Đơn công nhận Sáng kiến Một số giải pháp nâng cao chất lượng học sinh giỏi môn Ngữ văn ở trường THPT Đinh Tiên Hoàng
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Đơn công nhận Sáng kiến Một số giải pháp nâng cao chất lượng học sinh giỏi môn Ngữ văn ở trường THPT Đinh Tiên Hoàng", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
don_cong_nhan_sang_kien_mot_so_giai_phap_nang_cao_chat_luong.docx
Nội dung tài liệu: Đơn công nhận Sáng kiến Một số giải pháp nâng cao chất lượng học sinh giỏi môn Ngữ văn ở trường THPT Đinh Tiên Hoàng
- 3 b. Ưu điểm và nhược điểm * Ưu điểm - Với cách làm như trên, công tác chỉ đạo của Ban giám hiệu, tổ chuyên môn không gây áp lực và căng thẳng với giáo viên. Giáo viên gần như được chủ động hoàn toàn từ khâu lựa chọn đội tuyển, xây dựng chương trình, tổ chức giảng dạy, kiểm tra đánh giá học sinh - Việc thành lập đội tuyển nhanh gọn, không mất nhiều thời gian và công sức của giáo viên. Chương trình học đảm bảo tính vừa sức, học sinh không quá bị áp lực và căng thẳng. Giáo viên chủ động cung cấp kiến thức vì vậy học sinh tiếp thu kiến thức liền mạch, logic và có hệ thống. Việc kiểm tra đánh giá của giáo viên thuận tiện và dễ thực hiện. * Nhược điểm - Công tác chọn đội tuyển của giáo viên phụ trách chỉ tập trung vào kết quả điểm số của học sinh qua các kỳ thi, kỳ kiểm tra là chủ yếu. Vì thế đã bỏ sót không ít học sinh có năng khiếu cảm thụ văn học nhưng vì lí do này, lí do khác mà các em chưa được phát hiện và nuôi dưỡng tình yêu đối với văn học. Với cách tuyển chọn này, giáo viên chưa thực sự gần gũi, chia sẻ, thấu hiểu và đồng cảm; chưa truyền được lửa nhiệt tình cũng như tình yêu và sự đam mê tới các em. - Việc xây dựng chương trình theo từng theo năm học riêng lẻ khiến học sinh không nắm được chương trình học tổng thể. Chương trình được xây dựng chưa chú ý đến việc phân hóa học sinh theo năng lực, điều này đã hạn chế rất nhiều đến khả năng tự học, tự tìm tòi, sáng tạo của học sinh. - Về phương pháp và hình thức giảng dạy: do có ít thời gian nên phương pháp giảng dạy chủ yếu vẫn là thuyết trình. Điều này khiến cho việc tiếp nhận của học sinh mang tính thụ động, phụ thuộc nhiều vào thầy cô; đánh mất khả năng tìm tòi, sáng tạo đặc biệt là tư duy phản biện của học sinh giỏi. Hơn nữa, phương pháp thuyết trình được lặp lại ở các tiết học sẽ gây ra cảm giác nhàm chán, mệt mỏi, học sinh không tìm thấy một sự hứng thú và mong đợi ở các tiết học tiếp theo. - Công tác kiểm tra đánh giá cũng bộc lộ một số nhược như: chỉ đánh giá được năng lực viết, làm bài của học sinh; còn bỏ qua chưa đánh giá được rất nhiều các năng lực cần thiết khác như năng lực tự chủ và tự học, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực công nghệ ). Như vậy, bản chất của các giải pháp cũ vẫn là lấy giáo viên làm trung tâm, học sinh không được tham gia nhiều vào các hoạt động học đa dạng, không được tham gia xây dựng, góp ý chương trình học tập cho chính bản thân mình. Giáo viên hoàn toàn chủ động xây dựng chương trình, chủ động trong việc cung cấp kiến thức cũng như kiểm tra và đánh giá học sinh. Với giải pháp này đã ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng đội tuyển. Điều đặc biệt là ảnh hưởng đến kết quả thực hiện nhiệm vụ năm học của nhà trường. 2.2. Các giải pháp mới cải tiến Từ những tồn tại và hạn chế trong công tác chỉ đạo, tổ chức bồi dưỡng học sinh giỏi như trên đã không đáp ứng được yêu cầu đổi mới giáo dục một cách toàn diện, nhóm Văn nói chung và giáo viên bồi dưỡng học sinh giỏi nói riêng đã nỗ lực tìm ra giải pháp tích cực nhằm khắc phục những nhược điểm, phát huy những ưu điểm giúp đội tuyển học sinh giỏi đạt thành tích cao hơn. Với sự vào cuộc quyết liệt của Ban Giám hiệu cũng như tổ chuyên môn chúng tôi đã
- 4 mạnh dạn đổi mới cách nhìn, cách nghĩ, cách làm. Đó là thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp nhằm nâng cao chất lượng mũi nhọn môn Ngữ văn. a. Bản chất của giải pháp * Giải pháp 1: Đối với Ban giám hiệu, tổ chuyên môn Không ngừng đổi mới công tác quản lý - Ban giám hiệu tổ chức cuộc họp có chất lượng hơn với sự tham gia của nhiều lưc lượng. Tất cả giáo viên trong trường và các phụ huynh có con tham gia đội tuyển nên đã huy động được các nguồn lực và sức mạnh tổng hợp của mọi lực lượng. Ban giám hiệu chú trọng đến tất cả các khâu của quá trình đào tạo, bồi dưỡng: từ khâu họp bàn đến xây dựng kế hoạch, thành lập đội tuyển, xây dựng nội dung chương trình, sự tiến bộ của học sinh sau mỗi chuyên đề, hoặc khó khăn của đội tuyển - Chỉ đạo giáo viên phụ trách đội tuyển khai thác thế mạnh của công nghệ thông tin để tạo nên sự thay đổi trong kết quả bồi dưỡng học sinh giỏi) * Giải pháp 2: Đối với giáo viên bồi dưỡng đội tuyển - Cải tiến, bổ sung cách thức thành lập đội tuyển + Phỏng vấn, trao đổi trực tiếp và kết hợp với nhóm Văn tổ chức Diễn đàn văn học cho học sinh lớp 10. Hệ thống câu hỏi không chỉ tập trung kiểm tra kiến thức văn học mà còn có những câu hỏi mở, hướng tới phát triển năng lực và phẩm chất của các em. + Gần gũi, chia sẻ, động viên và khích lệ những em có khả năng cảm thụ văn học nhưng chưa mạnh dạn tham gia vào đội tuyển. Giúp các em có những nhìn nhận, đánh giá đúng đắn hơn về môn học, hiểu được tầm quan trọng của văn học đối với cuộc sống, để từ đó các em tham gia học đội tuyển một cách hào hứng, chủ động và hiệu quả nhất. + Nhà trường kết hợp với tổ chuyên môn chỉ đạo tổ chức kỳ thi chọn đội tuyển chính thức với chất lượng đề ra đảm bảo tính phân hóa cao, chọn ra được những học sinh thực sự có tố chất. (Xem phụ lục 1) - Xây dựng chương trình toàn cấp, theo hướng mở phù hợp với năng lực học sinh + Xây dựng chương trình toàn cấp với sự tham gia trí tuệ của cả nhóm, đặc biệt là đội ngũ giáo viên có nhiều kinh nghiệm trong công tác bồi dưỡng mũi nhọn. + Chương trình được thiết kế dựa trên định hướng phát triển năng lực và phẩm chất của từng học sinh. + Học sinh học đội tuyển được tham gia vào việc xây dựng chương trình: các em được góp ý, bổ sung và đề xuất một số nội dung học tập. + Chương trình được xây dựng có sự tăng cường của kiến thức thực tiễn qua những buổi học tập ngoại khóa, hoạt động trải nghiệm, giao lưu học hỏi Như vậy bản chất của việc xây dựng chương trình là: Chương trình phải đầy đủ cho cả 3 khối lớp, phù hợp với năng lực từng học sinh, xây dựng theo hướng mở và tiến hành theo nhiều vòng. Nội dung chương trình vừa phải đảm bảo những kiến thức cơ bản, vừa có nâng cao và chuyên sâu ở một số chuyên đề (Xem phụ lục 2)
- 5 - Đổi mới phương pháp day học theo hướng tích cực gắn với việc khai thác thế mạnh của công nghệ thông tin và hoạt động trải nghiệm thực tế + Các phương pháp dạy học chủ yếu là: lớp học đảo ngược, dạy học theo chủ đề, tổ chức các hoạt động ngoại khóa, hoạt động trải nghiệm thực tể, học tập gắn liền với ghi nhật kí Với phương pháp mới này, học sinh hoàn toàn chủ động tiếp cận và làm chủ kiến thức của mình. Học sinh không phụ thuộc vào bài giảng và kiến thức của giáo viên. Thậm chí học sinh chính là người phát hiện và đề xuất những kiến thức mới có tính chuyên sâu, có khả năng thuyết phục cao đối với người đọc. Với phương pháp dạy học tích cực này, tư duy phản biện của học sinh được đề cao và coi trọng. Học sinh được tăng cường trao đổi, thảo luận, tháo gỡ các vướng mắc; được bày tỏ và đề xuất quan điểm của mình. Từ đó, mặc dù thời gian học có thể không nhiều nhưng lại cung cấp một lượng thông tin lớn và không khí học tập sôi nổi, cuốn hút. Bản thân mỗi học sinh mạnh dạn hơn, trưởng thành hơn cả về kĩ năng thuyết trình và kĩ năng đọc, kĩ năng viết sau mỗi chuyên đề. + Tiến hành một số chuyên đề với chủ đề: Lớp học – không gian mở. Đó là những chuyến đi học tập – trải nghiệm đầy ý nghĩa tại thư viện của nhà trường, thư viện tỉnh Ninh Bình, bảo tàng Dân tộc học, Đề thờ Trương Hán Siêu, Núi Thúy, thành phố Vinh, Quê Bác, khu tưởng niệm Nguyễn Du, khu tưởng niệm Nam Cao, làng Vũ Đại. Với phương pháp dạy học gắn liền với không gian mở, học sinh không còn cảm thấy ngại học, mệt mỏi mà luôn cảm thấy thích thú, hồi hộp, mong đợi đến tiết học tiếp theo. Các em tìm thấy giá trị, ý nghĩa của môn học cũng như tác dụng thiết thực của môn học đối với cuộc sống của chính mình. + Bên cạnh các phương pháp dạy học tích cực, chúng tôi cũng vận dụng linh hoạt lợi ích của công nghệ thông tin, vận dụng việc trao đổi thông tin qua mạng xã hội để thực hiện các nội dung học tập như: triển khai nội dung học tập trong tuần, trong tháng theo kế hoạch; tìm tài liệu, đặt sách, mua sách; tham dự lớp học trực tuyến; gửi bài giáo viên chấm, trao đổi, giải đáp các thắc mắc Điều này giúp các em học sinh có được một nguồn tài liệu phong phú, đa dạng, cập nhật; đáp ứng được yêu cầu học tập, yêu cầu vận dụng kiến thức vào các hoạt động thực hành. Đặc biệt, sẽ giàm thiểu thời gian online vô ích của các em. + Để học sinh nhanh chóng hoàn thành mục tiêu học tập của mình, chúng tôi còn khuyến khích học sinh ghi nhật kí. Việc nghi nhật kí các em dễ dàng kiểm soát được quá trình học tập của bản thân, giúp học sinh nhận ra phương pháp học tập tốt nhất, lên kế hoạch cụ thể cho các chuyên đề, thấy được những cái đã làm và chưa làm được, theo dõi mức độ tiến bộ trong học tập của mình thông qua điểm số. + Không những thế chúng tôi còn sử dụng chính những học sinh giỏi hỗ trợ học tập cho các bạn cùng lớp. Các em học sinh giỏi đã trở thành những chuyên gia, những trợ giảng đắc lực cho mỗi buổi ôn tập ở trên lớp. Sau mỗi buổi học như vậy chính các em học sinh giỏi đã khắc sâu được kiến thức cho mình, được rèn luyện thêm rất nhiều kĩ năng như: kĩ năng giao tiếp, kĩ năng thuyết trình, kĩ năng kiểm soát cảm xúc, kĩ năng tìm kiếm sự hỗ trợ, kĩ năng thể hiện sự tự tin, kĩ năng lắng nghe. Và các năng lực cần thiết cũng được bổ sung như: năng lực tự chủ và tự học, năng lực hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo, năng lực ngôn ngữ. Đặc biệt hơn là qua những tiết học này các em được hoàn thiện hơn những phẩm chất đáng quý của
- 6 người học sinh như biết quan tâm chia sẻ với khó khăn của các bạn, sống trung thực và có trách nhiệm hơn với bản thân, gia đình và xã hội. (Xem phụ lục 3) - Đổi mới đồng bộ kiểm tra đánh giá + Các hình thức kiểm tra đánh giá cũng được đa dạng hóa theo hướng tích cực. Cụ thể như sau: đánh giá việc xây dựng kế hoạch học tập, tìm hiểu kiến thức, hoạt động nhóm, lên thư viện, khi thuyết trình, viết bài, phản biện và bổ sung cho bạn, ghi nhật kí học tập. Kiểm tra đánh giá này không chỉ giúp các thầy cô định hướng cho các em về phương pháp, kiến thức và kỹ năng, năng lực cũng như hạn chế mà còn điều chỉnh phương pháp, cách thức, năng lực dạy học của chính giáo viên. + Không chỉ Ban Giám hiệu, giáo viên trong nhóm chuyên môn, giáo viên giảng dạy đánh giá mà học sinh cũng được tham gia vào quả trình đánh giá. Tự đánh giá lẫn nhau và tự đánh giá chính mình. * Giải pháp 3: lựa chọn nguồn tham khảo phù hợp, cùng xây dựng nguồn đề tham khảo Sách tham khảo vẫn là yếu tố không thể thiếu để học sinh bổ trợ cho việc học môn Ngữ văn và rèn luyện kĩ năng làm văn. Giữa biển sách tham khảo tràn lan trên thị trường và cũng ngập tràn trên không gian mạng, học sinh được tự học ở nhiều địa chỉ khác nhau; học sinh có nhiều nguồn sách tham khảo khác nhau. Tuy nhiên, tính tích cực và chính xác trong nội dung là vấn đề mà giáo viên cần quan tâm, hướng dẫn học sinh. Giáo viên lựa chọn nguồn tham khảo, khảo sát thực tế, bổ sung bằng ý kiến của nhiều khóa học khác nhau để gợi ý, định hướng cho học sinh những đầu sách tốt nhất, những địa chỉ uy tín và chất lượng. Đây là vấn đề đảm bảo cho học sinh vừa không tốn quá nhiều chi phí lại có hiệu quả cao trong học tham khảo.) Một nguồn tham khảo nữa, cũng là cách thức tăng cường tinh thần tự giác, ý thức làm việc nhóm ở một bộ phận học sinh, đó là hướng dẫn học sinh tự xây dựng hệ thống đề thi tham khảo trên cơ sở đề thi thử Tốt nghiệp ở các trường trên Toàn quốc, trong các năm học gần đây. Giáo viên cùng học sinh xây dựng kế hoạch tìm đề, chọn đề theo tuần. Giáo viên chia nhóm theo năng lực để học sinh làm việc hiệu quả. Giáo viên sẽ thảo luận cùng các em để xác định các vấn đề trọng tâm về Đọc – hiểu, nghị luận xã hội, nghị luận văn học. Trên cơ sở đó sẽ giao việc cho từng nhóm với cách thức là bốc thăm tác phẩm, mỗi nhóm 2 tác phẩm đến ba tác phẩm. Mỗi tuần mỗi nhóm sưu tầm 1 đề liên quan đến tác phẩm mà mình đã bốc thăm. Cán sự lớp sẽ thay nhau tổng hợp đề để xây dựng nguồn đề tham khảo cho cả lớp. Quá trình này được tiến hành trong suốt năm học. Đến khi bước vào giai đoạn ôn thi đầu tiên, mỗi lớp sẽ có một nguồn đề tham khảo của lớp mình. Nguồn đề này sẽ được các em sử dụng cho việc tự học, tự ôn tập, đặc biệt là ôn tập theo thể loại. Số lượng đề tương đối lớn, lại được chắt lọc sẽ giúp các em yên tâm khi sử dụng, không mất quá nhiều thời gian tìm kiếm. Hơn hết, quá trình các em tìm kiếm, tập hợp đề, các em sẽ nắm bắt một cách chủ động cấu trúc, dạng đề, hướng dẫn làm bài. Sự chủ động sẽ tăng hiệu quả, tạo nên sự tích cực cho học sinh. (Xem phụ lục 4)
- 7 * Giải pháp 4: phân tích kết quả thi thử và rút kinh nghiệm toàn diện sâu các đợt thi Đối với học sinh lớp 12, trong suốt năm học sẽ luôn có các đợt thi thử tốt nghiệp. Đề thi được ra bám sát chương trình, nội dung thi của năm học đó. Bởi thế mà việc phân tích kết quả thi thử cho học sinh rất quan trọng. Phân tích kết quả thi thử không chỉ là thông báo điểm cho học sinh, thông báo số học sinh đạt từ 5.0 điểm trở lên mà cần khai thác thông tin về năng lực của học sinh nói chung và học sinh giỏi nói riêng một cách tối đa từ kết quả thi thử đó. Khi bài thi thử được trả về cho học sinh, giáo viên sẽ chia lớp theo nhóm để học sinh tiến hành thống kê điểm của bài thi theo các phần trong bài và theo các câu hỏi. Phân tích kết quả thi thử sẽ tập trung vào các nội dung sau: Giáo viên yêu cầu mỗi học sinh so sánh kết quả thi cá nhân với bảng phân tích chung, căn cứ vào điểm thi của từng phần để rút ra những lưu ý chung trong kĩ năng làm bài nhằm đạt điểm tối đa. Giáo viên căn cứ vào bảng phân tích chung để đánh giá toàn diện tình hình cả lớp, xác định những phần còn yếu, còn chưa đạt của lớp; xác định các đối tượng yếu, chưa đạt theo từng phần, mục để điều chỉnh kế hoạch bài dạy. Đây là cách làm rất hiệu quả để tăng điểm cho học sinh, đảm bảo bám sát năng lực từng em, không bỏ rơi bất cứ học sinh nào. Bảng phân tích và kết quả phân tích cũng được lưu giữ lại để so sánh giữa các lần thi, từ đó xác định rõ hơn mục tiêu, năng lực của mỗi lớp học, chuẩn bị tốt nhất cho kì thi chính thức. * Giải pháp 5: đa dạng hóa các hoạt động học Giáo viên có thể sử dụng đối tượng học sinh khá giỏi để kiểm tra các học sinh khác theo hình thức kiểm tra phát vấn trực tiếp (nêu rõ phạm vi kiểm tra, nội dung, số lượng câu hỏi trên 1 lần kiểm tra, chọn một số học sinh giỏi, kiến thức chắc chắn cùng tham gia làm giám khảo, chia ra nhiều bàn kiểm tra; học sinh được kiểm tra sẽ lên các bàn kiểm tra bốc thăm trả lời câu hỏi). Bên cạnh đó, giáo viên có thể chia nhóm, mỗi nhóm sẽ phụ trách xây dựng hoạt động tìm kiếm, cập nhật thông tin thời sự một tuần và trình bày trước lớp. Hoạt động này giúp học sinh tăng cường hiểu biết thực tế đời sống, tăng cường hứng thú học tập và cũng có thêm dẫn chứng cho đoạn văn nghị luận xã hội. Một hoạt động nữa, đó là trong quá trình học và ôn tập, giáo viên hướng dẫn học sinh cần biết nhóm các tác phẩm (cả khía cạnh nội dung tác phẩm) theo đề tài, chủ đề, theo giai đoạn văn học, theo tác giả, theo khuynh hướng (lãng mạn, hiện thực, sử thi,...), theo trào lưu, theo thể loại (trữ tình - tự sự - kịch - nghị luận), để phục vụ cho dạng đề liên hệ, so sánh mở rộng theo định hướng đề minh họa của Bộ. (Xem phụ lục 5) * Giải pháp 6: duy trì, củng cố, giữ gìn tinh thần học tập cho học sinh trong giai đoạn ôn tập căng thẳng Đây là yếu tố quyết định rất lớn đến kết quả ôn tập. Khi các em bước vào giai đoạn ôn tập căng thẳng nhất, giáo viên sẽ không chỉ là người hướng dẫn ôn tập kiến thức, kĩ năng mà còn là người kết hợp với gia đình để củng cố tinh thần, ý thức của các em. Những năm học trở lại đây ngoài ôn luyện môn học được coi là thế mạnh của các em, các em còn phải ôn tập 02 môn học còn lại trong khối thi của mình, số lượng môn ôn thi tăng lên gấp ba lần, điều này ảnh hưởng lớn đến tinh thần, sức khỏe ôn thi của học sinh, kết hợp với sự căng thẳng do học tập càng khiến học sinh bước vào giai đoạn “nước rút” dễ bị sụt giảm hiệu quả. Vì thế, giáo viên
- 8 cần tích cực nắm bắt tâm lí học sinh, tăng tương tác với học sinh, động viên tinh thần của học sinh một cách kịp thời, cùng học sinh giải quyết các vấn đề khó khăn. Chỉ có như thế mới giúp các em có được tinh thần, ý chí mạnh mẽ nhất để đến với kì thi. b. Tính mới, tính sáng tạo của giải pháp - Tính mới: + Việc xây dựng kế hoạch nội dung chương trình giảng dạy có tính xuyên suốt và kế thừa, phù hợp với năng lực của từng học sinh. + Học sinh học đội tuyển cùng được tham gia xây dựng kế hoạch, xây dựng nội dung học tập. + Các phương pháp và hình thức dạy học được đa dạng hóa. + Tận dụng tối đa lợi ích của của công nghệ thông tin và mạng xã hội vào các khâu của quá trình đào tạo. + Học sinh được tham gia vào quá trình đánh giá và tự đánh giá. - Tính sáng tạo + Học sinh hoàn toàn chủ động, hứng thú và say mê học đội tuyển. Các em có ý thức rất rõ về trách nhiệm của bản thân trong việc tham gia đội tuyển cũng như luôn cảm thấy tự hào được các thày cô lựa chọn. + Học sinh được phát huy tối đa khả năng của bản thân, nhiều năng lực, kỹ năng và phẩm chất mới được hình thành. + Truyền cảm hứng và tránh nhàm chán, tăng tính thú vị, hấp dẫn cho môn học. + Góp phần định hướng nghề nghiệp cho học sinh. + Giáo viên luôn tâm huyết, tận tụy với công việc mà không cần đến sự nhắc nhở, giám sát của Ban giám hiệu. + Mối quan hệ giữa các thành viên trong nhóm chuyên môn, giữa giáo viên và học sinh ngày càng thân thiện, gắn bó. Môi trường sư phạm nhà trường thực sự rất đáng tin cậy, là nơi mà tất cả giáo viên và học sinh, cha mẹ học sinh cũng như xã hội muốn hướng tới. 3. Hiệu quả và kết quả đạt được 3.1. Hiệu quả 3.1. Hiệu quả kinh tế Khi thực hiện một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng mũi nhọn, chúng tôi đã vận dụng linh hoạt lợi ích của công nghệ thông tin vào quá trình dạy học. Cụ thể là ở các chuyên đề chúng tôi cung cấp đầu sách và tài liệu tham khảo cần tìm và đọc. Nếu như trước đây nhà trường cần phải mua số lượng sách giấy rất lớn thì với việc sử dụng công nghệ thông tin, sử dụng sách Online, đọc sách trên các trang mạng miễn phí chúng tôi đã tiết kiệm được chi phí đáng kể. Số tiền dự kiến làm lợi bằng Việt Nam đồng, sau thời gian áp dụng sáng kiến cho mỗi đội tuyển cụ thể như sau: LỚP 10 Chuyên Tên sách, tác Nhà xuất bản Gía sách Tên sách Địa chỉ đọc sách Số Tổng tiền đề giả, NXB Online lượng tiết kiệm
- 9 Văn Kho Tàng Nhà xuất bản 55,000 Kho tàng 11 605,000 học Truyện Cổ Tích Trẻ truyện cổ yonline.com/tua- dân Việt Nam (Tập tích Việt sach/kho-tang- gian 1) Nam - truyen-co-tich-viet- Kho Tàng Nhà xuất bản 450,000 Nguyễn nam 11 4,950,000 Truyện Cổ Tích Trẻ Đổng Chi Việt Nam (Quyển 2) - Bìa Cứng Kho Tàng Nhà xuất bản 80,000 11 880,000 Truyện Cổ Tích Trẻ Việt Nam (Tập 3) Từ điển thành Nhà xuất bản 110,000 Giải thích 11 1,210,000 ngữ, tục ngữ Văn học thành yonline.com/tua- Việt Nam ngữ, tục sach/giai-thich- ngữ thanh-ngu-tuc-ngu Truyện Cổ Nhà xuất bản 205,000 Truyện cổ 11 2,255,000 Grimm Văn học Grimm tories.com/vi/grimm _truyen/index?page= 1 Ca dao Việt Nhà xuất bản 100,000 Ca dao 11 1,100,000 Nam Hồng Đức Việt Nam anhngon.vn/ca-dao TỔNG 11,000,000 LỚP 11 Chuyên Tên sách, tác Nhà xuất bản Gía bìa Số Tổng tiền Đề giả, NXB lượng Lí luận Lý luận văn Đại học sư 70,000 Lý luận 8 560,000 văn học học 1 - phạm văn học hmienphi.com/li- Phương Lựu luan-van-hoc chủ biên Lý luận văn Đại học sư 75,000 8 600,000 học 2- Phương phạm Lựu chủ biên Lý luận văn Đại học sư 65,000 8 520,000 học 3- Phương phạm Lựu chủ biên Thi pháp học - NXB Văn học 160,000 8 1,280,000 Phạm Ngọc m/thi-phap-hoc.pdf Hiến Văn học Tuyển tập Nhà xuất bản 131,000 8 1,048,000 Việt Nam Cao Văn học ebook/tuyen-tap- Nam nam-cao.497.html Thơ Tố Hữu Nhà xuất bản 98,000 8 784,000 Văn học net/T%E1%BB%91- H%E1%BB%AFu/auth or-
- 10 6uN9el0F61csLvlqLV N6gw Tuyển tập văn Nhà xuất bản 300,000 8 2,400,000 học Hồ Chí Văn học m/2017/12/21/tuyen Minh -tap-van-hoc-ho-chi- minh/ Tuyển Tập Nhà xuất bản 126,000 8 1,008,000 Thạch Lam Văn học ry.php?story=tuyen_t ap_truyen_ngan_tha ch_lam__thach_lam &chapter=0000 Tuyên tập Vũ Nhà xuất bản 240,000 Sách 8 1,920,000 Trọng Phụng Văn học truyện Vũ ebook/tuyen-tap- Trọng truyen-ngan-vu- Phụng trong-phung-vu- trong- phung.2406.html r.com/books/?author =vutrongphung Ba đỉnh cao Hội nhà văn 139,000 Ba đỉnh 8 1,112,000 thơ mới - Chu cao thơ ads.com/book/show/ Văn Sơn mới - Chu 34992716-ba-nh-cao- Văn Sơn th-m-i Văn học Tam quốc diễn Văn học 340,000 Tam quốc 8 2,720,000 nước nghĩa - La diễn nghĩa yonline.com/tua- ngoài Quán Trung sach/tam-quoc-dien- nghia Những người Văn học 350,000 Những 8 2,800,000 khốn khổ - người doc-sach-truc- VictorHuygo khốn khổ tuyen/88041/nhung- nguoi-khon-kho-full- victor-hugo.html Văn học Văn học Trung Đại học Quốc 126,000 Đặc trưng 8 1,008,000 Trung đại Việt Nam - gia văn học m/2019/12/30/dac- đại Nguyễn Thị trung đại trung-van-hoc-trung- Khang Việt Nam dai-viet-nam/ Tổng 17,760,000 LỚP 12 Chuyên Tên sách, tác Nhà xuất bản Gía bìa Tên sách Địa chỉ đọc sách Số Tổng tiền giả, NXB Online lượng Văn học Tuyển tập NXB Văn học 69,000 Tuyển tập 5 345,000 đương đại Nguyễn Minh Nguyễn nh.wordpress.com/2 Châu 012/05/06/muc-luc-
- 11 Minh tuyen-tap-truyen- Châu ngan/ Tuyển tập NXB Văn học 180,000 Tuyển tập 5 900,000 Truyện ngắn Nguyễn nh.wordpress.com/2 Nguyễn Huy Huy Thiệp 013/10/05/muc-luc- Thiệp tuyen-tap-truyen- ngan-nguyen-huy- thiep/ Xuân Quỳnh - NXB Văn học 38,400 Thơ Xuân 5 192,000 Thơ và đời Quỳnh ho-viet-nam/xuan- quynh Tuyển tập 89,000 Truyện 5 445,000 truyện ngắn ngắn ebook.com/ebook- Nguyễn Khải Nguyễn 22-truyen-ngan-cua- Khải nguyen-khai-full-prc- pdf-epub-tuyen- tap_2094.html Nỗi buồn Nhà xuất bản 115,000 Nỗi buồn 5 575,000 chiến tranh - Trẻ chiến ebook/noi-buon- Bảo Ninh tranh - chien-tranh-bao- Bảo Ninh ninh.2052.html Văn học Truyện ngắn NXB Văn học 78,000 Truyện 5 390000 nước Lỗ Tấn ngắn Lỗ h.com/reader/tuyen- ngoài Tấn tap-truyen-ngan-lo- tan AQ chính Nhà xuất bản 99,000 5 495,000 truyện văn học aq-chinh-truyen/ Tổng 3,342,000 Như vậy, số tiền đã làm lợi trong ba năm học (cho một đội tuyển) là: 11.000.000 + 17.760.000 + 3.342.000 = 32.102.000 Ba mươi hai triệu một trăm linh hai ngàn đồng Nếu áp dụng trong toàn tỉnh Ninh Bình với 27 trường THPT thì số tiền làm lợi là: 32.102.000 x 27 = 866.754.000 (Tám trăm sáu sáu triệu bảy trăm năm tư ngàn đồng). Trong thời gian tới, nếu có thể số hóa các tài liệu học tập cho toàn bộ học sinh mũi nhọn nói riêng và học sinh nói chung thì hiệu quả kinh tế không dừng lại ở đó. 3.2. Hiệu quả xã hội - Việc mạnh dạn thực hiện đồng bộ các giải pháp cải tiến, sáng kiến đã đem lại nhiều hiệu quả xã hội cao. Sáng kiến đã được áp dụng cho tất cả giáo viên môn Ngữ Văn trong nhà trường và có thể nhân rộng trong các nhóm chuyên môn Ngữ Văn ở các trường THPT trong toàn tỉnh và trên toàn quốc. Sáng kiến có thể dễ dàng áp dụng cho tất cả các môn học khác không chỉ ở cấp THPT mà hoàn toàn có thể áp dụng ở cấp THCS. - Sáng kiến góp phần thúc đẩy nhiều phong trào thi đua trong trường của giáo viên và học sinh như phong trào hội giảng chào mừng các ngày lễ lớn 20/11, 26/3
- 12 - Sáng kiến là tiền đề quan trọng giúp giáo viên không ngừng đổi mới, tích lũy những kỹ năng và kinh nghiệm cần thiết đáp ứng được các yêu cầu để giảng dạy theo chương trình sách giáo khoa mới, phục vụ kịp thời những thay đổi trong chương trình thi THPT quốc gia. - Áp dụng phương pháp dạy học theo sáng kiến này, học sinh không chỉ có kiến thức vững vàng về văn học mà các em còn bồi đắp, nuôi dưỡng tâm hồn thêm tinh tế và nhạy cảm. Các em có được các phẩm chất cốt lõi của người học sinh như biết yêu thương, biết chia sẻ và sống có trách nhiệm với bản thân, gia đình và xã hội. Đồng thời phát huy được những năng lực cần có của người học sinh trong thời đại mới. 3.2. Kết quả cụ thể đối với học sinh sau khi áp dụng sáng kiến - Sau khi áp dụng sáng kiến trong 02 năm học gần đây, kết quả thi học sinh giỏi đã có nhiều tiến bộ vượt bậc. Nhiều học sinh đã đạt đến giải Nhì, có học sinh đã vượt qua vòng thi loại nhiều lần để tham dự đội tuyển học sinh giỏi quốc gia. Quan trọng hơn, những học sinh giỏi đã thực sự say mê môn Ngữ văn, có ý thức theo đuổi các công việc có liên quan đến bộ môn và ý thức chia sẻ niềm đam mê đó với các bạn. Đây là nòng cốt để nâng cao chất lượng học bộ môn Ngữ văn trong Nhà trường nói chung. - Sáng kiến góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy bộ môn Ngữ văn, từ đó nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện của Nhà trường. Tổ Văn – Sử nói chung và nhóm Văn nói riêng trong hai năm học 2021-2022 và 2022-2023 đều đạt thành tích và xếp thứ hạng cao trong khối thi đua Cụ thể: Trong Nhà trường, môn Ngữ văn luôn xếp ở thứ hạng cao nhất so với các môn thi TN khác. Năm học 2020-2021, môn Ngữ văn xếp thứ nhất toàn Tỉnh, các môn học khác đều ở vị trí từ thứ 3 trở lên: Về kết quả thi Học sinh giỏi môn Ngữ văn trong hai năm học của Nhà trường Năm học Số lượng giải đạt được Xếp hạng 2021-2022 01 Nhì, 02 Ba, 03 Khuyến khích Sở không xếp loại từng đội 2022-2023 02 Nhất, 05 Nhì, 04 Ba, 02 Khuyến khích Xếp thứ nhất cụm thi đua 01 học sinh tham dự thi HSG quốc gia Đặc biệt khi nhân rộng một số giải pháp trên cho học sinh toàn trường và xây dựng đôi ngũ cán sự môn Ngữ văn ở các lớp là thành viên của đội tuyển học sinh giỏi thì kết quả chung về môn Ngữ văn của toàn trường cũng được nâng lên. Các em học sinh đều có sự say mê, hứng thú với môn Ngữ văn. Không chỉ học sinh giỏi, các học sinh khá, trung bình cũng tự tổ chức các nhóm ôn tập dưới sự hướng dẫn của giáo viên. Học sinh luôn tích cực trao đổi với nhau về các bài tập, xây dựng đề cương ôn luyện, tìm tòi các dạng đề, trao đổi với nhau qua các phương tiện thông tin. Theo đó, kết quả của kì thi THPT quốc gia cũng có sự tăng lên đáng kể: nhiều học sinh đạt điểm giỏi, một số học sinh còn đạt điểm từ 9,0 trở lên, có học sinh đạt điểm cao nhất toàn tỉnh như Vũ Khánh Vi 9,5 điểm, Vũ Thị Hoài Thu 9,5 điểm, Nguyễn Thị Minh Tú 9,25 điểm, Lê Thị Thùy Trang 9,5 điểm, Chu Phương Thảo 9,0 điểm, Nguyễn Thị Mĩ Tâm 9,25 điểm. Số lượng học sinh đạt điểm dưới trung bình còn rất ít. Kết quả thi thử tốt nghiệp THPT lần 1 cho học sinh lớp 12 năm học 2021 -2022 của SGD (Khóa thi ngày12,13 tháng 03 năm 2022)
- 13 Môn Điểm TB XT trong tỉnh Ghi chú Ngữ văn 7.67 3 Sau LVT, NH Điểm từ 8 đến 10/môn thi 8≤ Điểm≤ 10 Ghi Bài thi/Môn Tỉ lệ chung các trường Số lượng Tỉ lệ chú Ngữ văn 36 9.23 6.16 Kết quả thi thử tốt nghiệp THPT lần 2 cho HS lớp 12 cấp cụm cho HS lớp 12 năm 2021- 2022 (Khóa thi ngày 22/23 tháng 04 năm 2022) Môn Điểm TB XT trong cum Ghi chú Ngữ văn 6.99 1 Trước Kim Sơn B, Bình Minh Điểm từ 8 đến 10/môn thi 8≤ Điểm≤ 10 Ghi Bài thi/Môn Tỉ lệ chung các trường Số lượng Tỉ lệ chú Ngữ văn 51 12,44 10,72 Từ bảng số liệu trên cho thấy, điểm TB môn Ngữ văn của trường THPT Đinh Tiên Hoàng là khá cao. Đặc biệt tỉ lệ HS có điểm cao (từ 8 điểm đến 10 điểm) chiếm tỉ lệ tương đối cao hơn hẳn so với tỉ lệ chung các trường trong tỉnh cũng như cụm thi. Đợt 1 đạt 9.23 % và đợt 2 đạt 12,44% . Sáng kiến cũng góp phần không nhỏ vào việc nâng cao chất lượng giáo dục của nhà trường. Điều đó được thể hiện rõ qua đối sánh giữa điểm tuyển sinh đầu vào và kết quả TN THPT. Cụ thể: năm học 2021 điểm tuyển sinh đầu vào môn Ngữ văn của nhà trường là 6.74 đứng thứ 4 kết quả đầu ra môn Ngữ văn của nhà trường đạt 7.67 đứng thứ 2 toàn tỉnh tăng 1.24 điểm và tăng 2 bậc. Năm học 2022, điểm tuyển sinh đầu vào môn Ngữ văn của trường đạt điểm bình quân đứng thứ 3, kết quả đầu ra trong kì thi TN THPT đạt 8,21 đứng thứ 1 toàn tỉnh tăng tăng 2 bậc. Cụ thể như sau: Thống kê điểm thi đầu vào và đầu ra của nhà trường năm 20201, năm 2022 2021 2022 Tuyển sinh Xếp Tốt nghiệp Xếp Tuyển Xếp thứ Tốt Xếp thứ thứ sinh lớp nghiệp thứ 6,74 4 7,67 2 6.84 3 8,21 1 Ngoài ra, bên cạnh những kì thi lớn của Tỉnh, của Quốc gia, xếp loại học lực giỏi môn Ngữ văn của học sinh trong trường có tiến bộ vượt bậc. Học sinh toàn trường đã được truyền cảm hứng học tập môn Ngữ văn, các em hiểu và yêu thích các tác phẩm văn học, tích cực rèn luyện kĩ năng nghị luận, thuyết trình, tăng cường ứng dụng trong đời sống. Hoạt động học tập môn Ngữ văn cũng rất phong phú, đa dạng như lập nhóm học trên Zalo, làm báo tường theo

