những kiến thức kinh nghiệm mình đã có để tìm cách giải quyết. Từ đó, trẻ có thể vận dụng với những tình huống khác trong thực tế hằng ngày mà trẻ gặp. Dần dần
  8. 10 hình thành cho trẻ những kỹ năng bảo vệ bản thân trong cuộc sống. Việc tạo ra các tình huống cho trẻ trải nghiệm giúp giáo viên có cách quan sát cách xử lý tình huống của trẻ và đánh giá mức độ nhận thức của trẻ từ đó đưa ra các biện pháp tác động kịp thời đến trẻ, mặt khác giúp giáo viên có sự sáng tạo trong các biện pháp giáo dục trẻ. Để thực hiện biện pháp này tôi đưa ra các bước như sau: Bước 1: Lựa chọn nội dung giáo dục phù hợp độ tuổi Bước 2: Xây dựng tình huống phù hợp lứa tuổi và nhận thức của trẻ Bước 3: Đưa ra các cách giải quyết để hỗ trợ trẻ khi cho trẻ giải quyết các tình huống Tình huống 1: Bé làm gì khi có người lạ đến đón? Dạy trẻ kĩ năng ứng phó khi gặp người lạ. Cảnh giác trước người lạ là một trong những kĩ năng cơ bản nằm trong nhóm kĩ năng tự vệ mà trẻ cần được trang bị ngay từ độ tuổi mầm non. Cuộc sống hiện đại luôn chất chứa những nguy hiểm tiềm ẩn. Một người lạ có thể tốt nhưng cũng có thể xấu mang đến cho trẻ những mối nguy khôn lường. Khi tôi cho trẻ tham gia vào tình huống có người lạ cho trẻ bim bim, bánh kẹo và rủ trẻ đi cùng thì đa số các bé đã biết từ chối. Bản thân trẻ trong nhân vật bị hại cũng đã phản kháng lại rất mạnh mẽ. Và một số trẻ đã biết cách ứng phó khi người lạ cố tình đến gần và đưa bạn đi. Qua tình huống này, trẻ lớp tôi đã hiểu được không tùy tiện đi theo người lạ, không nhận bánh kẹo từ người lạ. Ví dụ: Cô kể cho trẻ nghe mẩu chuyện “Hôm nay trong giờ trả trẻ, bạn Nhi đang chờ mẹ đến đón, bạn chờ mãi không thấy mẹ tới, bạn cứ ra cửa lớp đứng, nhân lúc cô giáo không để ý bạn đã bỏ chạy ra sân, bỗng có một người đàn ông xuất hiện và đưa cho bé một gói kẹo và nói đi với chú, nhà chú có rất nhiều bim bim và cả bánh kẹo nữa”. Sau khi kể cho trẻ nghe câu chuyện đó, cô có thể hỏi trẻ một số câu hỏi để trẻ giải quyết tình huống: + Con có được tự ý chạy ra khỏi lớp khi chưa có sự đồng ý của cô không? + Vì sao? + Nếu là con, con có đi theo người đàn ông lạ đã cho con bim bim không? + Vì sao? Giáo viên giúp trẻ phát triển vấn đề thông qua việc tham gia như một thành viên của nhóm thảo luận, đưa ra các câu hỏi mở cho trẻ thời gian để trẻ suy nghĩ. Sau đó cô cho từng nhóm trình bày kết quả thảo luận của mình. Cô có thể cho các nhóm khác nhận xét về kết quả thảo luận của nhóm bạn vừa trình bày. Thông qua tình huống thực tế, quá trình trải nghiệm, trẻ trở nên vững vàng biết cách xử lý mọi tình huống. (Hình 10: Trẻ không nhận quà và không đi theo người lạ)
  9. 11 Tình huống 2: Bé làm gì khi bị bạn tranh đồ chơi Khi trẻ được trực tiếp chứng kiến tình huống bạn bị tranh đồ chơi. Việc đầu tiên trẻ làm là sẽ lao tới và giằng lại đồ chơi. Tuy nhiên nếu không được giáo dục một số kĩ năng cơ bản thì không những không lấy được đồ chơi mà trẻ có thể bị bạn đánh. Chính vì vậy, tôi đã cho trẻ được trực tiếp thực hành mô phỏng minh họa khi thấy bạn tranh đồ chơi: Qua tình huống trẻ biết được không nên giằng lại đồ chơi mà trẻ có thể đi tìm cô giáo hoặc người lớn để nhờ giúp đỡ hoặc trẻ có thể nhường luôn cho bạn đồ chơi đó và đi tìm đồ chơi khác để chơi. (Hình 11: Trẻ nhường đồ chơi cho bạn) Tôi đã áp dụng các tình huống cho trẻ ở lớp tôi và kết quả đạt được đó là trẻ nhận biết được các nguy cơ không an toàn và có kĩ năng giải quyết tình huống hợp lý. Đây chính là một biện pháp mà tôi cảm thấy tâm đắc nhất vì qua biện pháp này đã phát huy được tính tích cực của trẻ. Từ đó trẻ có cơ hội được thực hành, được trải nghiệm được đóng vai như người bị hại và qua đó trẻ biết giải quyết tình huống trực tiếp còn giáo viên sẽ quan sát các hành động của trẻ chân thực nhất để từ đó có hướng điều chỉnh giáo dục kịp thời với từng cá nhân trẻ. Tình huống 3: Trẻ làm gì khi bị đánh? Cô cho trẻ xem video tình huống trẻ bị đánh, cho trẻ xem 3-4 lần, cô cho trẻ thảo luận với nhau sau đó cô hỏi trẻ về tình huống, cách xử lý tình huống đó. Cô giáo đặt các câu hỏi: Con thấy hành động đánh bạn là đúng hay sai? Con có đánh bạn bao giờ không? Nếu bị bạn đánh con làm gì? Nếu con đánh lại bạn là đúng hay sai? Cô giáo dục trẻ không được đánh lại bạn khi bị bạn đánh vì bàn tay là để yêu thương chứ không phải để đánh bạn. Khi bị bạn đánh thì con mách cô hay gọi người lớn? Nếu cô không có ở đấy thì sao? Cô khái quát lại nội dung và giáo dục trẻ cách xử lý tình huống đó. Sau đó cô cho trẻ tham gia thực hành lại tình huống đó để trẻ trực tiếp đưa ra các cách xử lý, từ đó giúp trẻ dễ khắc sâu kỹ năng xử lý tình huống đó. (Hình 12: Trẻ thưa cô giáo khi bị bạn đánh) Tình huống 4: Trẻ làm gì khi cô đang nấu bánh trôi nước Cô cho trẻ tập làm bánh trôi nước sau đó cô luộc bánh trôi cho trẻ quan sát. Cô quan sát phản ứng của trẻ và đưa ra cách giải quyết cụ thể và giáo dục trẻ. Mục tiêu cần đạt: Trẻ nhận biết được các đồ dùng đang đun sôi lại gần sẽ không an toàn và rất nguy hiểm. giúp trẻ có kỹ năng phòng tránh: nếu nhìn thấy nước đang sôi thì không lại gần. - Trường hợp 1: Trẻ lại gần và mở nắp xoong ra xem. Cô đến gần và trò chuyện cùng trẻ + Các con đang làm gì?
  10. 12 + Các con có biết cô đang đun cái gì không? + Chuyện gì xảy ra khi các con đến gần nước đang đun sôi như vậy? + Nếu thấy những đồ đang đun trên bếp các con có được lại gần không? + Vì sao con không nên lại gần bếp đang đun sôi? + Các con đã bị bỏng bao giờ chưa? Giáo dục: Nếu khi thấy những đồ vật đang đun trên bếp các con không được lại gần vì rất nguy hiểm các con có thể bị bỏng do nước bắn, đổ vào. - Trường hợp 2: Trẻ không lại gần mà tránh xa + Đây là cái gì? + Tại sao con biết nước đang sôi? + Vì sao các con biết không được lại gần nước đun sôi? + Khi bị bỏng thì cảm giác như thế nào? Giáo dục: Nước sôi có thể gây bỏng cho các con nếu các con sờ vào, cô khen ngợi các con đã biết tránh xa đồ dùng nguy hiểm. (Hình 13: Trẻ không đến gần bếp đang đun) Tôi đã áp dụng các tình huống cho trẻ lớp tôi và kết quả mà trẻ đã đạt được đó là trẻ biết được các nguy cơ mất an toàn và có kỹ năng giải quyết các tình huống một cách hợp lý. Tôi nghĩ đây là một biện pháp hay vì đã phát huy được tính tích cực của trẻ ngoài ra luôn đặt trẻ vào trung tâm của hoạt động, từ đó trẻ có cơ hội được tham gia vào hoạt động thực hành, trải nghiệm đóng vai như người bị hại từ đó trẻ có kỹ năng giải quyết tình huống trực tiếp, bên cạnh đó giáo viên sẽ quan sát hành động của trẻ một cách trực tiếp, chân thực để từ đó có hướng điều chỉnh giáo dục kịp thời với từng cá nhân trẻ. Tình huống 5: Bé làm gì khi xảy ra đám cháy? Tôi trò chuyện với trẻ về các vụ cháy và nguyên nhân gây ra hỏa hoạn: Tôi cho trẻ xem video về những nơi xảy ra đám cháy, tôi hỏi trẻ nhìn thấy gì trẻ trả lời lửa và khói đen xì xì, có xe cứu hỏa và các chú lính cứu hỏa phun nước. Tôi nói để trẻ biết có rất nhiều nguyên nhân gây cháy như đốt rơm rạ, chập điện, hút thuốc, cháy nổ bình ga và sau khi xảy ra các vụ cháy thì hậu quả vô cùng nghiêm trọng, tôi cho trẻ biết dấu hiệu để nhận biết nơi ở của chúng mình bị cháy như thấy xuất hiện nhiều lửa, nhiều khói, có mùi khét. Tại những nơi có lắp đặt hệ thống báo cháy, sẽ nghe tiếng còi báo cháy (tôi cho trẻ nghe tiếng còi báo cháy). Tôi hướng dẫn trẻ một số kỹ năng thoát hiểm khi gặp hỏa hoạn, nếu có đám cháy xảy ra điều đầu tiên các con cần phải thật bình tĩnh, không chui vào tủ, gầm giường, nhà vệ sinh, không khóc nhè Tìm hướng ra và chạy thật nhanh ra ngoài, gọi cho người thân hoặc hàng xóm, gọi điện tới số điện thoại 114. Nếu là đám cháy lớn như ở trường học hay tòa nhà cao tầng thì phải bình tĩnh thực hiện các bước; Gọi to để
  11. 13 nhận sự giúp đỡ của người lớn, lấy khăn ẩm mềm hoặc dẻ che kín miệng và mũi để o hít phải khói độc, đồng thới bò thấp men theo tường, theo lối có ánh sáng, men theo lối cầu thang nhanh thoát hiểm ra ngoài. Tuyệt đối không được thoát hiểm bằng thang máy. (Hình 14: Thực hành kỹ năng thoát hiểm cúi thấp men theo tường ra ngoài) 2.6. Biện pháp 6: Phối kết hợp với cha mẹ học sinh để rèn kỹ năng phòng tránh các nguy cơ mất an toàn và bạo hành trẻ. Gia đình là môi trường giáo dục đầu tiên và có tầm quan trọng quyết định việc hình thành nhân cách của trẻ. Chính vì vậy, việc kết hợp giữa gia đình và nhà trường là một biện pháp không thể thiếu. Đối với ngành học mầm non công tác phối kết hợp giữa gia đình và nhà trường là một nhiệm vụ thiết thực tạo sự liên kết, thống nhất giữa trường mầm non và cha mẹ trẻ về nội dung, phương pháp, cách thức tổ chức chăm sóc giáo dục và đầu tư trang thiết bị về cơ sở vật chất cho trẻ. Tôi trao đổi trực tiếp với phụ huynh qua các giờ đón trả trẻ. Bằng cách đó giáo viên và phụ huynh luôn có được thông tin hai chiều của trẻ ở nhà cũng như ở trường. Việc dạy trẻ phòng tránh nguy hiểm, bạo hành trẻ cũng được củng cố và mở rộng hơn. Qua đó phụ huynh thấy yên tâm hơn khi gửi con ở lớp và phụ huynh đã nhận thức được rõ hơn tầm quan trọng của việc giáo dục kỹ năng sống cho trẻ. (Hình 15: Trao đổi với phụ huynh) Hoặc trong buổi họp phụ huynh đầu năm tôi đã báo cáo cụ thể hơn về tình hình của trẻ, tính cách đạo đức, thói quen của từng trẻ trên lớp. Các bậc phụ huynh có thể trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm giáo dục con em mình. Từ đó có kế hoạch thực hiện và thống nhất sự phối hợp giữa cô giáo và gia đình trong giáo dục trẻ. Ngoài việc trao đổi trực tiếp với phụ huynh, tôi còn tuyên truyền gián tiếp thông qua góc tuyên truyền, zalo của lớp để phụ huynh nắm bắt và cùng giúp con nhận biết, phòng tránh các nguy cơ mất an toàn cho trẻ ở nhà. Qua việc phối kết hợp với phụ huynh, trẻ lớp tôi đã nhận thức rõ hơn về các nguy cơ mất an toàn khi ở trường cũng như ở nhà và ở ngoài xã hội. Từ đó trẻ có kĩ năng phòng tránh và xử lí những nguy cơ mất an toàn ở bất cứ nơi đâu. * Tính mới của giải pháp: Các nội dung rèn kỹ năng phòng tránh nguy cơ mất an toàn và bạo hành trẻ độ tuổi 3-4 tuổi ở Trường Mầm non đã được lồng nghép vào hầu hết tất cả các chủ đề và luôn cho trẻ được học ở mọi lúc mọi nơi và còn được được đưa vào Hoạt động có chủ đích và Hoạt động chiều. Trẻ có kiến thức, kỹ năng phòng tránh nguy cơ mất an toàn và bạo hành cho trẻ. Nâng cao được nhận thức của phụ huynh và nhận thức của toàn xã hội.