Đơn công nhận Sáng kiến Một số giải pháp tăng cường tính tích cực, chủ động của học sinh và nâng cao hiệu quả ôn tập trong hoạt động ôn tập thi tốt nghiệp THPT môn Ngữ văn

docx 18 trang Chăm Nguyễn 23/11/2025 80
Bạn đang xem tài liệu "Đơn công nhận Sáng kiến Một số giải pháp tăng cường tính tích cực, chủ động của học sinh và nâng cao hiệu quả ôn tập trong hoạt động ôn tập thi tốt nghiệp THPT môn Ngữ văn", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docxdon_cong_nhan_sang_kien_mot_so_giai_phap_tang_cuong_tinh_tic.docx

Nội dung tài liệu: Đơn công nhận Sáng kiến Một số giải pháp tăng cường tính tích cực, chủ động của học sinh và nâng cao hiệu quả ôn tập trong hoạt động ôn tập thi tốt nghiệp THPT môn Ngữ văn

  1. 3 -Giáo viên hướng dẫn học sinh xây dựng kế hoạch học tập, chú trọng tới kiến thức trọng tâm cần ôn tập và chuẩn bị sớm kiến thức mới. Thông qua bài kiểm tra, đánh giá, giáo viên sẽ cùng học sinh phân tích, đánh giá năng lực của từng bạn, xác định các vùng kiến thức, kĩ năng mà mỗi học sinh còn yếu. Trên cơ sở đó, học sinh xác định được mục tiêu phấn đấu của mình, xây dựng kế hoạch học tập riêng biệt Bên cạnh kiến thức cần ôn tập, giáo viên cũng định hướng cho học sinh các vấn đề cơ bản của kiến thức mới trong năm lớp 12, khuyến khích học sinh tự đọc, tự học và thường xuyên trao đổi với giáo viên qua các kênh thông tin. Giáo viên có thể đưa lên các tài liệu dạng video, bản Word để học sinh tham khảo. Giáo viên cũng thực hiện giao một số nhiệm vụ cá nhân và nhiệm vụ nhóm. Các nhiệm vụ này đảm bảo vừa sức, bám sát các mục tiêu kĩ năng của các phần Đọc – hiểu, nghị luận xã hội và nghị luận văn học. Khi giao nhiệm vụ nhóm, giáo viên phải kết hợp chặt chẽ với nhóm trưởng để quản lí học sinh, động viên học sinh thực hiện nhiệm vụ. Đặt ra mục tiêu cụ thể cho bài thi môn Ngữ văn đạt được khoảng bao nhiêu điểm. Khi đã có mục tiêu thì việc học tập và ôn luyện sẽ nhanh tiến bộ và tạo được hứng thú hơn. -Giáo viên nỗ lực tạo cho học sinh môi trường học tập thoải mái nhất. Học sinh ôn tập trong hè cần có phương án chuyên biệt hóa, linh hoạt cho từng bạn; đảm bảo học sinh được nghỉ ngơi, tham gia các hoạt động khác. Giáo viên không giao các nhiệm vụ lớn, gây căng thẳng, áp lực lên học sinh. Học sinh khi ý thức được nhiệm vụ học tập, lại có tinh thần học tập thoải mái thì hiệu quả học tập sẽ cao hơn. -Giáo viên phân hóa đối tượng học sinh để xây dựng kế hoạch phù hợp: Học sinh chọn thi khối A, A1, B sử dụng môn Ngữ văn để làm môn xét Tốt nghiệp: phần hướng dẫn học tập trong hè chú trọng đến kiến thức cơ bản. Phần Đọc – hiểu chú ý đến cấp độ nhận biết, thông hiểu. Phần Nghị luận xã hội chú ý đến kĩ năng nhận diện đề, xây dựng dàn ý. Phần Nghị luận văn học, chú ý đến kĩ năng xác định vấn đề; xây dựng dàn ý. Học sinh chọn thi khối C, D sử dụng môn Ngữ văn làm môn trong tổ hợp xét tuyển Đại học, Cao đẳng cần chú trọng kiến thức cơ bản và kiến thức mở rộng, nâng cao. Phần Đọc – hiểu chú ý đến các cấp độ nhận biết, thông hiểu, vận dụng. Phần Nghị luận xã hội chú ý đến kĩ năng nhận diện đề, xây dựng luận điểm, bổ sung lí lẽ, phân tích dẫn chứng. Phần Nghị luận văn học chú ý đến các dạng đề nghị luận có định hướng, nghị luận hai yêu cầu nghị luận, kĩ năng viết phần khái quát chung, phần đánh giá, khái quát lại. Giải pháp thứ hai: Tiến hành ôn tập song song với quá trình dạy chính khóa trên lớp, cùng học sinh nghiên cứu kĩ ma trận, bảng đặc tả dành cho các kì kiểm tra định kì theo hướng dẫn của Bộ giáo dục và đào tạo. Khi thời gian của năm học mới bắt đầu, ngoài việc học chương trình chính khóa ở trên lớp, giáo viên cũng cần chú trọng đến quá trình ôn tập, tiếp nối và tăng cường hoạt động ôn tập đã bắt đầu từ trong hè. Hoạt động ôn tập diễn ra chủ yếu theo các cách thức: Ôn tập trong giờ dạy chính khóa buổi sáng: giáo viên lồng ghép hoạt động ôn tập ở các tiết luyện tập, ở hoạt động Luyện tập của mỗi bài học thông qua các bài tập bổ sung ngoài SGK. Hệ thống bài tập này cần được thiết kế phù hợp với đối tượng học sinh từng lớp. (Phụ lục 4.1: Một số kế hoạch bài dạy chính khóa có lồng ghép ôn tập) Ôn tập trong giờ dạy buổi chiều: Kế hoạch dạy buổi chiều cần được chú trọng để xây dựng một cách tỉ mỉ và chi tiết, đảm bảo thống nhất, bám sát chương trình, đảm bảo phân hóa học sinh. Ôn tập buổi chiều là được coi là hệ thống ôn tập vòng thứ nhất của kì thi Tốt nghiệp.
  2. 4 (Phụ lục 4.2: Kế hoạch bài dạy buổi chiều) Quá trình ôn tập cũng cần có những định hướng rõ ràng. Định hướng này được xác định dựa trên việc nghiên cứu kĩ ma trận, bảng đặc tả và đề tham khảo kèm hướng dẫn chấm cụ thể cho bài kiểm tra định kì, được áp dụng thống nhất trên toàn quốc do Bộ GD&ĐT đã cung cấp. Giáo viên chia sẻ thông tin cụ thể về ma trận, bảng đặc tả tới từng học sinh, hướng dẫn các em đọc thông tin trên ma trận, trên bảng đặc tả. Giáo viên cũng chia sẻ thông tin về đề tham khảo, hướng dấn chấm, phiếu chấm của các bài kiểm tra định kì trong chương trình lớp 12. Để các em nghiên cứu kĩ, giáo viên có thể chia ra theo 04 nhóm để mỗi nhóm nghiên cứu sâu một ma trận, một bảng đặc tả tương ứng đi kèm với đề tham khảo và hướng dẫn chấm của từng kì. Sau đó học sinh sẽ cùng nhau trình bày và trao đổi. Nghiên cứu kĩ các văn bản này thì học sinh đã nắm chắc việc mình cần học cái gì. Điều này sẽ giúp cho các em thêm tự tin về con đường đi của mình, sẽ tìm ra cách thức học phù hợp nhanh nhất. Khi nghiên cứu kĩ Ma trận, các em sẽ hiểu được: trong từng phạm vi kiến thức phân chia theo các cấp độ ở đề thi thì từng cấp độ sẽ có bao nhiêu điểm, bao nhiêu câu hỏi. Từ đó, dựa vào mục tiêu về điểm số cần đạt được mỗi em sẽ biết cách rèn để “lấy điểm” ở từng phần. Ví dụ: Trong Ma trận môn Ngữ văn của cả 4 bài kiểm tra định kì khối 12, xét theo 4 cấp độ: Nhận biết, Thông hiểu, Vận dụng thấp, Vận dụng cao thì đều có sự thống nhất trong phân bố điểm trong 1 bài thi, lần lượt là: 4-3-2-1 (tương ứng tỉ lệ 40%, 30%, 20%, 10% trong tổng cả 2 phần đọc hiểu và làm văn). Kết hợp nghiên cứu kĩ Bảng đặc tả các em sẽ biết ở từng dạng câu hỏi trong từng phần thi cần nắm vững những phạm vi kiến thức nào, số câu hỏi theo từng cấp độ đạt được. Điều đó sẽ được hiện thực hóa qua Đề tham khảo và Hướng dẫn chấm và Phiếu chấm. Làm đề tham khảo, đặc biệt là nghiên cứu kĩ hướng dẫn chấm, phiếu chấm các em sẽ vững vàng hơn trong cách trả lời câu hỏi, cách viết đoạn văn/ bài văn để làm sao khai thác tối đa điểm số ở mỗi câu, mỗi ý, mỗi phần. Ví dụ: Ở câu 1 và câu 2 của phần Đọc hiểu chỉ nằm trong cấp độ Nhận biết, nên khi làm bài học sinh chỉ cần ghi từ/ngữ/câu chính xác theo yêu cầu đề bài, không cần phải giảng giải hay phân tích gì thêm; đảm bảo chính xác lại tiết kiệm được thời gian làm bài. Ở phần Nghị luận xã hội, trong Hướng dẫn chấm chỉ yêu cầu các vấn đề bàn luận tập trung vào khía cạnh mà đề bài hỏi, không bao quát toàn bộ vấn đề, cũng có nghĩa là khi làm bài, các em cần đặt trọng tâm ở khía cạnh đó, tránh viết lan man, vừa tiết kiệm được thời gian làm bài, vừa đạt điểm cao. Ở phần Nghị luận văn học, trong hướng dẫn chấm cho điểm với nội dung giới thiệu ngắn gọn về tác giả, tác phẩm và vấn đề nghị luận. Nội dung này cũng chỉ ở cấp độ nhận biết, cho nên các em phải biết cách chắt lọc kiến thức chung/ khái quát để đưa vào bài làm. Như thế học sinh có trọn vẹn 0,5 điểm, đoạn văn cũng súc tích, tiết kiệm được thời gian làm bài. Hay ở cấp độ Vận dụng nâng cao, những học sinh khá giỏi muốn có điểm này thì cần tập trung cụ thể vào phần cho điểm sáng tạo có trong hướng dẫn chấm (0,5 điểm) để rèn luyện theo từng gợi ý ở hướng dẫn chấm để có điểm, hoặc viết sẵn/ chuẩn bị sẵn các mở bài trước để khi vào thi sẽ tiết kiệm được thời gian, có thời gian tập trung làm bài sâu hơn. Để hoạt động ôn tập hiệu quả, giáo viên không chỉ chú trọng đến cách thức mà cần lưu ý đặc biệt đến các phương pháp ôn tập: Trước hết, đó là khai thác tối đa SGK. Trong chương trình THPT đang hiện hành thì SGK là pháp chế, vì thế kiến thức chuẩn nhất là ở SGK. Nhiều học sinh, đặc biệt là học sinh ở khu vực thành phố, được đầu tư, chú trọng hơn về phương tiện học tập, khi ôn thi lại tập trung nhiều vào sách tham khảo, bài văn mẫu. Học sinh chưa học kĩ nội dung Tiểu dẫn, chưa
  3. 5 nắm vững kiến thức cơ bản về bài thơ nhưng lại đi sâu phân tích thơ; chưa nắm vững cốt truyện với sự việc, chi tiết chính mà lại đào sâu phân tích truyện. Điều này dễ dẫn đến tình trạng học văn mẫu, học vẹt. Bởi thế, yêu cầu rất quan trọng đặt ra với học sinh là phải đọc kĩ từng văn bản trong SGK, nắm vững kiến thức căn bản theo từng phạm vi bài học, từng thể loại thì việc học mở rộng, nâng cao mới có hiệu quả. Lúc đó các em mới tự xử lí được các nguồn thông tin ở sách tham khảo, mới chắt lọc được cái hay cái tốt để phát triển. Đây là định hướng quan trọng để giáo viên hướng dẫn học sinh. Bên cạnh đó, một phương pháp ôn tập cũng cần được chú trọng khi lồng ghép với chương trình chính khóa, đó là chú ý hệ thống lại phần kiến thức đã học trước sao cho “học đến đâu chắc đến đó”. Giáo viên hướng dẫn học sinh sử dụng các dạng thức như sơ đồ tư duy, bảng biểu, đề cương, sổ tay, ghi chú, hồ sơ học tập để học sinh có thể nắm chắc kiến thức theo từng phần, từng mảng, từng chủ đề, từng bài. Có hai dạng: vận dụng theo mẫu và vận dụng một cách sáng tạo, linh hoạt. Khi ôn, nên chú ý vận dụng theo cả hai tuyến: Theo chiều dọc: trong phạm vi cùng loại vấn đề, cùng thể loại Theo chiều ngang: trong phạm vi những tác phẩm khác nhau nhưng có liên quan đến nhau về đề tài, nhân vật. (Phụ lục 2.4: Một số sơ đồ tư duy của học sinh) Giáo viên khuyến khích học sinh tiến hành song song hoạt động học lí thuyết mới và luyện tập bổ sung đi kèm. Khi học, cần hiểu rõ bản chất của vấn đề, nội dung tư tưởng của tác phẩm, phải xác định các đặc điểm của từng thể loại, cách thức vận dụng những nội dung, đặc điểm đó... trong việc giải quyết những vấn đề cụ thể. Từ đó, phải luyện tập để hình thành kỹ năng giải quyết vấn đề (đề thi cũng là một dạng vấn đề cụ thể cần giải quyết). Không phải đến giai đoạn gần sát với các kì thi, học sinh mới tham gia làm đề thi mà quá trình làm đề thi diễn ra liên tục, kéo dài, song hành với quá trình học các tác phẩm ở trên lớp. Đề thi cần được giáo viên và học sinh lựa chọn kĩ càng, đảm bảo phù hợp với chương trình, tiến trình học. Giáo viên cũng hướng dẫn học sinh tổ chức hoạt động nhóm, tăng cường tự học để “đào sâu”, phân tích kĩ càng tác phẩm theo hướng chia ra các đoạn, các phần nhỏ. Đề thi hiện nay chú trọng khả năng cảm thụ, cảm nhận của học sinh, giảm tải kiến thức thông qua hình thức chia nhỏ đơn vị kiến thức. Để có thể tìm hiểu cụ thể, sâu sắc các đơn vị kiến thức chia nhỏ, biện pháp học theo nhóm và tự học là hiệu quả nhất. Học sinh hỗ trợ nhau, phân chia phạm vi nội dung cụ thể cho từng thành viên nhóm, sau đó tiến hành trao đổi thông tin, kiểm tra chéo và bổ sung kiến thức cho nhau. Từ đó, mỗi tác phẩm văn học đều sẽ được tìm hiểu kĩ, tìm hiểu sâu, đảm bảo việc làm bài câu Nghị luận văn học có kết quả cao nhất. Giải pháp thứ ba đó là lựa chọn nguồn tham khảo phù hợp, cùng xây dựng nguồn đề tham khảo. Sách tham khảo vẫn là yếu tố không thể thiếu để học sinh bổ trợ cho việc học môn Ngữ văn và rèn luyện kĩ năng làm văn. Giữa biển sách tham khảo tràn lan trên thị trường và cũng ngập tràn trên không gian mạng, học sinh được tự học ở nhiều địa chỉ khác nhau; học sinh có nhiều nguồn sách tham khảo khác nhau. Tuy nhiên, tính tích cực và chính xác trong nội dung là vấn đề mà giáo viên cần quan tâm, hướng dẫn học sinh. Giáo viên lựa chọn nguồn tham khảo, khảo sát thực tế, bổ sung bằng ý kiến của nhiều khóa học khác nhau để gợi ý, định hướng cho học sinh những đầu sách tốt nhất, những địa chỉ uy tín và chất lượng. Đây là vấn đề đảm bảo cho học sinh vừa không tốn quá nhiều chi phí lại có hiệu quả cao trong học tham khảo. (Phụ lục 2.3: Nguồn tài liệu tham khảo cho một số tác phẩm trong chương trình Ngữ
  4. 6 văn 12) Một nguồn tham khảo nữa, cũng là cách thức tăng cường tinh thần tự giác, ý thức làm việc nhóm ở một bộ phận học sinh, đó là hướng dẫn học sinh tự xây dựng hệ thống đề thi tham khảo trên cơ sở đề thi thử Tốt nghiệp ở các trường trên Toàn quốc, trong các năm học gần đây. Giáo viên cùng học sinh xây dựng kế hoạch tìm đề, chọn đề theo tuần. Giáo viên chia nhóm theo năng lực để học sinh làm việc hiệu quả. Giáo viên sẽ thảo luận cùng các em để xác định các vấn đề trọng tâm về Đọc – hiểu, nghị luận xã hội, nghị luận văn học. Trên cơ sở đó sẽ giao việc cho từng nhóm với cách thức là bốc thăm tác phẩm, mỗi nhóm 2 tác phẩm đến ba tác phẩm. Mỗi tuần mỗi nhóm sưu tầm 1 đề liên quan đến tác phẩm mà mình đã bốc thăm. Cán sự lớp sẽ thay nhau tổng hợp đề để xây dựng nguồn đề tham khảo cho cả lớp. Quá trình này được tiến hành trong suốt năm học. Đến khi bước vào giai đoạn ôn thi đầu tiên, mỗi lớp sẽ có một nguồn đề tham khảo của lớp mình. Nguồn đề này sẽ được các em sử dụng cho việc tự học, tự ôn tập, đặc biệt là ôn tập theo thể loại. Số lượng đề tương đối lớn, lại được chắt lọc sẽ giúp các em yên tâm khi sử dụng, không mất quá nhiều thời gian tìm kiếm. Hơn hết, quá trình các em tìm kiếm, tập hợp đề, các em sẽ nắm bắt một cách chủ động cấu trúc, dạng đề, hướng dẫn làm bài. Sự chủ động sẽ tăng hiệu quả, tạo nên sự tích cực cho học sinh. (Phụ lục 2.1,2.2: Bộ đề và một số đề trong bộ đề lớp 12A5) Giải pháp thứ tư là phân tích kĩ kết quả thi thử và rút kinh nghiệm toàn diện sau các đợt thi thử. Đối với học sinh lớp 12, trong suốt năm học sẽ luôn có các đợt thi thử tốt nghiệp. Đề thi được ra bám sát chương trình, nội dung thi của năm học đó. Bởi thế mà việc phân tích kết quả thi thử cho học sinh rất quan trọng. Phân tích kết quả thi thử không chỉ là thông báo điểm cho học sinh, thông báo số học sinh đạt từ 5.0 điểm trở lên mà cần khai thác thông tin về năng lực của học sinh một cách tối đa từ kết quả thi thử đó. Khi bài thi thử được trả về cho học sinh, giáo viên sẽ chia lớp theo nhóm để học sinh tiến hành thống kê điểm của bài thi theo các phần trong bài và theo các câu hỏi. Phân tích kết quả thi thử sẽ tập trung vào các nội dung sau: Bảng phân tích kết quả thi thử theo ngưỡng điểm: Ngưỡng điểm 4.0-5.0 5.25 – 6.0 6.25-7.0 7.25-8.0 8.25-9.0 Trên 9.0 Số lượng Tỉ lệ phần trăm Điểm bình quân chung của lớp (Cột dưới 4.0 điểm có thể bổ sung với các lớp đầu yếu) Bảng phân tích kết quả thi thử theo điểm từng phần: Phần Đọc hiểu Nghị luận xã hội Nghị luận văn học Ngưỡng 1.0- 1.75- 2.5- Dưới 1.0- 1.75- Dưới 2.0-3.0 3.25- 4.25- điểm 1.5 2.25 3.0 1.0 1.5 2.0 2.0 4.0 5.0 Số lượng Tỉ lệ phần trăm
  5. 7 Phân tích kết quả thi cá nhân: PHIẾU PHÂN TÍCH KẾT QUẢ THI THỬ LẦN .. Họ và tên: .. Lớp: .. Kết quả thi thử lần ..: .. Kết quả và điểm thành phần: 1.Đọc hiểu: - Câu 1: . Câu 2: . Câu 3: .. Câu 4: . -Các câu mất điểm: - Nguyên nhân mất điểm: . - Biện pháp khắc phục: . . ... .. . . . 2.Nghị luận xã hội: -Điểm: - Các ý chưa hoàn chỉnh: . - Biện pháp khắc phục: . . ... .. . . . 3.Nghị luận văn học. -Điểm: .. - Các ý chưa hoàn chỉnh: .. - Biện pháp khắc phục: . . ... .. . . . 4.Những lưu ý chung trong kĩ năng làm bài: .. . . . .. . . . .. . . . Giáo viên yêu cầu mỗi học sinh so sánh kết quả thi cá nhân với bảng phân tích chung, căn cứ vào điểm thi của từng phần để rút ra những lưu ý chung trong kĩ năng làm bài nhằm đạt điểm tối đa. Giáo viên căn cứ vào bảng phân tích chung để đánh giá toàn diện tình hình cả lớp, xác định những phần còn yếu, còn chưa đạt của lớp; xác định các đối tượng yếu, chưa đạt theo từng phần, mục để điều chỉnh kế hoạch bài dạy. Đây là cách làm rất hiệu quả để tăng điểm
  6. 8 cho học sinh, đảm bảo bám sát năng lực từng em, không bỏ rơi bất cứ học sinh nào. Bảng phân tích và kết quả phân tích cũng được lưu giữ lại để so sánh giữa các lần thi, từ đó xác định rõ hơn mục tiêu, năng lực của mỗi lớp học, chuẩn bị tốt nhất cho kì thi chính thức. (Phụ lục 3: Bảng phân tích kết quả thi thử và một số phiếu phân tích kết quả thi thử các lớp 12) Giải pháp thứ năm là tăng cường các biện pháp ôn tập tích cực, toàn diện cho đợt ôn tập thi cuối năm học. Giai đoạn ôn thi cuối năm học là giai đoạn học sinh đã hoàn thành các môn theo chương trình chính khóa, tập trung tăng cường ôn tập các môn thi theo tổ hợp lựa chọn và theo khối thi lựa chọn. Đây là giai đoạn cần tăng cường các biện pháp ôn tập Biện pháp thứ nhất là xây dựng kế hoạch ôn tập theo nhiều vòng. Kế hoạch ôn tập khi chia theo nhiều vòng có thể vừa phổ rộng kiến thức, vừa đào sâu vào một số phần trọng tâm, vừa chú trọng rèn luyện kĩ năng. Các vòng này bao gồm: , bám sát đối tượng. Vòng thứ nhất: Hệ thống hóa kiến thức: Phần Đọc – hiểu sẽ tiến hành rà soát các văn bản Đọc – hiểu trong SGK. Phần nghị luận xã hội sẽ tiến hành tổng hợp các chủ đề nghị luận xã hội căn bản trong SGK (sống đẹp, giữ gìn lí tưởng, giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt ). Phần nghị luận văn học sẽ tiến hành hệ thống hóa kiến thức các tác phẩm văn học: phân chia theo thể loại (thơ, truyện, kí); khái quát giá trị nội dung và nghệ thuật từng tác phẩm; lựa chọn chi tiết tiêu biểu/đoạn văn tiêu biểu. Giáo viên có thể lựa chọn hình thức thực hiện là phân chia công việc theo nhóm, trao đổi, thảo luận; sử dụng hình thức lập bảng trình bày kết quả làm việc nhóm . Vòng thứ hai, luyện tập cơ bản: Luyện tập bài tập Đọc – hiểu chủ yếu ở mức độ: nhận biết, thông hiểu (nhận diện phong cách ngôn ngữ, nội dung, yêu cầu câu hỏi ); mở rộng các chủ đề nghị luận xã hội, đến các vấn đề có tính thiết thực, tính cập nhật; luyện tập nghị luận văn học dạng đơn: phân tích trong phạm vi một tác phẩm/cảm nhận về một đoạn/một nhân vật. Rèn luyện các thao tác lập luận cơ bản: bình luận, phân tích, chứng minh Vòng thứ ba, ôn tập theo chuyên đề: Đọc – hiểu: Ôn tập theo thể loại, chú trọng các dạng Đọc – hiểu theo thể loại ở từng cấp độ. Phần nghị luận xã hội ôn theo các chủ đề, cập nhật dẫn chứng. Nghị luận văn học tiến hành ôn tập theo cụm, nhóm văn bản; chú trọng ôn tập kĩ năng làm yêu cầu nghị luận thứ 2, chú trọng đến phạm vi của yêu cầu nghị luận thứ hai: trong đoạn trích, trong văn bản, trong sáng tác của nhà văn Vòng thứ tư: Luyện đề tổng hợp và kiểm tra. Giáo viên hướng dẫn thực hành làm đề tổng hợp. Phối kết hợp sử dụng HS Khá, Giỏi để phân tích, giảng giải và kiểm tra tổng thể kiến thức đối với tất cả học sinh. Biện pháp thứ hai, đặc biệt chú trọng phân hóa đối tượng. Trong một lớp học có thể có nhiều đối tượng khác nhau. Giáo viên căn cứ vào khảo sát, vào quá trình theo dõi của năm học để phân chia đối tượng và xây dựng hoạt động dạy học sát đối tượng nhất. Hoạt động dạy học phân hóa này đã tiến hành trong năm học, tuy nhiên đến giai đoạn ôn thi tốt nghiệp càng cần được tăng cường. Đối với phần Đọc – hiểu, giáo viên cần hệ thống kiến thức cơ bản về Đọc – hiểu; phân nhóm ôn tập theo năng lực HS; sử dụng cán sự bộ môn. Học sinh yếu, kém sẽ hướng dẫn ôn câu hỏi nhận biết, thông hiểu; chú trọng kỹ năng nhận diện yêu cầu, kỹ năng trả lời để tránh mất điểm; chú trọng xây dựng bài tập rời cho các đơn vị kiến thức. Học sinh Trung bình, tập trung ôn 3 cấp độ: Nhận biết/thông hiểu/ vận dụng (thấp); kỹ năng nhận biết,
  7. 9 kỹ năng trả lời để tránh mất điểm; đặc biệt là xây dựng bài tập tổng hợp với yêu cầu rõ ràng và hướng dẫn các thành viên trong nhóm đánh giá, nhận xét chéo. Học sinh khá, giỏi sẽ hoàn chỉnh yêu cầu thuộc các cấp độ (đặc biệt chú trọng cấp độ vận dụng cao); chú trọng rèn luyện kỹ năng trả lời có lập luận, tạo sức thuyết phục; giảng giải, sửa chữa kiến thức sai sót trong phần làm việc của nhóm Trung bình, Yếu; hoàn thành hệ thống bài tập nâng cao (bài tập về nhà). Phần nghị luận xã hội: Giáo viên hướng dẫn lập dàn ý khái quát cho các dạng nghị luận xã hội cơ bản. Giáo viên phân chia theo một số nhóm chủ đề (những vấn đề quen thuộc, gần gũi với học sinh). Mỗi chủ đề, xây dựng một số đề bài và dàn ý chi tiết cho đề bài cũng như một số đoạn tham khảo. Đối với học sinh yếu, kém sẽ tiến hành kiểm tra sát sao lí thuyết; hướng dẫn cách xác định đề (yêu cầu cơ bản nhất); luyện viết các câu văn theo từng phần: mở đoạn, giải thích, bàn luận, liên hệ bản thân, kết đoạn; đồng thời, giáo viên cùng với cán sự lớp cũng thường xuyên đọc và sửa chữa các đoạn văn đó, hướng dẫn viết lại theo đúng yêu cầu. Đối với học sinh trung bình, giáo viên sẽ tiến hành kiểm tra chặt chẽ phần lí thuyết (hình thức kiểm tra chéo); hướng dẫn cách xác định đề, bám sát các dạng đề cơ bản; hướng dẫn viết một số đoạn văn theo chủ đề. Giáo viên và cán sự lớp thường xuyên chữa đoạn văn cho 1-2 thành viên trong nhóm, các học sinh khác lắng nghe, tự sửa chữa. Giáo viên sau đó sẽ giao bài tập về nhà, yêu cầu hoàn thành, nhận xét, đánh giá chéo. Đối tượng học sinh khá, giỏi, học sinh sẽ tiến hành tự học lí thuyết; xây dựng các đề bài theo các chủ đề/ngữ liệu mà giáo viên đưa ra; viết các đoạn văn hoàn chỉnh theo các đề bài đó và tiến hành sửa chữa chéo trong nhóm. Học sinh Khá, giỏi cũng nâng cao hiệu quả học tập bằng hoạt động hướng dẫn viết cho các nhóm học sinh yếu, kém và Trung bình. Phần nghị luận văn học, giáo viên hướng dẫn ôn theo từng tác phẩm: Khái quát một số thông tin tiêu biểu về tác giả; Lập sơ đồ tư duy về giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm; Chỉ ra và phân tích một số sự việc tiêu biểu/chi tiết tiêu biểu; Yêu cầu làm việc theo nhóm và nhận xét chéo. Để củng cố, giáo viên hướng dẫn học sinh ôn theo thể loại thơ (Khái quát về đặc trưng của thơ; làm sáng tỏ mạch cảm xúc trong tác phẩm); truyện (Khái quát về đặc trưng của truyện; Làm sáng tỏ mạch truyện, diễn biến cốt truyện, chú trọng dạng đề nghị luận về một đoạn văn bản, về một nhân vật qua một đoạn văn bản); kí (Khái quát về đặc trưng của kí; làm sáng tỏ sự vận động của mạch cảm xúc, hình tượng nhân vật trữ tình; chú ý dạng đề nghị luận về một đoạn văn bản. Đối với học sinh Yếu, kém, cần chú trọng đặc biệt ôn kiến thức cơ bản về tác phẩm (nắm chắc, hiểu kỹ, tránh nhầm lẫn); luyện các dạng đề cơ bản, chú trọng phân tích các đoạn văn bản (lập dàn ý, luyện viết các đoạn văn cụ thể). Đối với học sinh Trung bình, phần kiến thức cơ bản: Ôn như đối tượng học sinh yếu, kém; chú trọng luyện đa dạng đề hơn; yêu cầu học sinh làm việc và kiểm tra chéo kiến thức về tác phẩm; xây dựng dàn ý chi tiết, thường xuyên viết bài với các dạng đề cơ bản. Dành cho học sinh khá giỏi, giáo viên hướng dẫn học sinh tự ôn kiến thức cơ bản về tác phẩm; luyện viết một số đoạn văn phân tích các đoạn, nhân vật trong đoạn, một số chi tiết, hình ảnh; xây dựng dàn ý chi tiết cho các dạng đề; cùng với giáo viên xây dựng các chuyên đề. (Phụ lục 4: Kế hoạch ôn tập theo đối tượng, một số kế hoạch bài dạy theo đối tượng) Biện pháp thứ ba là đa dạng hóa hoạt động học. Giáo viên có thể sử dụng đối tượng học sinh khá giỏi để kiểm tra các học sinh khác theo hình thức kiểm tra phát vấn trực tiếp (nêu rõ phạm vi kiểm tra, nội dung, số lượng câu hỏi trên 1 lần kiểm tra, chọn một số học sinh giỏi, kiến thức chắc chắn cùng tham gia làm giám khảo, chia ra nhiều bàn kiểm tra; học sinh được
  8. 10 kiểm tra sẽ lên các bàn kiểm tra bốc thăm trả lời câu hỏi). Bên cạnh đó, giáo viên có thể chia nhóm, mỗi nhóm sẽ phụ trách xây dựng hoạt động tìm kiếm, cập nhật thông tin thời sự một tuần và trình bày trước lớp. Hoạt động này giúp học sinh tăng cường hiểu biết thực tế đời sống, tăng cường hứng thú học tập và cũng có thêm dẫn chứng cho đoạn văn nghị luận xã hội. Một hoạt động nữa, đó là trong quá trình học và ôn tập, giáo viên hướng dẫn học sinh cần biết nhóm các tác phẩm (cả khía cạnh nội dung tác phẩm) theo đề tài, chủ đề, theo giai đoạn văn học, theo tác giả, theo khuynh hướng (lãng mạn, hiện thực, sử thi,...), theo trào lưu, theo thể loại (trữ tình - tự sự - kịch - nghị luận), để phục vụ cho dạng đề liên hệ, so sánh mở rộng theo định hướng đề minh họa của Bộ. (Phụ lục 5: Hoạt động làm việc nhóm, kiểm tra phát vấn trực tiếp và thực hành bản tin thời sự trong quá trình ôn tập) Biện pháp thứ tư là duy trì, củng cố, giữ vững tinh thần học tập cho học sinh trong giai đoạn ôn tập căng thẳng nhất. Đây là yếu tố quyết định rất lớn đến kết quả ôn tập. Khi các em bước vào giai đoạn ôn tập căng thẳng nhất, giáo viên sẽ không chỉ là người hướng dẫn ôn tập kiến thức, kĩ năng mà còn là người kết hợp với gia đình để củng cố tinh thần, ý thức của các em. Những năm học trở lại đây đều diễn ra trong tình hình dịch bệnh Covid 19 diễn biến hết sức phức tạp. Các trường học ít nhiều đều có các tuần học trực tuyến, có khi hàng tháng học trực tuyến. Việc học trực tuyến với môn Ngữ văn cũng gặp phải nhiều bất lợi như: HS phân tâm nên dễ đánh mất cảm xúc, trả lời câu hỏi chiếu lệ, làm và nộp bài tập cũng đối phó, chấm bài và sửa bài bằng hình thức trực tuyến đối với giáo viên cũng vất vả và tốn nhiều thời gian hơn, Điều này ảnh hưởng lớn đến tinh thần ôn thi của học sinh, kết hợp với sự căng thẳng do học tập càng khiến học sinh bước vào giai đoạn “nước rút” dễ bị sụt giảm hiệu quả. Vì thế, giáo viên cần tích cực nắm bắt tâm lí học sinh, tăng tương tác với học sinh, động viên tinh thần của học sinh một cách kịp thời, cùng học sinh giải quyết các vấn đề khó khăn. Chỉ có như thế mới giúp các em có được tinh thần, ý chí mạnh mẽ nhất để đến với kì thi. b.Tính mới, tính sáng tạo của giải pháp mới. Thứ nhất: Xây dựng hoạt động ôn tập thi tốt nghiệp có tính chất quá trình, chia nhỏ nhiều phần, nhiều vòng. Hoạt động ôn tập thi tốt nghiệp không dồn vào một giai đoạn mà bắt đầu luôn từ hướng dẫn học hè, được lồng ghép vào các tiết Luyện tập, giờ dạy chiều. Điều này sẽ giúp học sinh tiếp thu kiến thức dễ dàng hơn, tích lũy kiến thức, kĩ năng tốt nhất. Học sinh không bị dồn ép hay phải ghi nhớ quá nhiều trong một thời gian ngắn dẫn đến nhầm lẫn, sai sót, mất điểm đáng tiếc. Học sinh lại được rèn luyện qua nhiều vòng, có thể từng bước khắc phục phần còn hạn chế để hoàn thiện kĩ năng làm bài và có kết quả tối ưu nhất. Thứ hai: Nâng cao năng lực tự học Học sinh được trực tiếp tham gia vào quá trình giáo dục và tự giáo dục thực sự được trở thành chủ thể của hoạt động học, phát triển và hoàn thiện kĩ năng sống cũng như năng lực phẩm chất. Các hoạt động ôn tập thi tốt nghiệp đều đặc biệt chú trọng đến tính chủ động của học sinh. Học sinh tham gia vào mọi phần, mọi nội dung ôn thi, tích cực tiếp cận với các cách thức ôn thi đa dạng nhất, từ đó tăng cường ý thức, tinh thần tự chủ. Thứ ba: Góp phần bồi dưỡng được một đội ngũ học sinh có kĩ năng tốt, tư duy tốt, năng lực phát triển. Thông qua nhiệm vụ học tập, thông qua sự phối hợp giữa giáo viên và cán sự lớp, các học sinh khá giỏi của môn Ngữ văn, giáo viên sẽ tăng cường bồi dưỡng kĩ năng, năng lực của
  9. 11 những học sinh đó. Đây là yếu tố giúp các em trưởng thành hơn và hoàn thiện bản thân hơn. Nhiệm vụ học tập chính là các tình huống có vấn đề mà khi học sinh giải quyết được, các em sẽ tự tin, chủ động, rèn luyện năng lực ngôn ngữ, năng lực xây dựng kế hoạch, năng lực làm việc nhóm Những điều này sẽ giúp học sinh tự tin, có nhiều trải nghiệm để các em học tập tốt hơn ở bậc học sau. Thứ tư: Truyền cảm hứng và tránh nhàm chán, tăng tính thú vị cho các môn học Trong quá trình học, bằng những giải pháp trên, giáo viên đã truyền cảm hứng cho học sinh, khơi dạy niềm đam mê, sự nhiệt tình và lòng quyết tâm cao độ của các em. Các em được phát huy tính tích cực, sáng tạo, có được hứng thú cần thiết trong quá trình học. Từ đó mà hiệu quả học tập nâng cao rõ rệt. Thứ năm: Góp phần định hướng nghề nghiệp, xác định khả năng của học sinh. Với giải pháp này, khi tham gia lựa chọn, xây dựng và thực hiện nhiệm vụ học tập, giải quyết các tình huống, sưu tầm thông tin, tư liệu đời sống, học sinh bồi đắp kiến thức và phát huy được cao độ những năng lực của mình theo hướng sáng tạo riêng: Năng lực tự học; Năng lực Giải quyết vấn đề; Năng lực sáng tạo; Năng lực tự quản lý; Năng lực giao tiếp; Năng lực hợp tác; Năng lực khai thác và sử dụng công nghệ thông tin; Năng lực sử dụng ngôn ngữ. Đó là cơ sở để các em khám phá những khả năng của bản thân, từ đó có những định hướng đúng đắn trong việc lựa chọn nghề nghiệp, quyết tâm theo đuổi ước mơ của mình. Đặc biệt với học sinh lớp 12, việc lựa chọn nghề nghiệp lại càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết. Thứ sáu: Góp phần khai thác những lợi thế và hạn chế bất lợi của công nghệ thông tin trong hoàn cảnh giáo dục mới Việc sử dụng công nghệ thông tin trong hoạt động vận dụng, mở rộng và là phương tiện thuyết trình, triển khai vấn đề giúp các em học sinh khai thác được kho tài liệu khổng lồ của tri thức nhân loại. Khi tri thức đó được cập nhật thường xuyên, liên tục, do vậy các em sẽ tích lũy được kiến thức phong phú, đa dạng dưới nhiều cách nhìn, cách đánh giá. Công nghệ thông tin từ đó càng góp phần cải thiện chất lượng của các phương pháp học tập tiến bộ, giúp rút ngắn thời gian tìm tài liệu và bổ trợ kiến thức kịp thời cho học sinh trong quá trình sử dụng các phương pháp học tập mới, đồng thời hạn chế thời gian tiêu cực, lãng phí trên mạng của học sinh. Thứ bảy: Mở rộng không gian lớp học Không gian lớp học được mở rộng tối đa. Kiến thức học sinh tiếp nhận không còn đóng kín là những tác phẩm văn học kinh điển với kiến thức khô khan. Tri thức được kết nối với cuộc sống, vốn sống của học sinh được mở rộng, kĩ năng sống được hoàn thiện. Ôn thi tốt nghiệp trở thành một hoạt động học tập rộng mở, học sinh có nhiều cơ hội khám phá bản thân, biến một hoạt động vốn rất căng thẳng trở nên mới mẻ hơn, yêu thích hơn. 3.2.Khả năng áp dụng sáng kiến. Sáng kiến này đã áp dụng thành công, đem lại hiệu quả với đối tượng học sinh lớp 12 trong hai năm học 2019-2020, 2020- 2021, hiện tại tiếp tục áp dụng trong năm học 2021-2022 đối với lớp 12 ở trường THPT Đinh Tiên Hoàng. Đặc biệt, khi vận dụng linh hoạt, thay đổi và điều chỉnh phù hợp có thể sử dụng cho học sinh ở tất cả các khối lớp; cũng có khả năng áp dụng trong toàn tỉnh cũng như toàn quốc. Giải pháp này có thể áp dụng cho nhiều năm học kế tiếp, đặc biệt là các năm học tới đây khi thực hiện chương trình Giáo dục phổ thông mới. 4.Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến.
  10. 12 Để áp dụng sáng kiến một cách hiệu quả đòi hỏi những điều kiện thích hợp về phương tiện, cơ sở vật chất và tổ chức dạy học, điều kiện về tổ chức quản lí, điều kiện về năng lực chuyên môn của giáo viên - Điều kiện về cơ sở vật chất: Để tăng hiệu quả, phòng học sử dụng giải pháp cần có sự hỗ trợ của máy chiếu, loa, phòng học máy tính - Điều kiện về năng lực chuyên môn của cán bộ và giáo viên (Trường THPT Đinh Tiên Hoàng có 100% giáo viên đạt chuẩn và trên chuẩn) + Căn cứ tình hình thực tế, hoàn cảnh, trình độ học sinh trong mỗi năm học, mỗi lớp học để có sự điều chỉnh phương pháp dạy học cho hiệu quả + Linh hoạt, đa dạng trong cách thức sử dụng các hình thức tổ chức + Luôn đặt lên hàng đầu sự quan tâm, chia sẻ đến học sinh trong nội dung bài học + Tự tìm hiểu tài liệu, cập nhật thông tin tri thức mới , củng cố kiến thức chuyên môn. Từ đó nâng cao trình độ và bản lĩnh. + Để sử dụng hiệu quả giải pháp giáo viên cần có kế hoạch thời gian cụ thể cho tiết học, hướng dẫn học sinh sử dụng các phương pháp một cách cụ thể trách mất thời gian cho hoạt động. 5. Lợi ích thu được: 5.1. Kết quả đạt được: a.Về phía nhà trường: Về chất lượng ôn thi TN THPT của nhà trường: trong những năm học vừa qua giải pháp đáp ứng được yêu cầu nâng cao chất lượng của kì thi TN THPT. Bên cạnh đó việc áp dụng những giải pháp tăng cường tính tích cực, chủ động của học sinh và nâng cao hiệu quả ôn tập trong hoạt động ôn thi tốt nghiệp THPT môn Ngữ văn còn phù hợp thực tế đời sống tâm lí của HS cũng như tình hình thực tiễn hiện nay. Trong những năm trở lại đây, cấu trúc đề thi THPT quốc gia và đề thi TN THPT quốc gia đang có xu hướng thích ứng linh hoạt với tình hình thực tế ảnh hưởng của dịch bệnh Covid đáp ứng yêu cầu đổi mới kì thi TN THPT. Giải pháp tăng cường tính tích cực, chủ động của học sinh và nâng cao hiệu quả ôn tập trong hoạt động ôn tập thi tốt nghiệp THPT môn Ngữ văn góp phần không nhỏ giúp học sinh giải quyết các nội dung kiến thức và kĩ năng của kì thi. Vì thế, giải pháp đã góp phần nâng cao hiệu quả, chất lượng ôn thi TN THPT môn ngữ văn của nhà trường trong những năm gần đây. Cụ thể: Trong Nhà trường, môn Ngữ văn luôn xếp ở thứ hạng cao nhất so với các môn thi TN khác. Năm học 2020-2021, môn Ngữ văn xếp thứ nhất toàn Tỉnh, các môn học khác đều ở vị trí từ thứ 3 trở lên: Môn thi Tổng Kết quả Toá Ngữ Tiếng Hóa Sinh Lịch điểm Vật lí Địa lí GDCD n văn Anh học học sử TB Tỉnh 7.06 6.86 5.84 7.01 7.01 5.8 5.6 7.36 9.07 6.98 Trường 7.89 7.66 7.66 7.4 7.02 5.9 6.3 7.5 9.1 7.49 XT trong 6 2 3 5 11 9 9 16 14 3 tỉnh Đó là môn học với thành tích dẫn đầu, góp phần không nhỏ tạo nên thành tích chung cho Nhà trường, giúp Nhà trường giữ vững vị thế là một trong những trường có chất lượng
  11. 13 ôn thi TN hàng đầu của tỉnh. Trong tỉnh, đối với kì thi TN THPT quốc gia của hai năm học trở lại đây, môn Ngữ văn của trường THPT Đinh Tiên Hoàng đạt được kết quả như sau: Năm học Điểm bình quân Độ lệch Độ lệch toàn XTT Toàn Tỉnh Đinh Tiên tỉnh quốc quốc Hoàng 2019-2020 6.62 7.0 7.6 0.6 0,98 2 2020-2021 6.47 6.82 7.67 0.85 1.2 2 Nhìn vào bảng số liệu này cho thấy: điểm bình quân môn Ngữ văn của nhà trường tăng 0.06 từ 7.6 năm học 2019 -2020 lên 7.67 năm học 2020 -202, mặc dù điểm bình quân toàn quốc cũng như điểm bình quân của tỉnh lại có xu hướng giảm. Độ lệch so với bình quân tỉnh tăng từ 0.6 năm học 2019 -2020 lên 0.85 năm học 2020 -2021. Độ lệch so với toàn quốc tăng từ 0.98 (2019 -2020) lên 1.2 (2020 -2021). Điều đó cho thấy chất lượng đầu ra của nhà trưởng về môn Ngữ văn có sự nâng lên đáng kể. Năm học 2021-2022: Giải pháp cũng mang lại hiệu quả đáng kể đối với kết quả ôn thi THPT môn Ngữ văn của trường THPT Đinh Tiên Hoàng trong năm học này qua các lần thi thử do Sở GD và Đào tạo Ninh Bình tổ chức cũng như cấp cụm. Đối với kì thi thử TN THPT của Sở Giáo dục điểm trung bình môn Ngữ văn của trường đứng thứ 3. Trong kì thi thử cấp cụm (gồm các trường THPT Bình Minh, THPT Kim Sơn B, THPT Đinh Tiên Hoàng) kết quả điểm thi môn Ngữ văn trường THPT Đinh Tiên Hoàng đứng thứ nhất. Cụ thể như sau: Kết quả thi thử tốt nghiệp THPT lần 1 cho học sinh lớp 12 năm học 2021 -2022 của SGD (Khóa thi ngày12,13 tháng 03 năm 2022) Môn Điểm TB XT trong tỉnh Ghi chú Ngữ văn 6.67 3 Sau LVT, NH Điểm từ 8 đến 10/môn thi 8≤ Điểm≤ 10 Ghi Bài thi/Môn Tỉ lệ chung các trường Số lượng Tỉ lệ chú Ngữ văn 36 9.23 6.16 Kết quả thi thử tốt nghiệp THPT lần 2 cho HS lớp 12 cấp cụm cho HS lớp 12 năm 2021-2022 (Khóa thi ngày 22/23 tháng 04 năm 2022) Môn Điểm TB XT trong cum Ghi chú Ngữ văn 6.99 1 Trước Kim Sơn B, Bình Minh Điểm từ 8 đến 10/môn thi 8≤ Điểm≤ 10 Ghi Bài thi/Môn Tỉ lệ chung các trường Số lượng Tỉ lệ chú Ngữ văn 51 12,44 10,72 Từ bảng số liệu trên cho thấy, điểm TB môn Ngữ văn của trường THPT Đinh Tiên Hoàng là khá cao. Đặc biệt tỉ lệ HS có điểm cao (từ 8 điểm đến 10 điểm) chiếm tỉ lệ tương đối cao hơn hẳn so với tỉ lệ chung các trường trong tỉnh cũng như cụm thi. Đợt 1 đạt 9.23 % và đợt 2 đạt 12,44% . Sáng kiến cũng góp phần không nhỏ vào việc nâng cao chất lượng giáo dục của nhà trường. Điều đó được thể hiện rõ qua đối sánh giữa điểm tuyển sinh đầu vào và kết quả TN