Đơn công nhận SKKN Một số biện pháp rèn kỹ năng giải toán về tỉ số phần trăm cho học sinh Lớp 5A2 trường Tiểu học xã Mường Mít năm học 2021-2022
Bạn đang xem tài liệu "Đơn công nhận SKKN Một số biện pháp rèn kỹ năng giải toán về tỉ số phần trăm cho học sinh Lớp 5A2 trường Tiểu học xã Mường Mít năm học 2021-2022", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
don_cong_nhan_skkn_mot_so_bien_phap_ren_ky_nang_giai_toan_ve.doc
Nội dung tài liệu: Đơn công nhận SKKN Một số biện pháp rèn kỹ năng giải toán về tỉ số phần trăm cho học sinh Lớp 5A2 trường Tiểu học xã Mường Mít năm học 2021-2022
- 3 Hình thức, phương pháp tổ chức dạy học thiếu linh hoạt, chưa thu hút được học sinh tích cực tham gia học tập. Giải pháp 2: Dạy học đảm bảo nội dung theo chương trình sách giáo khoa *Ưu điểm: Học sinh được học đầy đủ các nội dung trong chương trình sách giáo khoa nói chung và về nội dung giải toán về tỉ số phần trăm nói riêng. Giáo viên có nhiều kinh nghiệm trong dạy học về giải toán tỉ số phần trăm nên sẽ giảm bớt thời gian nghiên cứu bài trước khi lên lớp. Học sinh được truyền thụ kiến thức nhanh; giáo viên thường xuyên ôn tập lại kiến thức vào buổi 2 cho học sinh; giáo viên không mất quá nhiều thời gian để chuẩn bị về nội dung, ít phải chuẩn bị đồ dùng dạy học cho học sinh; học sinh nhớ dần dần được các kiến thức, kĩ năng. *Nhược điểm: Hình thức tổ chức dạy học của các năm với mỗi bài đều giống nhau, ít có sự thay đổi về nội dung. Giáo viên chưa thật sự mạnh dạn trong việc thay đổi ngữ liệu, nội dung bài toán phù hợp với thực tế lớp học, địa phương. Học sinh được học lần lượt các bài với nội dung y nguyên sách giáo khoa nên ít có sự vận dụng và sáng tạo trong cuộc sống hàng ngày. Việc học về dạng toán tỉ số phần trăm đôi khi tạo cho học sinh cảm giác nhàm chán, áp lực vì các em chưa thật sự cảm thấy sẵn sàng, hứng thú trong học tập. Tồn tại chính của biện pháp này là học sinh được truyền thụ kiến thức mang nặng về lý thuyết, học sinh chưa thấy được tính ứng dụng và thiết thực của dạng toán này trong thực tế. Đôi khi học sinh cảm thấy học như là một nhiệm vụ, các em phải trải qua việc học một cách nặng nề. *Ví dụ (Trang 75, Sách giáo khoa Toán lớp 5): Trường Tiểu học Vạn Thọ có 600 học sinh, trong đó có 315 học sinh nữ. Tìm tỉ số phần trăm của số học sinh nữ và số học sinh toàn trường? Học sinh chưa tìm được hứng thú trong học tập vì các em cũng không biết trường Tiểu học Vạn Thọ ở đâu, các đối tượng chưa thật sự gần gũi với các em. Thay vì tìm tỉ số phần trăm số bạn nữ so với số học sinh cả trường của một
- 4 trường Tiểu học xa lạ, với cách làm mới trong Sáng kiến này chúng ta có thể thay bằng tính tỉ số phần trăm số học sinh nữ của lớp so với tổng số học sinh lớp mình hay tính tỉ số phần trăm số bạn đi giày của lớp so với tổng số học sinh lớp mình; *Ví dụ 2: Trước đây, giáo viên thường kiểm tra học sinh học thuộc các quy tắc về tìm tỉ số phần trăm, với cách làm mới trong Sáng kiến này giáo viên có thể thiết kế thành các trò chơi học tập từ đó giúp các em hào hứng tham gia hoạt động học tập, tiết học trở nên nhẹ nhàng hơn mà giáo viên vẫn kiểm soát được việc học của các em. Quá trình nhận thức của các em học sinh đòi hỏi giáo viên cần nghiên cứu, xây dựng nội dung bài học một cách linh hoạt, thu hút học sinh vào quá trình học tập; tạo tâm thế thoải mái cho các em; học mà chơi, chơi mà học. Khảo sát về mức độ hiểu biết, vận dụng giải toán về tỉ số phần trăm của học sinh trước khi áp dụng sáng kiến mới * Đối tượng khảo sát: 22/22 học sinh lớp 5A2 trường Tiểu học xã Mường Mít, năm học 2020-2021. * Người khảo sát: Giáo viên chủ nhiệm lớp 5A2 (đồng chí Trịnh Thị Oanh). * Nội dung khảo sát: Giải toán về tỉ số phần trăm. Hình ảnh: Phiếu khảo sát học sinh về giải toán tìm tỉ số phần trăm
- 5 * Hình thức khảo sát: Học sinh thực hiện làm phiếu khảo sát. *Thời điểm khảo sát: Cuối học kì I năm học 2020-2021 (khi học sinh đã được học đầy đủ các dạng toán về tỉ số phần trăm) *Kết quả thu được: Kết quả khảo sát Số HS Ghi Lớp Điểm Điểm Điểm Điểm tham gia chú dưới 5 5- 6 7-8 9-10 3/22 8/22 9/22 2/22 5A2 22 = 13,6% = 36,4% = 40,9% = 9,1% Đánh giá chung: * Ưu điểm: Đa số học sinh phân biệt được các dạng toán cơ bản và giải được các bài toán về tỉ số phần trăm. Cuối năm học 2020-2021: + 100% học sinh đạt xếp loại môn Toán từ hoàn thành trở lên, trong đó: Hoàn thành tốt = 5/22 em = 22,7%; Hoàn thành = 17/22 em = 77,3%. + 100% học sinh hoàn thành chương trình Tiểu học. * Hạn chế: Với kết quả khảo sát nội dung giải toán về tỉ số phần trăm, tôi thấy chất lượng học sinh lớp 5A2 còn thấp (còn 3 học sinh chưa đạt 5 điểm, số học sinh có điểm trung bình và chưa đạt chiếm 50%). Ở nội dung này tôi thấy nhiều em học sinh còn gặp khó khăn như sau: - Chưa xác định đúng các dạng toán về tỉ số phần trăm. - Vận dụng giải toán về tỉ số phần trăm vào thực tế còn hạn chế. - Chưa thấy được sự hứng thú trong nội dung học tập này. - Chưa biết được ý nghĩa, tính thiết thực trong thực tế cuộc sống về giải toán tỉ số phần trăm. Đa số các em chưa thấy được ý nghĩa của dạng toán về tỉ số phần trăm để có thể vận dụng vào thực tế; các em viết lời giải còn chưa rõ ý, trình bày bài thiếu khoa học.
- 6 * Nguyên nhân: Học sinh được học tập phù hợp với tình hình thực tế, phù hợp với chương trình ứng phó với phòng chốn dịch Co-vid 19 nên thời gian học tập trên lớp chủ yếu luyện tập kiến thức bổ trợ. Việc vận dụng nội dung được học vào thực tiễn còn ít nên việc liên hệ, xác định dạng toán của các em còn chưa chính xác. * Đề xuất biện pháp thực hiện. Vậy từ những đánh giá chung nêu trên, năm học 2021-2022, chúng tôi đã mạnh dạn áp dụng Một số biện pháp rèn kỹ năng giải toán về tỉ số phần trăm cho học sinh lớp 5A2 trường Tiểu học xã Mường Mít năm học 2021-2022 (22 học sinh). 2. Các giải pháp mới đã thực hiện Giải pháp 1. Tạo hứng thú cho học sinh khi tham gia quá trình học tập * Điểm mới Có sự kết nối phần khởi động với nội dung bài học. Qua đó, giáo viên tạo tâm thế hứng khởi cho học sinh khi tham gia học tập. Sử dụng phương pháp dạy học thông qua chơi, dạy học trải nghiệm thực tế, có thể xây dựng một số tiết học tập ngoài trời để kích thích sự tò mò, khám phá, tự tìm ra kiến thức mới của học sinh. Giáo viên là người định hướng tổ chức hoạt động, học sinh đóng vai trò là trung tâm của quá trình học. * Cách thực hiện Bước 1: Xây dựng đa dạng phương pháp, hình thức tổ chức dạy học - Thiết kế các hoạt động học tập trở nên nhẹ nhàng, lôi cuốn học sinh vào việc học mà các em không bị áp lực: sử dụng các phương pháp dạy học thông qua chơi, các trò chơi học tập, dạy học trải nghiệm, - Tạo không gian học tập thoải mái, linh hoạt kích thích sự tò mò, khám phá kiến thức của học sinh. - Tạo sự kết nối logic giữa các hoạt động học tập trong một tiết, trong hệ thống các bài liên quan đến dạng giải toán về tỉ số phần trăm.
- 7 Hình ảnh: Học sinh sử dụng kĩ thuật phòng tranh nhận xét, chữa bài Bước 2: Tổ chức, thực hiện Dưới sự hướng dẫn của giáo viên: - Học sinh được hoạt động bằng cách tự chơi trò chơi trong đó mục đích của trò chơi truyền tải yêu cầu cần đạt của bài học. Hình ảnh: Học sinh tham gia trò chơi rung chuông vàng
- 8 Luật chơi (cách chơi) thể hiện nội dung và phương pháp học, đặc biệt là phương pháp học tập có sự hợp tác và sự tự đánh giá. Sử dụng trò chơi học tập để hình thành kiến thức, kỹ năng mới hoặc củng cố kiến thức, kỹ năng đã học. Việc tổ chức cho học sinh chơi các trò chơi để hình thành kiến thức, kỹ năng mới là rất cần để tạo hứng thú học tập cho học sinh ngay từ khi bắt đầu bài học mới. Để tổ chức được trò chơi trong dạy học Toán có hiệu quả cao thì đòi hỏi mỗi giáo viên phải có kế hoạch chuẩn bị chu đáo, đảm bảo các yêu cầu sau: + Trò chơi mang ý nghĩa giáo dục. + Trò chơi phải nhằm mục đích củng cố, khắc sâu kiến thức. + Trò chơi phải phù hợp với tâm sinh lý của học sinh, phù hợp với khả năng của giáo viên và cơ sở vật chất của nhà trường. + Hình thức tổ chức trò chơi phải đa dạng, phong phú. + Trò chơi phải được chuẩn bị chu đáo. + Trò chơi phải gây được hứng thú đối với học sinh. - HS được vận dụng tự đưa ra và giải các bài toán trong thực tế lớp học, trường học, trong gia đình về các bài toán liên quan đến giải toán về tỉ số phần trăm. Hình ảnh: Học sinh trai nghiệm xây dựng và giải bài toán trên sân trường
- 9 *Ví dụ: Từ trải nghiệm thực tế trên sân trường, dưới định hướng tổ chức của giáo viên, học sinh xây dựng bài toán như sau: Vườn trường Tiểu học xã Mường Mít có 20 cây bóng mát, trong đó có 4 cây bàng. Tìm tỉ số phần trăm số cây bàng được trồng so với tổng số cây bóng mát được trồng trong trường. Thay vì việc giáo viên đưa ra đề bài, có thể cho học sinh ra ngoài vườn trường tự đếm số cây bóng mát, số cây bàng sau đó giáo viên nêu yêu cầu và các em giải quyết bài toán ngay tại sân trường, giúp cô trò “phá vỡ không gian lớp học” mà lại giúp các em hứng thú trong học tập hơn. Giải pháp 2. Hướng dẫn học sinh tìm ra các dạng toán cơ bản và quy tắc giải các dạng toán đó. * Điểm mới Giáo viên nghiên cứu kĩ nội dung bài, thiết kế các bài toán gần gũi, gắn với thực tế của học sinh. Học sinh được học tập gắn với các nội dung ngoài thực tế từ đó củng cố, ghi nhớ về các dạng và cách giải các dạng giải toán về tỉ số phần trăm. So sánh, tìm ra điểm khác nhau của các dạng toán. Học sinh được lôi cuốn vào quá trình học tập, việc học trở nên nhẹ nhàng hơn và các em biết vận dụng và sáng tạo trong cuộc sống. * Cách thực hiện Bước 1. Học sinh xác định các dạng toán và cách giải tương ứng. Dạng 1: Tìm tỉ số phần trăm của hai số Ví dụ: Cho học sinh đếm số bạn trong lớp; đếm số bạn nữ trong lớp để tạo nên bài toán có dạng như sau: Lớp 5A2 có 20 học sinh, trong đó có 12 bạn nữ. Tìm tỉ số của số bạn nữ và số học sinh cả lớp. Lưu ý: Giáo viên nên khéo léo tạo các tình huống để tổng số bạn trong lớp đảm bảo giá trị phần trăm của một bạn trong lớp là kết quả của phép chia hết. - Giáo viên hướng dẫn học sinh giải bài toán sau đó tự rút ra cách giải. Bước 1: Tìm thương của 2 số đó, viết thương dưới dạng số thập phân.
- 10 Bước 2: Nhân nhẩm thương đó với 100, rồi viết thêm kí hiệu phần trăm vào bên phải tích vừa tìm được. - Khi tìm tỉ số hay tỉ số phần trăm của hai số, học sinh phân vân không biết nên đặt số nào là số bị chia, số nào là số chia. Để giúp học sinh xác định đúng cần hiểu rõ: Số nào câu hỏi nêu trước thì lấy số đó làm số bị chia, số nào nêu sau thì lấy làm số chia. Cụ thể như ở ví dụ trên, dựa vào câu hỏi ta xác định “số học sinh nữ” được câu hỏi nêu trước ta lấy làm số bị chia và số học sinh cả lớp ta lấy làm số chia. - Trong thực tế, không phải tỉ số nào cũng dễ dàng viết thành tỉ số phần trăm. Nếu phép chia còn dư, khi thêm 0 vào để chia mà vẫn chia không hết thì giáo viên lưu ý học sinh chỉ nên lấy đến 4 chữ số ở phần thập phân của phép chia đó. - Sau khi đưa một số ví dụ để gợi ý các bước giải, cần một hệ thống bài tập có dạng tương tự để cho học sinh thực hành. Ví dụ: tìm tỉ số phần trăm số bạn đi giày, đội mũ hay mặc áo khoác, so với số bạn trong cả lớp, Dạng 2: Tìm giá trị một số phần trăm của của một số Hình ảnh: Học sinh tự xây dựng bài toán từ thực tế
- 11 - Giúp học sinh biết cách tìm một số phần trăm của một số đã biết bằng cách: Lấy số đó chia cho 100 rồi nhân với số phần trăm. (Hoặc lấy số đó nhân với số phần trăm rồi chia cho 100) - Các em biết vận dụng cách tính trên vào giải các bài toán về phần trăm. - Ngoài ra, các em còn giải các bài toán có sự phối hợp giữa tìm tỉ số phần trăm của hai số với tìm giá trị một số phần trăm của một số. Từ đó, các em phát triển được tính vận dụng sáng tạo trong học tập. Ví dụ: Giáo viên có thể liên hệ về số học sinh ở một lớp bất kì trong trường mà các em muốn tìm hiểu để xây dựng nội dung bài toán có dạng: Lớp 4A1 có 25 học sinh, trong đó số học sinh nữ chiếm 40%. Tính số học sinh nữ của lớp đó? - Giáo viên hướng dẫn học sinh giải bài toán sau đó tự rút ra cách giải.- Giáo viên cho học sinh tự xây dựng và giải các bài toán thực tế có dạng tìm giá trị một số phần trăm của của một số. - Cho học sinh tự so sánh điểm giống và khác nhau ở bài toán và cách giải của dạng 1 với dạng 2. * Tập trung hướng dẫn học sinh cách tính tỉ số phần trăm của hai số; tìm giá trị phần trăm của một số cho trước. (Theo Hướng dẫn số 1870 /SGDĐT- GDMN-TH V/v hướng dẫn thực hiện kế hoạch giáo dục đối với lớp 5 đáp ứng yêu cầu Chương trình GDPT 2018). Tuy nhiên, chúng tôi vẫn giới thiệu thêm dạng 3: Tìm một số khi biết giá trị một số phần trăm của số đó (buổi 2) để học sinh biết và nắm chắc hơn nội dung về giải toán tỉ số phần trăm và vận dụng vào thực tế tốt hơn. Dạng 3: Tìm một số khi biết giá trị một số phần trăm của số đó - Học sinh biết cách tìm một số khi biết một số phần trăm của số đó theo hai cách sau: + Lấy giá trị số phần trăm của số đó chia cho số chỉ phần trăm được bao nhiêu nhân với 100 (hoặc lấy giá trị số phần trăm của số đó nhân với 100 được bao nhiêu chi cho số chỉ phần trăm). + Biết phân biệt sự khác nhau giữa dạng 1, dạng 2 với dạng 3, tránh nhầm lẫn khi vận dụng giải các dạng toán.
- 12 Ví dụ 1: (dựa vào số liệu học sinh đếm số gà mái nhà mình và tỉ số số gà mái so với số gà nuôi trong gia đình mà học sinh chuẩn bị trước giáo viên cùng học sinh lựa chọn xây dựng một bài toán có dạng): Nhà Lan nuôi 30 con gà mái. Hỏi nhà Lan nuôi bao nhiêu con gà, biết số gà mái chiếm 60% số gà cả đàn. Từ ví dụ trên, học sinh tự rút ra quy tắc tổng quát của dạng toán: “Tìm một số khi biết giá trị một số phần trăm của số đó”. Quy tắc: Muốn tìm một số khi biết giá trị một số phần trăm của số đó ta lấy số đã cho chia cho số chỉ phần trăm rồi nhân với 100. (hoặc lấy số đã cho nhân với 100 rồi chia cho số chỉ phần trăm). Sau khi nắm được cách làm, tổ chức cho học sinh thực hành giải một số bài toán thuộc dạng đó. Bước 2. Hướng dẫn học sinh phân biệt các dạng toán và cách giải Hình ảnh: Học sinh trao đổi nhóm để tìm ra cách giải các dạng toán - Sau khi học sinh đã nắm chắc ba dạng cơ bản của bài toán về tỉ số phần trăm, giáo viên cần tổ chức cho học sinh luyện tập các bài toán tổng hợp cả ba dạng để củng cố cách giải, rèn kĩ năng và phân biệt sự khác nhau của ba dạng bài đó. - Trong quá trình giải bài tập, cho học sinh thử lại kết quả bài toán để biết
- 13 mình làm đúng hay chưa? Từ đó các em có thể xác định được bài làm đúng một cách chính xác. Bước 3. Vận dụng giải quyết các vấn đề ngoài thực tế Thông qua các bài toán từ thực tế, học sinh thấy được ý nghĩa về tỉ số phần trăm, các em có thể vận dụng tự xây dựng bài toán hoặc giải các bài toán từ cuộc sống hàng ngày. Giáo viên và học sinh đều có thể cùng nhau xây dựng và giải các bài toán ngoài thực tế thay vì việc giáo viên là người xây dựng đề còn học sinh là người giải, tránh cảm giác nhàm chán cho các em. Giáo viên là người tổ chức, định hướng hoạt động học tập cho học sinh; học sinh tự tìm tòi, khám phá ra kiến thức mới. Từ đó, các em có động lực học tập và các hoạt động học tập trở nên nhẹ nhàng và có ý nghĩa hơn; chất lượng dạy học về giải toán tỉ số phần trăm cũng đươc nâng dần lên. Hình ảnh: Học sinh tự xây dựng bài toán từ thực tế để cả lớp cùng giải quyết *Về khả năng áp dụng của sáng kiến: Về công tác chỉ đạo, hướng dẫn: sáng kiến được thực hiện dựa trên tinh thần chỉ đạo của Phòng Giáo dục – Đào tạo, Ban giám hiệu nhà trường, công tác

