Đơn công nhận Sáng kiến Một số giải pháp tạo hứng thú cho học sinh trong giờ học Tiếng Anh Lớp 10 tại trường THPT Nho Quan C

docx 23 trang Chăm Nguyễn 04/12/2025 260
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Đơn công nhận Sáng kiến Một số giải pháp tạo hứng thú cho học sinh trong giờ học Tiếng Anh Lớp 10 tại trường THPT Nho Quan C", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docxdon_cong_nhan_sang_kien_mot_so_giai_phap_tao_hung_thu_cho_ho.docx
  • pdfBìa.pdf
  • pdfĐơn công nhận Sáng kiến Một số giải pháp tạo hứng thú cho học sinh trong giờ học Tiếng Anh Lớp 1.pdf

Nội dung tài liệu: Đơn công nhận Sáng kiến Một số giải pháp tạo hứng thú cho học sinh trong giờ học Tiếng Anh Lớp 10 tại trường THPT Nho Quan C

  1. 10E 35 02 5,7 13 37,1 19 54,3 1 2,9 10M 40 0 0 12 30 23 57,5 5 12,5 10N 40 0 0 13 32,5 23 57,5 4 10 Qua bảng khảo sát học sinh đối với môn Tiếng Anh tại các lớp 10E, 10M, 10N tôi thấy tỉ lệ học sinh yêu thích môn học không nhiều, tỉ lệ học sinh khá, giỏi ít, tỉ lệ học sinh yếu, kém còn cao. Vậy tại sao các em không yêu thích môn học Tiếng Anh? Nguyên nhân từ đâu dẫn đến kết quả học tập của học sinh không hiệu quả? Giáo viên đã áp dụng tốt các phương pháp dạy học tích cực chưa? Đây là những câu hỏi mà tôi luôn trăn trở, cần tìm tòi, nghiên cứu, thử nghiệm để tìm ra các giải pháp giúp kích thích niềm say mê, ham học hỏi của các em học sinh để môn Tiếng Anh trong nhà trường, trong toàn ngành được nâng cao chất lượng hơn. Việc mong muốn tạo được hứng thú cho học sinh trong giờ học Tiếng Anh mà tôi đưa ra trước hết là nhằm khơi được hứng thú học Tiếng Anh cho học sinh của một số lớp học cụ thể nói riêng và hướng đến thử nghiệm với tất cả các đối tượng học sinh nói chung tại trường THPT Nho Quan C để giảm được sự nhàm chán tối đa trong một giờ học, phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của học sinh, giúp cho học có điều kiện sử dụng Tiếng Anh một cách tự nhiên, hình thành và rèn luyện kỹ năng, vận dụng kiến thức vào thực hiện quá trình giao tiếp thực tế và cũng là để củng cố, ôn tập lại những kiến thức, khắc sâu lại những kiến thức đã học một cách thường xuyên, có hiệu quả. Thêm vào đó là để nâng cao nghiệp vụ công tác của bản thân và cũng để trao đổi kinh nghiệm trong công việc với các đồng nghiệp của mình. Như vậy, để phát huy tính tích cực chủ động sáng tạo của học sinh, nâng cao chất lượng dạy học bộ môn Tiếng Anh thì cần có yếu tố là học sinh có sự yêu thích, đam mê môn học đó. Muốn học sinh yêu thích môn học đó thì giáo viên phải tạo được hứng thú học tập cho học sinh. Có khá nhiều phương pháp để phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tạo hứng thú học tập cho học sinh đã được nhiều giáo viên áp dụng và để làm cho học sinh cảm thấy bài học ở đây nhẹ nhàng“như một trò chơi, mọi người tham dự vô tư, thoải mái” với không khí “hòa nhã, vui vẻ..”. Nếu Tiếng Anh trở nên sống động hơn, hấp dẫn hơn, thực tế hơn, vậy thì không còn lý do gì mà học sinh lại không cảm thấy hứng thú để học tập, không tích cực, chủ động tham gia vào bài học. Khi học sinh có hứng thú học tập thì ắt sẽ có kết quả học tập tốt. Đây là nền tảng cho việc áp dụng phương pháp mới vào dạy học góp phần nâng cao chất lượng dạy và học môn Tiếng Anh. Vì vậy tôi đã viết sáng kiến kinh nghiệm “Một số giải pháp tạo hứng thú cho học sinh trong giờ học Tiếng Anh lớp 10 tại trường THPT Nho Quan C”. 3
  2. 2. Bản chất của giải pháp mới cải tiến. Để nâng cao chất lượng dạy và học và quan trọng hơn là để thu hút được sự tập trung chú ý của học sinh, tạo cho các em một tâm lý thoải mái, không áp lực, để các em say mê, yêu thích môn học hơn nữa trong các giờ học. Qua quá trình giảng dạy và tham khảo, tôi xin đưa ra một số giải pháp thông dụng mà tôi đã áp dụng và thấy học sinh có hứng thú học tập hơn với môn Tiếng Anh như sau: 2.1. Thúc đẩy động cơ học tập của học sinh 2.1.1. Động viên học sinh bằng những lời khen Chúng ta có thể thấy một lời khen bao giờ cũng tốt hơn một lời chê bai. Vì thế để giúp các em mạnh dạn hăng hái phát biểu tôi luôn không bao giờ tiếc những lời khen ngợi động viên các em. Thực tế cho thấy, có những học sinh biết nhưng không dám nói vì sợ bị mắc lỗi. Một số em khác không dám giơ tay phát biểu vì sợ nói sai bị các bạn cười, cô giáo phê bình. Theo tôi, đây chính là yếu tố tâm lí mà giáo viên dạy Tiếng Anh cần phải xem xét để giúp các em có được hứng thú học tập hay ít ra là tích cực hơn trong các giờ học. Trong quá trình dạy, để mong học sinh không có cảm giác sợ sai thì giáo viên không nên quá khắt khe với những lỗi mà học sinh mắc phải (Ví dụ: lỗi phát âm, lỗi chính tả, thậm chí là lỗi ngữ pháp ) để tránh cho các em tâm lí sợ mắc lỗi khi thực hành mà không dám thực hành hay không thấy hứng thú. Vì vậy, bất cứ một câu trả lời tốt nào đều cần được giáo viên khen đôi khi chỉ là một cái gật đầu, một nụ cười hay một tràng vỗ tay Thậm chí nếu học sinh làm chưa đúng chúng ta cũng vẫn có thể tìm ra điểm đáng để khen. * Ví dụ 1: Khi học Unit 1. FAMILY LIFE, khi thực hành 2 học sinh hỏi đáp như sau: Student 1: Does your mum cook ? Student 2: Oh, yes. My Mum usually do the cooking. Trong câu này rõ ràng học sinh đã sai về mặt ngữ pháp. Tuy nhiên, trong giao tiếp, tôi không quá chú trọng vào ngữ pháp. Thay vì ngắt lời khi các em đang nói để sửa lỗi, tôi để cho học sinh trả lời xong. Mặc dù câu trả lời chưa đúng nhưng tôi vẫn khích lệ hay khen em bằng câu như: “Not bad”. Sau đó tôi hỏi em học sinh đó chúng ta dùng: “Your mum do the cooking or your mum does the cooking” bằng cách này học sinh có thể tự sửa được câu đúng cho mình và chắc chắn em sẽ khắc sâu bài học hơn. * Ví dụ 2: Khi dạy Unit 4. “FOR A BETTER COMMUNITY” phần củng cố ngữ pháp của bài tôi yêu cầu học sinh làm câu chia động từ trong ngoặc. + While Lan (work)...as a volunteer in the countryside, she (meet) an old friend. 4
  3. Bài làm của học sinh như sau: + While Lan ..(work)..was working..as a volunteer in the countryside, she (meet)..meeted.. an old friend. Rõ ràng bài làm của học sinh chưa đúng, nhưng em đã nhận biết được câu này dùng thì quá khứ đơn và quá khứ tiếp diễn nhưng em không nhớ dạng của động từ bất quy tắc “meet” trong quá khứ cần chuyển thành “met” chứ không phải thêm đuôi “ed”. Trong tình huống này giáo viên cần hết sức tránh thái độ chê bai, bực bội “câu dễ như này mà em cũng làm sai”, hay chữa lỗi ngay . Ngược lại, giáo viên cần tỏ thái độ khích lệ, khen em đã nhận biết được sự phối hợp thì quá khứ đơn và quá khứ tiếp diễn với “when”/”while” và giúp em nhận ra còn nhầm lẫn ở chỗ nào để em tự sửa. Như vậy sẽ khích lệ được học sinh mạnh dạn và cố gắng hơn ở các tiết học sau. 2.1.2. Đơn giản hóa các bài học Khi giảng dạy tôi luôn phải chú ý đến tính vừa sức trong dạy học do đối tượng học sinh trong trường tôi còn nhiều hạn chế về chất lượng học tập nên tôi đã mạnh dạn thay đổi một số bài tập trong chương trình sách giáo khoa cho đơn giản và phù hợp với đối tượng học sinh hơn. *Ví dụ : Khi dạy Unit 5: INVENTIONS phần “GETTING STARTED”, bài tập 4 trang 53 có yêu cầu “Fill in each gap in the summary of the conversation with one word from 1” đối với những lớp có học lực yếu kém nhiều hơn, tôi đưa ra yêu cầu đơn giản hơn. Các em đọc lại đoạn văn và dùng từ cho sẵn mà giáo viên cung cấp để điền vào chỗ trống thay vì yêu cầu học sinh tự tìm các từ trong đoạn văn phần 1 để điền. Như vậy sẽ giúp các em học yếu một chút có cơ sở thêm để hoàn thành bài tập. Nếu các em hoàn thành được bài tập các em sẽ có động lực tham gia học tập tốt hơn. Hình ảnh: Bài tập 4 phần Getting started - Unit 5 trong sách giáo khoa Tiếng Anh 10 Để phù hợp với đối tượng học sinh của mình, tôi đưa ra những yêu cầu khá đơn giản, rõ ràng. Ví dụ ngoài việc sử dụng các kỹ năng cụ thể trong từng tiết dạy, tôi luôn căn cứ vào khả năng ghi nhớ và thể hiện của từng học sinh để yêu cầu thực hành 5
  4. và giao bài tập về nhà tránh áp lực và quá tải với khả năng của học sinh yếu kém, tránh nhàm chán vì quá dễ đối với học sinh khá, giỏi. 2.1.3. Hãy tạo cho những học sinh yếu hơn có cơ hội để được “tỏa sáng” Giáo viên không nên chỉ mời những học sinh có kiến thức tốt phát biểu trong giờ mà cần khuyến khích mọi thành viên khác phát biểu xây dựng bài, mặc dù các ý kiến phát biểu có thể không thật chính xác vì chính điều này kích thích các em cần cố gắng hơn để học tập. *Ví dụ: Unit 2- HUMANS AND THE ENVIRONMENT, Tiết “LISTENING” phần 1, khi yêu cầu học sinh thực hành quan sát bức tranh và trả lời câu hỏi: “What are they doing? Why?” Tôi gọi 1 hoặc 2 em học sinh trong lớp học tốt trả lời mẫu, sau đó gọi tiếp 1 hoặc 2 em có lực học trung bình, yếu đưa ra câu trả lời. Như thế tất cả các em sẽ tích cực hoạt động và chú ý vào bài hơn vì đều được tham gia vào quá trình học tập. Hình ảnh hoạt động 1 phần Listening - Unit 2 trong sách giáo khoa Tiếng Anh 10 2.2. Áp dụng những tình huống, hành động thực tế vào bài giảng Trong quá trình giảng dạy, tôi nhận thấy rằng nếu mình có thể áp dụng những ví dụ, tình huống hành động cụ thể, thực tế vào bài giảng sẽ khiến cho bài học trở nên sinh động, hấp dẫn và khiến các em nhớ từ, cấu trúc, mẩu hội thoại lâu hơn và có thể sử dụng chúng trong thực tiễn hàng ngày. *Ví dụ 1: Khi dạy Unit 7, tiết LANGUAGE phần Grammar về dạng ngữ pháp so sánh hơn và so sánh hơn nhất, tôi mời 2 học sinh đứng lên trước lớp và đưa ra ví dụ để giới thiệu cấu trúc và cách sử dụng: Học sinh tên Nam và Hiếu đứng cạnh nhau trước lớp, cả lớp quan sát và nghe giáo viên đưa ra ví dụ so sánh về chiều cao giữa 2 bạn học sinh: + “Nam is taller than Hieu” 6
  5. + “Nam is the tallest student in our class” Đưa ra thêm ví dụ so sánh về lớp học: + “This room is more comfortable than that room” + “This room is the most comfortable room in our school.” *Ví dụ 2: Unit 1 - FAMILY LIFE: + Khi học về các cụm từ chỉ hoạt động kết hợp bởi động từ/ cụm động từ với danh từ/cụm danh từ như: + put out the rubbish = vứt rác + do the laundry = giặt là + shop for groceries = mua hàng tạp hoá + do the heavy lifting = nâng vật nặng + do the washing-up = làm công việc giặt giũ, rửa bát đĩa Nếu giáo viên sử dụng hành động của mình và hướng dẫn những học sinh được gọi lên trước lớp thi diễn tả những cụm từ chỉ hoạt động trên trong phần thực hành thì giờ học sẽ thêm sinh động, vui nhộn và học sinh sẽ rất hứng thú, đồng thời sẽ nắm vững từ mới và cách dùng chúng hiệu quả trong những tình huống thực tế. Sau khi dạy các cụm từ chỉ hoạt động đó, giáo viên cho học sinh chơi trò chơi theo nhóm thể hiện bằng hành động. Nhóm 1 học sinh lần lượt lên thể hiện hành động - nhóm 2 nhìn, đoán và đọc to chính xác cụm từ đó. *Ví dụ 3: Khi dạy về cấu trúc thì hiện tại tiếp diễn xuất hiện trong Unit 1, giáo viên có thể dùng hành động thực tế của mình để đưa ra cấu trúc câu. Ví dụ giáo viên cầm quyển sách lên đọc và hỏi học sinh: Look at me! What am I doing? - I am reading book. Hay giáo viên có thể chỉ vào 1 học sinh đang chạy ở ngoài sân và nói: He is running. 2.3. Lồng ghép âm nhạc trong dạy học Tiếng Anh Như chúng ta đều biết, nếu được học tập trong một môi trường vui vẻ và sáng tạo, học sinh sẽ rất hào hứng mỗi khi tới lớp. Việc sử dụng âm nhạc trong lớp học là một cách để chúng ta có thể tạo được bầu không khí học tập tuyệt vời, mang niềm vui và sự say mê học tập đến cho học sinh. Bài hát có thể được sử dụng cho nhiều mục đích và có rất nhiều lý do tại sao bài hát có thể được coi là một công cụ sư phạm có giá trị. Bài hát có thể giúp học sinh cải thiện kỹ năng nghe và phát âm, vì thế cũng giúp nâng cao cả kỹ năng nói. Bài hát cũng có thể là công cụ hữu ích trong việc học từ vựng, cấu trúc câu, và mẫu câu. Và có lẽ lợi ích lớn nhất của việc sử dụng các bài hát để dạy học là đem lại niềm vui cho học sinh. Niềm vui thích là một phần quan trọng của việc học một ngôn ngữ mới, các bài hát có thể giúp việc học trở nên thú vị hơn và có khả năng nâng cao động lực cho 7
  6. học sinh giúp học sinh tiếp thu bài học tốt hơn. Một số cách lồng ghép âm nhạc trong giờ học Tiếng Anh như sau: 2.3.1. Lồng ghép âm nhạc để giới thiệu chủ đề của bài học. Phần giới thiệu chủ đề của bài mục đích để giúp các em định hình mình sắp học cái gì vì thế tôi cho học sinh nghe một vài câu trong bài hát liên quan đến chủ đề của bài nhằm mục đích khêu gợi trí tò mò của học sinh về chủ đề bài học như: “Environment (Unit 9 - Protecting the environment), Volunteer club (Unit 4 - For a better community), Unit 5 - Inventions...” *Ví dụ: Khi dạy bài Unit 9: PROTECTING THE ENVIRONMENT, Lesson: Getting started. Để giới thiệu cho học sinh về chủ đề này chúng ta có thể cho học sinh nghe bài hát: “GOING GREEN SONG” vui nhộn đầu giờ học. Lời bài hát: “I turn the faucet off when I am brushing my teeth I turn the lights off when I am going to sleep I use cold water to wash laundry I do all that I can to save energy Reduce, Reuse, Recycle I'm going green, I'm keeping the Earth clean I'm going green, I'm keepin' it, keepin' it clean I reuse rechargeable batteries again and again I shop at the thrift store to find a great bargain I take my bottles and cans and recycle them We'll make a better world if we all join hands Reduce, Reuse, Recycle I'm going green, I'm keeping the Earth clean I'm going green, I'm keepin' it, keepin' it clean Reduce energy, water and waste Reuse what I can before I throw it away . .” 2.3.2. Lồng ghép âm nhạc trong tiết học ngữ pháp Một tiết học ngữ pháp vốn rất khô khan vì thế tôi đưa âm nhạc vào tiết học này nhằm tạo bầu không khí vui vẻ thoải mái trong tiết học, giúp các em củng cố cấu trúc ngữ pháp và khắc sâu bài học hơn. *Ví dụ: Unit 10: ECOTOURISM, sau khi học về câu điều kiện chúng ta có thể cho học sinh nghe bài hát “If you’re happy” trong phần post-teaching để thay đổi không khí nhàm chán của tiết học ngữ pháp. Các em vừa hát vừa làm động tác tạo ra những âm thanh rất vui nhộn. Lời bài hát: “If you’re happy” 8
  7. “If you’re happy and you know it, clap your hands If you’re happy and you know it, clap your hands If you’re happy and you know it, and you really want to show it If you’re happy and you know it, clap your hands .” 2.3.3. Lồng ghép âm nhạc để củng cố từ mới hay bảng động từ bất quy tắc Đây là một trong những phần mà học sinh sợ học nhất vì rất khó để nhớ, vì thế tôi đưa các bài hát vào phần này giúp học sinh hứng thú hơn và nhớ từ vựng hơn. *Ví dụ 1: Khi dạy phần động từ bất quy tắc mà học sinh cần nắm rõ để có thể sử dụng trong ngữ pháp tiếng Anh, ví như trong Unit 6: GENDER EQUALITY, ngữ pháp liên quan đến Passive voice, chúng ta có thể dùng bài “rap về động từ bất quy tắc” cho HS hát theo, mục đích thay đổi bầu không khí và mau nhớ cách phát âm của động từ bất quy tắc giúp học sinh tự tin hơn khi làm bài tập liên quan đến câu bị động. *Ví dụ 2: Unit 5: INVENTIONS, trong phần Post - teaching, giáo viên có thể dành ra ít phút cho học sinh nghe những bài hát về chủ đề liên quan đến các phát minh như “Inventions - kid song”, điều này vừa giúp học sinh được thư giãn và giúp các em có ấn tượng hơn về chủ đề bài học, cũng như có thể nhớ được nhiều từ vựng về chủ đề liên quan đến các phát minh. Như vậy chỉ sau tiết học các em đã có thể hát và nhớ được các từ các em đã học, tôi nghĩ đây là một cách học hiệu quả. 2.4. Sân khấu hóa trong dạy học Tiếng Anh Với hoạt động diễn kịch bằng Tiếng Anh, nhiều học sinh nhận xét, đây là một hình thức học Tiếng Anh sinh động, thú vị giúp các em phát triển kỹ năng nghe, nói vì mỗi em sẽ phải tập trung về phát âm, ngữ điệu diễn tả cảm xúc, tâm trạng theo đúng nhân vật mà mình đảm nhiệm. Ngoài ra, các em còn có thể phát huy sự tự tin, khả năng sáng tạo hay rèn luyện kỹ năng làm việc theo cặp, nhóm. Các em được hóa thân vào các vai trong những câu chuyện, những đoạn hội thoại đã giúp các tiết học trở nên thú vị, hấp dẫn, bớt nhàm chán đơn điệu. 2.4.1. Một số bước cần thực hiện để áp dụng sân khấu hóa 2.4.1.1. Tạo tình huống kịch Đầu tiên tôi cần chọn tình huống cho một đoạn kịch liên quan đến bài học. Điều quan trọng là phải dựa trên nhu cầu và sở thích của học sinh và đem lại cho học sinh cơ hội luyện tập những gì được học trên lớp. Bên cạnh đó, vở kịch đó cũng cần hấp dẫn để thu hút các em. 2.4.1.2. Phát triển nội dung 9
  8. Trên bối cảnh của vở kịch, tôi thường phải đưa ra những ý tưởng để phát triển tình huống của câu chuyện. Tuy nhiên lời thoại như thế nào còn tùy vào khả năng nói Tiếng Anh của học sinh. Tôi có thể đơn giản hóa cho phù hợp với trình độ học sinh. *Ví dụ: Unit 1: FAMILY LIFE, sau khi học xong bài học tiết “GETTING STARTED” tôi cho học sinh đóng vai hóa thân thay vai NAM và MINH để hỏi đáp về gia đình nhau. Tuy nhiên để học sinh dễ dàng nhập vai trong tình huống này tôi đưa ra một đoạn hội thoại ngắn gọn và trọng tâm để học sinh dựa vào đó diễn tập tốt hơn. “ ... A: How about your sister? Does she help with the housework? B: Yes. She often helps with the cooking. But she can't help today. She's studying for her exams. A: I see. I never do the cooking. It's my mother's job. B: Really? So how do you divide the household chores in your family? A: Mum is the homemaker, so she does the chores. My dad is the breadwinner, he earns money. And we, the kids, study. B: Well, in my family, we divide the housework equally - Mum usually cooks and shops for groceries: Dad cleans the house and does the heavy lifting. A: What about you and your sister? B: My sister does the laundry. I do the washing-up and put out the rubbish. We also help with the cooking when our mum is busy. . ” 2.4.1.3. Chuẩn bị lời thoại Giới thiệu một số cấu trúc và từ vựng cho học sinh trước khi đóng vai để học sinh định hình nói cái gì. *Ví dụ: Tình huống của vở kịch là: 1 học sinh sẽ đóng vai là người phỏng vấn, 1 học sinh đóng vai hướng dẫn viên du lịch để hỏi đáp trong Unit 10: ECOTOURISM tiết Speaking. Trong khi giới thiệu cho học sinh thông qua bài hội thoại mẫu nhằm giúp học sinh nắm rõ việc khách du lịch nên làm và không nên làm là gì, sử dụng “should/ shouldn’t”: Mẫu: “A: - What is the tourist attraction in your local area? B: - The tourist attraction in my local area is Eco-Park. A: - What do you suggest that tourists should / should not do on an ecotour? B: - I suggest that tourists should prepare food with less packaging and shouldn’t litter to the park. 10
  9. A: - What is the second thing you suggest tourists should / should not do there if they are on an ecotour? Why? B: - The second thing I suggest tourists should do is travelling by electric cars or bicycles as it will help protect the green environment. A: - Do you believe that it will be better for the environment if tourists follow these suggestions? How will your local area and people benefit? What can you do to help? B: - I believe that it will be better for the environment if tourists follow these suggestions. Our local area will reduce carbon footprint, and I can help introduce green ways to relax in the park.” 2.4.1.4. Chuẩn bị thông tin Học sinh cần được cung cấp đầy đủ thông tin về vở kịch đặc biệt là những đoạn mô tả vai để các em có thể yên tâm đảm nhận vai của mình. Ví dụ tình huống hỏi khách du lịch nên và không nên làm gì trong Unit 10 thì cần được cung cấp những hành động liên quan đến việc nên làm hay không nên làm với môi trường. 2.4.1.5. Phân vai Phân vai từ trước cho mỗi học sinh. Giáo viên có thể đóng một trong các vai để làm mẫu. Đôi khi giáo viên cũng có thể giao việc đóng vai như một bài tập về nhà. Học sinh sẽ tìm hiểu trước các từ và cụm từ có nghĩa, chuẩn bị lời thoại và sau đó cùng nhau diễn kịch trong giờ học tiếp theo. Một lớp có thể được phân ra thành các nhóm diễn kịch. Khi quyết định phân vai tôi phải cân nhắc đến khả năng và tính cách của từng học sinh. Ví dụ một nhóm mà toàn học sinh nhút nhát thì chưa hẳn sẽ thành công. Tóm lại, sự tương tác đạt hiệu quả tối ưu khi giáo viên để cho học sinh làm việc trong cùng nhóm với bạn của mình. 2.4.1.6. Tập kịch Với những tình huống đơn giản tôi cho các em diễn tập tại lớp, còn nếu những vở kịch hoặc tình huống khó các em về nhà luyện tập thêm. 2.4.1.7. Diễn kịch Trong khi học sinh thể hiện, tôi phải là người lắng nghe và lưu ý những lỗi mà học sinh mắc phải có thể là về từ vựng hoặc ngữ pháp. Đây sẽ là tư liệu để tôi tham khảo và chuẩn bị những bài luyện tập lần sau và đặc biệt là tôi không cắt ngang câu chuyện bằng việc sửa lỗi để tránh tình trạng làm học sinh mất hứng thú. 2.4.1.8. Kết thúc Khi phần đóng kịch đã hoàn thành, một chút thời gian để thâu tóm lại nội dung câu chuyện cũng vô cùng bổ ích. Điều này không có nghĩa là chỉ ra lỗi sai và sửa. Sau vở kịch, học sinh rất hài lòng với chính bản thân, các em cảm thấy rằng vốn khả năng ngoại ngữ của mình đã được sử dụng vào một công việc khá phức tạp và bổ ích. Cảm giác hài lòng này sẽ biến mất nếu bị giáo viên sửa lại từng lỗi một. Học sinh dễ bị 11
  10. kém tự tin hơn và không hào hứng đóng các vở kịch khác nữa. Ngoài ra tôi cũng có thể hỏi ý kiến của các học sinh về vở kịch và khuyến khích những ý kiến đóng góp. Mục đích ở đây là để thảo luận những diễn biến của vở kịch và ôn lại những vấn đề các em đã từng học. Cùng với việc thảo luận nhóm, tôi cũng có thể phát phiếu câu hỏi để đánh giá hiệu quả. Tóm lại, đóng kịch là một phương pháp khá hay trong việc dạy học Tiếng Anh. Vở kịch càng thú vị càng lôi kéo được nhiều học sinh tham gia. Điều đó cũng đồng nghĩa với việc giáo viên có thể xây dựng trong các em niềm yêu thích học tập và từ đó đạt được kết quả cao hơn. 2.4.2. Áp dụng sân khấu hóa trong phần củng cố bài học Sau khi học xong nội dung bài học, tôi cho học sinh vận dụng những từ vựng, mẫu câu, cấu trúc đã học để tạo thành những đoạn kịch ngắn, những hội thoại ngắn về các tình huống thực tế hàng ngày mục đích để các em có môi trường tiếng để luyện tập kĩ năng nói, các em hóa thân vào các nhân vật trong các câu chuyện hoặc trong các tình huống thực tế. Qua đó giúp các em có thêm hứng thú vào học tập và mạnh dạn tự tin hơn khi tham gia giao tiếp *Ví dụ 1: Unit 2: HUMANS AND THE ENVIRONMENT, phần thực hành tôi chia lớp thành 2 nhóm để thực hiện đóng vai tình huống liên quan đến chủ đề nhằm mục đích củng cố bài, vận dụng những từ vựng về chủ đề con người với môi trường và cấu trúc hỏi, trả lời vào các tình huống thực tế. + Nhóm 1 đóng vai những nhân vật có hành động liên quan đến bảo vệ môi trường như: trồng cây (dùng chậu cây xanh trong lớp học), vứt rác vào thùng rác, nhặt, thu gom rác, quét dọn, kêu gọi mọi người có ý thức bảo vệ môi trường + Nhóm 2 chuẩn bị tạo bối cảnh diễn và đặt các câu hỏi cho nhân vật trong nhóm 1. + Gv đi quanh lớp chọn các lỗi tiêu biểu của học sinh + Kết thúc, giáo viên đưa ra nhận xét, góp ý cho học sinh rút kinh nghiệm Ví dụ mẫu hội thoại đơn giản cho 1 tình huống: “A: Hi B. What are you doing? B: Hello A. I am planting trees. I hope trees can help our classroom become more comfortable every day. A: Great! May I help you? B: Of course .” 12
  11. Một số hình ảnh học sinh lớp 10E thực hành diễn kịch Tiếng Anh về chủ đề “Humans and the environment” ngay trong tiết học tại trường THPT Nho Quan C 2.5. Lồng ghép Video clip tạo hứng thú trong tiết dạy Tiếng anh 2.5.1. Lồng ghép Video clip trong dạy phần “Warm up”: Phần này tôi đưa một số video liên quan đến chủ đề bài học để cho các em xem và đưa ra một số câu hỏi liên quan đến việc giới thiệu chủ đề bài giúp các em hứng thú tìm hiểu bài, xem mình sắp học về cái gì. *Ví dụ 1: Unit 3: MUSIC, khi giới thiệu chủ đề bài này tôi làm như sau: + Mở 1 video clip có ca sĩ nổi tiếng đang hát trong 1 sự kiện âm nhạc ấn tượng. Mục đích là để tạo sự tập trung vào chủ đề “Music” và tạo hứng thú cho học sinh. + Cho học sinh xem video và hỏi học sinh: “What can you see in the video clip?” + Dẫn vào bài *Ví dụ 2: Unit 4: FOR A BETTER COMMUNITY, khi giới thiệu chủ đề bài này tôi làm như sau: + Mở 1 video clip về volunteers’ activities. Mục đích là tạo cho học sinh sự tò mò, hứng thú về chủ đề của bài học. + Cho học sinh xem video và hỏi học sinh “ Who can tell me about what can you see in the video clip?”, sau đó cho học sinh kể ra những gì các em thấy trong video. + Dẫn vào bài *Ví dụ 3: Unit 10: ECOUTOURISM, để giới thiệu chủ đề bài này tôi làm như sau: 13