Đơn công nhận Sáng kiến Một số biện pháp về tư vấn, hỗ trợ tâm lý cho học viên có hoàn cảnh đặc biệt của khối trung tâm GDTX
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Đơn công nhận Sáng kiến Một số biện pháp về tư vấn, hỗ trợ tâm lý cho học viên có hoàn cảnh đặc biệt của khối trung tâm GDTX", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
don_cong_nhan_sang_kien_mot_so_bien_phap_ve_tu_van_ho_tro_ta.docx
Nội dung tài liệu: Đơn công nhận Sáng kiến Một số biện pháp về tư vấn, hỗ trợ tâm lý cho học viên có hoàn cảnh đặc biệt của khối trung tâm GDTX
- 2. Giải pháp mới cải tiến a. Bản chất của giải pháp mới Giáo viên xây dựng kế hoạch, tổ chức một buổi sinh hoạt chung hoặc buổi học ngoại khóa nhằm phát huy được tính tích cực của học viên trong quá trình tham gia buổi học. Tạo hứng thú để học viên dễ dàng bày tỏ tình cảm, tâm sự, đưa ra những phương hướng phấn đấu cho bản thân. Thông qua các phương pháp tư vấn, hỗ trợ tâm lý lứa tuổi sẽ giúp các em hiểu bản thân mình hơn. Từ đó, xác định được mục tiêu, phương hướng cho bản thân sau này. b. Cụ thể b.1 Xây dựng kế hoạch cho buổi sinh hoạt: Vì đây là buổi sinh hoạt chung hoặc buổi học ngoại khóa mang tính chất hướng ngoại, nó không nằm trong chương trình sách giáo khoa nên bắt buộc chúng tôi phải tìm tòi, nghiên cứu xây dựng kế hoạch tổ chức cho buổi sinh hoạt chung của chuyên đề, sao cho phù hợp với đối tượng học viên của chúng tôi trong thời gian 90 phút hoạt động trên lớp. Trong giờ tổ chức buổi sinh hoạt chung của chuyên đề chúng tôi sắp xếp chỗ ngồi cho học viên theo hoạt động nhóm, chia đều học viên của cả 3 lớp ngồi cùng nhau. b.2 Phần hoạt động khởi động Phần này chúng tôi sẽ tổ chức chơi trò chơi, hát văn nghệ, hát chào mừng, hoặc cho học viên xem 1 đoạn kịch ngắn hài hước. Tạo không khí vui tươi, hào hứng, sôi nổi cho các em bắt đầu vào buổi sinh hoạt chung. b.3 Hoạt động tổ chức thực hiện ❖ Hoạt động 1: Tìm nhân vật bí ẩn + Bước 1: Tôi chuẩn bị 1 số tư liệu, hình ảnh, clip về hoàn cảnh của 3 em học viên của 3 lớp 11A, 11B, 12TT. Đặc biệt là hình ảnh về kết quả học tập qua các năm học của các em tại Trung tâm. + Bước 2: Lần lượt đưa ra đặc điểm, các dấu hiệu nhận biết của 3 em học viên. Đặt các câu hỏi liên quan đến hình ảnh trình chiếu + Bước 3: Từ câu trả lời, các học viên sẽ phát hiện ra đối tượng ngày hôm nay sẽ được nhắc đến trong buổi sinh hoạt chung của chuyên đề là ai?. Hoạt động này, giúp các học viên hào hứng, vui vẻ bắt nhịp với buổi sinh hoạt chung. Đồng thời, các em sẽ nhận ra nhân vật trong câu chuyện chính là bạn trong lớp của mình. Từ đó, các em sẽ có cái nhìn cởi mở, thiện cảm, khâm phục sự cố gắng, tiến bộ, thay đổi của bạn. ❖ Hoạt động 2: Tìm hiểu các phương pháp tư vấn, hỗ trợ tâm lý Đây là bước quan trọng nhất để định hướng được kỹ năng, thái độ, tình cảm cho học viên. Tìm hiểu, nghiên cứu những phương pháp tư vấn, hỗ trợ tâm lý phù hợp với từng đối tượng học viên của trung tâm. Tôi chia thành các đối tượng cụ thể với các phương pháp thích hợp.
- • Đối tượng là học viên thuộc diện học tập yếu, kém cần thực hiện những phương pháp tư vấn, hỗ trợ sau: - Xây dựng động cơ học tập cho học viên yếu chính là xác định học viên hiểu học để làm gì? Vì sao phải học? - Phân hóa đối tượng học viên . - Quan sát và theo dõi từng hoạt động của các em, bằng nhiều hình thức tổ chức (thi đua cá nhân, thi đua tổ nhóm, đố vui, giải trí, ). Kết hợp kiểm tra thường xuyên việc học của các em mỗi ngày nhằm rèn thói quen học bài và làm bài, kích thích hoạt động trí tuệ cho các em. - Động viên, khích lệ, tuyên dương kịp thời • Đối tượng là học viên có hoàn cảnh đặc biệt cần thực hiện những phương pháp tư vấn, hỗ trợ sau: - Gia đình là môi trường giáo dục có ảnh hưởng trực tiếp đến trẻ. Trước tiên là ảnh hưởng của cha mẹ rất sâu sắc. Vì vậy, giáo dục gia đình là một “điểm mạnh”, là một bộ phận quan trọng trong sự nghiệp giáo dục trẻ. Song mỗi gia đình có những điểm riêng của nó nên giáo viên phải biết phối hợp như thế nào để đảm bảo được tính thống nhất, toàn vẹn trong quá trình giáo dục. Đồng thời phát huy ảnh hưởng cùng nhà trường giáo dục học viên đạt hiệu quả. - Tìm hiểu nguyên nhân: Trước những nguyên nhân xuất phát từ gia đình giáo viên cần trao đổi, gặp gỡ trực tiếp với gia đình - Tạo cơ hội để trao đổi trực tiếp với phụ huynh học viên, nắm bắt cụ thể hướng phấn đấu của các em vì mục tiêu, kế hoạch chung của lớp, của trường Thông qua các buổi họp phụ huynh. - Hợp tác giữa giáo viên và phụ huynh là điều cần thiết để học viên học tập và rèn luyện. Qua đó, giáo viên sẽ thông tin kịp thời đến phụ huynh về kết quả học tập, hạnh kiểm, các mặt tham gia hoạt động của con em mình thông qua sổ liên lạc điện tử Giáo viên và phụ huynh cần phải có sự liên kết hai chiều nhằm có biện pháp tác động phù hợp. Động viên khuyến khích khi các em tiến bộ, nhắc nhở kịp thời khi các em có biểu hiện cần uốn nắn. - Giáo viên chỉ mời phụ huynh khi cần thiết để bàn bạc biện pháp giáo dục các em. (không nên lạm dụng). - Giáo viên tạo điều kiện tốt nhất về thời gian để học viên có thể hoàn thành bài học ngay lại lớp. • Đối tượng là học viên thuộc diện học sinh cá biệt cần thực hiện những phương pháp tư vấn, hỗ trợ sau: - Tìm hiểu được căn nguyên của từng học viên cá biệt: Sau khi đã xác định được các đối tượng học viên thuộc dạng cá biệt trong lớp cần tổ chức theo dõi và đánh giá một
- cách khách quan, trung thực, đúng bản chất của vấn đề. Liệt kê ra các nguyên nhân, các lý do mà các em thường vi phạm và mắc phải; liệt kê số lần các em vi phạm, sau mỗi lần đó đã có ai nhắc nhở, giáo dục chưa? Đã cho các em suy ngẫm về lỗi của mình và đã hứa khắc phục hay chưa ?.... cần phải ghi chép rõ ràng để làm cơ sở cho việc xây dựng các biện pháp giáo dục. - Xây dựng biện pháp giáo dục cho từng đối tượng - Thiết lập sổ theo dõi giữa gia đình và lớp. Ngày nào giáo viên cũng đánh giá nhận xét việc học tập cũng như hành động của các em vào sổ gửi về cho bố mẹ. Và đồng thời cũng lấy ý kiến từ gia đình để giáo viên có biện pháp giáo dục khác. Từ đó gia đình luôn nắm bắt được tình hình học tập của con em mình, cùng với nhà trường kèm cặp học viên tốt hơn. - Tổ chức, triển khai thực hiện: Thông qua các buổi sinh hoạt lớp, các hoạt động giảng dạy giáo viên chủ nhiệm biểu dương, khen ngợi các em đã có nhiều tiến bộ trong học tập cũng như trong việc rèn luyện đạo đức. Đặc biệt là các học viên cá biệt phải quan tâm vấn đề này lên hàng đầu. Tổ chức cho các em giao lưu văn hóa, văn nghệ để hiểu nhau hơn. Bên cạnh đó, giáo viên cũng phải nghiêm khắc phê bình những em học viên không chịu rèn luyện tu dưỡng đạo đức và học tập. Giao cho lớp trưởng, tổ trưởng theo dõi và báo cáo tình hình hoạt động của các học viên cá biệt, để giáo viên kịp thời xử lý không để quá muộn. • Đối tượng là học viên lười học, không chăm chỉ, không chuyên cần hoặc chưa nhận thức được nhiệm vụ học tập cần thực hiện những phương pháp tư vấn, hỗ trợ sau: - Những học viên rơi vào tình trạng trên là do: không học bài, không làm bài, thường xuyên để quen sách, vở ở nhà, vừa học vừa chơi, không tập trung Để các em có hứng thú học tập, giáo viên phải nắm vững và phối hợp nhịp nhàng các phương pháp dạy học, thay đổi bằng hình thức trò chơi, sử dụng phong phú đồ dung học tập Giúp các em hiểu bài, tự bản thân mình giải quyết các bài tập thầy cô giao. Ngoài ra, giáo viên động viên các bạn trong tổ nhắc nhở và giúp đỡ lẫn nhau mỗi khi các em vấp phải những lỗi trên. Chúng ta phải hiểu, một học sinh yếu - kém không đòi hỏi các em phải giỏi ngay được. Điều chúng ta mong muốn là sự tiến bộ từng bước ở các em so với thời gian trước. Phương pháp này không dùng để giáo dục học viên yếu – kém do hoàn cảnh gia đình được. - Ngoài ra, giáo viên cần phải trao đổi trực tiếp đến từng đối tượng học viên bằng lời nói, cử chỉ, mệnh lệnh thật thuyết phục đến các em. - Chính những tác động trực tiếp thường tạo ra dấu ấn tức thì về sự chuyển biến tâm lí cũng như thái độ, hành vi, tình cảm học viên sẽ dần tiến bộ. Như vậy, việc áp dụng thành công các biện pháp tư vấn hỗ trợ tâm lý cho các học viên có hoàn cảnh đặc biệt ở Trung tâm GDTX là điều rất hữu ích, cấp thiết, quan trọng. Giúp ích cho các em rất nhiều trong học tập, cũng như trong cuộc sống hàng
- ngày. Từ đó, sẽ tạo cho các em thêm sự tự tin, ý thức, năng lực, khám phá thêm được những năng lực tiềm ẩn của chính bản thân. - Hoạt động 3: Chinh phục bản thân Ban tổ chức sẽ cho các em thực hiện 1 số bài test, trắc nghiệm để các em tự chọn phương pháp thích hợp để giải quyết các tình huống. Đồng thời, chính các em sẽ phát hiện ra thế mạnh của bản thân mình. - Hoạt động 4: Giao lưu, chia sẻ Ở phần này, lần lượt 3 nhân vật chính sẽ tâm sự, chia sẻ về hoàn cảnh của bản thân, các em đã vượt qua những khó khăn đó như thế nào? Học viên nhắc về những kỷ niệm đáng nhớ nhất trong những năm học dưới mái trường với thầy cô và các bạn. Những người đã giúp các em định hướng được bản thân. Sau đó, chúng tôi tổ chức cuộc thi nhỏ giữa ba lớp để khích lệ tinh thần đoàn kết của các học viên với các câu hỏi nhằm củng cố những kiến thức kỹ năng về tâm lý lứa tuổi mà các em học được trong buổi sinh hoạt chung của chuyên đề. Qua đó học viên hăng hái tham gia và những kiến thức cần ghi nhớ được khắc ghi một cách nhẹ nhàng. - Hoạt động 5: Vận dụng Để áp dụng thành công được các phương pháp tư vấn, hỗ trợ tâm lý, cần phải có sự phối hợp cả của gia đình, nhà trường, giáo viên. Đặc biệt, bản thân mỗi em phải cố gắng hoàn thiện chính bản thân mình. Các em có thể về nhà áp dụng những phương pháp phù hợp với từng hoàn cảnh cụ thể để có được hiệu quả tốt nhất. (Chi tiết kế hoạch tổ chức buổi sinh hoạt chung của chuyên đề, chúng tôi xin được trình bày ở phần phụ lục) III. Hiệu quả đạt được 1. Hiệu quả xã hội: Khi các em được tìm hiểu các biện pháp tư vấn, hỗ trợ tâm lý trên vào buổi sinh hoạt chung của chuyên đề thì học viên sẽ được định hướng thái độ, phẩm chất: tự tin hơn vào bản thân, biết cách ứng xử phù hợp với mọi hoàn cảnh, chăm chỉ, vượt khó hơn và có ý thức hoàn thiện bản thân mình hơn. Học viên được áp dụng các biện pháp tư vấn, hỗ trợ tâm lý sẽ rèn luyện kĩ năng, thái độ, cách ứng xử đúng chuẩn mực. Biết cách ứng dụng các biện pháp ấy cho chính bản thân, bạn bè, trong gia đình và những vấn đề ngoài cuộc sống. Qua đó đã tự tin và mạnh dạn trong đánh giá và trình bày quan điểm. Đặc biệt là học viên đã được bồi dưỡng thêm những kiến thức về tâm lý phù hợp với lứa tuổi, đã nhận ra và thấy được giá trị của bản thân trong mọi hoàn cảnh. Từ đó, học viên hành trang được cho mình nhiều kiến thức, kỹ năng ứng xử, tự tin hơn vào khả năng của bản thân. Qua đó, kết quả học tập của học viên đã được nâng cao, học viên tự tin hơn. Giúp bồi dưỡng và hoàn thiện các năng lực cần có cho các em như: năng lực tự học, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo, năng lực thẩm mĩ, năng lực giao tiếp, năng
- lực hợp tác, năng lực công nghệ thông tin và truyền thông. Đây đều là những năng lực rất cần thiết đối với các em. Khi đã nắm bắt được tâm lý và đưa ra được những biện pháp phù hợp cũng là khi mỗi giờ học ở trên lớp không khí lớp học trở nên sôi nổi, tích cực, tránh được những giờ học mà học sinh chán chường. Đặc biệt, những em được tư vấn và áp dụng các biện pháp tâm lý bản thân các em đã có rất nhiều tiến bộ trong học tập. 2. Hiệu quả kinh tế: Rút ngắn được thời gian trong giáo dục giữa gia đình với học viên, giữa gia đình với nhà trường. Qua các biện pháp về tư vấn, hỗ trợ tâm lý cho học viên có hoàn cảnh đặc biệt của khối trung tâm GDTX thì học viên đã có nhiều tiến bộ trong học tập, trong ứng xử, giao tiếp. Các em dễ hiểu và đồng cảm hơn với bạn bè. Chuyên đề của chúng tôi đã được tổ chức thực hiện trong buổi sinh chung của trung tâm. Thiết nghĩ, đây có thể trở thành nguồn tài liệu hữu ích để giáo viên các trung tâm có thể vận dụng linh hoạt ở đơn vị của mình. IV. Điều kiện và khả năng áp dụng 1. Điều kiện áp dụng a. Đối với giáo viên - Cần có kiến thức, tìm tòi, nghiên cứu, quan sát, theo dõi tình hình học viên. - Tích cực tham gia các buổi tập huấn những chuyên đề có liên quan đến tư vấn tâm lý, lứa tuổi của học viên. - Hiểu rõ đặc điểm và năng lực của học viên để linh hoạt áp dụng các biện pháp trên cho phù hợp cũng như khích lệ học viên phối hợp để đạt hiệu quả tốt nhất. - Chuẩn bị, lên kế hoạch tổ chức cho các buổi sinh hoạt, buổi ngoại khóa. Nghiên cứu các phương pháp phù hợp với từng đối tượng học viên. - Để thực hiện tốt hơn chuyên đề trên, trong quá trình công tác giảng dạy, công tác chủ nhiệm, công tác Đoàn giáo viên cần chú ý, theo dõi sát sao học viên, để có cái nhìn tổng thể toàn diện. Cần tìm hiểu nhiều kênh thông tin về hoàn cảnh của học viên. Từ đó, sẽ định hướng tốt tư vấn tâm lý cho các em. b. Đối với học viên - Cần có ý thức nghiêm túc và tinh thần cầu thị trong tiếp thu và thực hiện các biện pháp. - Mạnh dạn nói lên suy nghĩ, đánh giá và tự tin thể hiện cảm nhận của bản thân. - Chịu khó học hỏi, thay đổi bản thân theo hướng tích cực. c. Đối với trung tâm - Trang bị đầy đủ phương tiện cho các buổi sinh hoạt, buổi ngoại khóa như máy tính, máy chiếu, mạng internet. 2. Khả năng áp dụng Chúng tôi đã áp dụng linh hoạt và thành công ở các lớp của trung tâm từ khối 10 đến 12.
- Từ kết quả trong suốt 2 đến 3 năm học của các em tại Trung tâm đã cho thấy, các em học viên sau khi được chúng tôi áp dụng một số biện pháp tư vấn, hỗ trợ tâm lý thông qua chuyên đề “Chinh phục bản thân” các em đã có sự thay đổi trong thái độ, tình cảm, phẩm chất và năng lực như đã trình bày ở trên. Điều này được minh chứng bằng chính kết quả học tập của các em ở trên lớp. Bên cạnh đó còn là sự thay đổi trong thái độ học tập tích cực của các em ở trên lớp. Đặc biệt, với em học viên lớp 12, em đã tự tin, làm chủ được năng lực của bản thân, có nhiều tiến bộ trong học tập thành tích học tập khá tốt. Ngoài ra sáng kiến có thể áp dụng cho tất cả học viên trung học cơ sở, trung học phổ thông ở tất cả các khối lớp. V. Kết luận: Tư vấn, hỗ trợ tâm lý cho học viên có hoàn cảnh đặc biệt của khối trung tâm GDTX là một việc làm rất cấp thiết và quan trọng đối với các trung tâm. Bên cạnh đó, việc áp dụng thành công các biện pháp tư vấn hỗ trợ tâm lý đối với học viên sẽ giúp ích hiệu quả rất nhiều cho các em trong quá trình học tập cũng như trong cuộc sống của các em sau này. Vì vậy, trong sáng kiến kinh nghiệm này chúng tôi đã mạnh dạn trình bày các biện pháp mà mình đã áp dụng nhằm mục đích bồi dưỡng năng lực, tư tưởng, tình cảm, thái độ, kỹ năng sống cho học viên. Danh sách những người đã áp dụng sáng kiến lần đầu: Nội dung Năm Chức Trình độ TT Họ và tên Nơi công tác công việc hỗ sinh danh CM trợ TT GDTX, TH&NN Áp dụng SK 1 Đinh Thị Hương 1990 Giáo viên Thạc sĩ lần đầu TT GDTX, TH&NN Trưởng Áp dụng SK 2 Lê Thị Doanh 1984 Cử nhân phòng lần đầu TT GDTX, TH&NN Áp dụng SK 3 Nguyễn Thị Hảo 1985 Giáo viên Cử nhân lần đầu 4 Nguyễn Thị 1980 TT GDTX, TH&NN Giáo viên Cử nhân Áp dụng SK Hồng Lan lần đầu 5 Lưu Kim Luyện 1981 TT GDTX, TH&NN Giáo viên Cử nhân Áp dụng SK lần đầu 6 Nguyễn Diệu 1986 Trung tâm GDTX – Giáo viên Thạc sĩ Áp dụng SK Hạnh GDNN huyện Yên lần đầu Khánh 7 Lê Hồng Hiển 1989 Trung tâm GDTX – Giáo viên Thạc sĩ Áp dụng SK GDNN huyện Yên lần đầu Khánh 8 Phan Thị Ánh 1990 Trung tâm GDTX – Giáo viên Cử nhân Áp dụng SK Tuyết GDNN huyện Kim Sơn lần đầu
- Chúng tôi xin cam đoan mọi thông tin nêu trong đơn là trung thực, đúng sự thật và hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật. Ninh Bình, ngày 10 tháng 5 năm 2022 XÁC NHẬN CỦA LÃNH ĐẠO Người nộp đơn ĐƠN VỊ CƠ SỞ (Ký và ghi rõ họ tên) Giám đốc Tạ Văn Hải Lê Thị Bình Đinh Thị Hương Nguyễn Thị Hảo Lưu Kim Luyện
- SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐỀ TÀI: “BIỆN PHÁP RÈN LUYỆN VÀ GIÁO DỤC HỌC SINH CÁ BIỆT” PHẦN MỘT - PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài: Bất kì trong xã hội nào, nghề giáo cũng luôn được đề cao và quí trọng. Đặc biệt là trong chế độ XHCN, nghề giáo lại càng được tôn vinh và được xem là một nghề cao quí trong các nghề cao quí khác. Cái nghề “truyền chữ”, “trồng người” này lại không đơn giản, nhất là ở lứa tuổi của các em học sinh mới chập chững làm quen với mái trường, thầy cô, bạn bè đó là học sinh bậc tiểu học. Đây là là lứa tuổi rất nhạy cảm và rất quan trọng để các em định hướng trưởng thành sau này. Chính vì thế Bác Hồ đã nói “.. Một năm bắt đầu từ mùa xuân, một đời bắt đầu từ tuổi trẻ ” . Vì vậy nếu không giáo dục, không uốn nắn các em ngay từ đầu thì rất dễ để cho các em không nắm vững kiến thức, không làm chủ được bản thân và cũng sẽ khó trở thành người có tài, có đức phục vụ cho đất nước sau này. Đối tượng học sinh cấp tiểu học ở những độ tuổi khác nhau cũng có nhiều dạng khác nhau: có nhiều em rất ngoan, hiền và biết vâng lời thầy cô giáo. Nhưng cũng có một số em thì ngang bướng, ngổ nghịch Trong đối tượng học sinh này có một dạng gọi là “học sinh cá biệt”. Đó là loại học sinh luôn tạo ra nhiều sự phiền hà và bận rộn hơn cho giáo viên. Để đưa các em học sinh loại cá biệt này vào khuôn khổ không phải giáo viên nào cũng thành công trong việc giáo dục và giảng dạy. Chính vì lẽ đó, nên tôi chọn đề tài “ Phương pháp giáo dục học sinh cá biệt” này để làm sáng kiến- kinh nghiệm cho bản thân cũng như cho các đồng nghiệp. 2. Mục đích nghiên cứu : Giúp cho các em học sinh nắm vững các kiến thức cơ bản ở bậc tiểu học nói chung và kiến thức lớp 5 nói riêng. Đồng thời qua đó giáo dục, uốn nắn, bồi dưỡng, giáo dục các em từ những học sinh cá biệt, quậy phá, lười học trở thành người có ích cho xã hội sau này. Xác định các nguyên nhân chính đã dẫn đến một số em có hành vi chưa đúng, chưa có động cơ học tập, có đạo đức phẩm chất chưa tốt . Qua đó, giúp cho các em định hướng được ý nghĩa của cuộc sống, định hướng được hành vi và có động cơ học tập tốt hơn. 1. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu: a. Đối tượng nghiên cứu: Các em học sinh thuộc dạng cá biệt trong lớp, có hành vi xấu, hay gây gỗ, chửi thề, nói tục, ý thức học tập không có, kết quả học tập yếu kém, lười học tập và không biết vâng lời thầy cố, bố, mẹ .
- b. Phạm vi nghiên cứu: - Tập trung nghiên cứu một số học sinh lớp 5A ở Trường Tiểu học Lê Quý Đôn có hành vi đạo đức chưa tốt, kết quả học tập yếu kém, hay gây gổ. - Tìm hiểu gia cảnh của từng em học sinh cá biệt trong lớp, cùng gia đình theo dõi, nhắc nhở, giáo dục và tạo các điều kiện tốt nhất để các em học sinh đó tham gia học tập và các phong trào do nhà trường tổ chức. 2. Nhiệm vụ nghiên cứu: Nắm được thực trạng của một số học sinh cá biệt lớp 5A Trường TH Lê Quý Đôn, từ đó có phương pháp giáo dục, rèn luyện để tạo cơ hội cho các học sinh ấy tiến bộ hơn, học tập tốt hơn và trở thành học sinh có giáo dục, có trình độ, có phẩm chất đạo đức tốt. 3. Phương pháp nghiên cứu: - Quan tâm, tìm hiểu nguyên nhân và lí do chính để trả lời cho câu hỏi : Vì sao các em học sinh đó trở thành học sinh cá biệt ? - Quan sát, theo dõi quá trình học tập và hoạt động của các em học sinh cá biệt trong lớp. ( trước, trong và sau áp dụng các biện pháp giáo dục) - Trao đổi trực tiếp với gia đình, phụ huynh của các em học sinh thuộc dạng cá biệt trong lớp 5A, đề xuất những biện pháp áp dụng cho từng em học sinh. Tùy điều kiện thực tế mà xây dựng các phương án khác nhau để thực hiện 4. Nội dung của đề tài: Liệt kê và xác định trong lớp có bao nhiêu học sinh cá biệt, phân loại từng em thuộc dạng cá biệt nào như : học yếu kém, có đạo đức không tốt, hay gây gổ với bạn bè, cứng đầu Gồm 3 chương : - Chương I : Cơ sở lý luận liên quan - Chương II: Thực trạng của đề tài nghiên cứu - Chương III : Biện pháp, giải pháp chủ yếu để thực hiện đề tài PHẦN HAI NỘI DUNG CỦA ĐỀ TÀI Chương I : Cơ sở lý luận liên quan 1.Cơ sở lý luận :
- Bất cứ một ai khi đã chọn ngành nghề cho mình thì đều xác định cái đích mình cần đạt đến. Cái đích đó tưởng như rất gần, rất dễ thực hiện, nhưng trong thực tiễn không phải như vậy, mà nhiều khi để đạt được phải đổ nhiều mồ hôi, nước mắt và thậm chí cả tính mạng để đạt được nó. Cũng như mọi ngành nghề khác, nghề dạy học (hay thường gọi là ngành giáo) nhất là giáo viên dạy bậc tiểu học cũng không tránh khỏi những vấn đề nan giải ấy. Khi đã chọn cho mình cái nghề này, nó sẽ gắn bó với mình suốt cả cuộc đời, người giáo viên sẽ sẵn sàng đón nhận bất cứ đối tượng học sinh nào để dạy dỗ cho các em trở thành người có đức, có tài. Học sinh tiểu học ở lứa từ 10 đến 11 tuổi, các em rất nghịch, hiếu động, chưa làm chủ được bản thân, chưa nhận thức được điều gì là đúng và điều gì là sai, hay bắt chước và chịu tác động của mọi việc xảy ra xung quan mình. Chính vì thế, nếu môi trường tác động tốt thì các em sẽ có những hành vi và đạo đức tốt, còn ngược lại thì sẽ rất tồi tệ, có thể các em sẽ hư hỏng, dối trá, mất tư cách, đạo đức kém . Tuy nhiên ở lứa tuổi này, các em cũng rất thích được tán dương, khen ngợi. Vì vậy chúng ta cần những giải pháp thích hợp để giáo dục và định hướng đúng đắn cho các em học sinh trong các hoạt động giáo dục, học tập và vui chơi lành mạnh, phù hợp với lứa tuổi của các em. Chúng ta không thể áp dụng cách thức giáo dục cho lớp mẫu giáo vào bậc tiểu học, cũng không thể áp dụng cách thức giáo dục cho bậc trung học vào học sinh tiểu học. Có như vậy, chúng ta mới giáo dục học sinh ở bậc tiểu học phát triển một cách đúng nhất về nhân cách cũng như nhận thức của lứa tuổi mình, đặc biệt là các học sinh dạng cá biệt. Với học sinh dạng cá biệt, cần có những biện pháp riêng, phù hợp với hoàn cảnh của từng em, mà từ đó mới hướng các em đi vào nề nếp. Muốn làm điều đó giáo viên cần phải có những hiểu biết nhất định về từng hoàn cảnh, từng nguyên nhân tạo nên những học sinh cá biệt đó và từ đó xây dựng các biện pháp riêng cụ thể áp dụng cho từng em học sinh cá biệt 2./- Cơ sở thực tiễn: Trong quá trình giảng dạy và làm công tác chủ nhiệm, bản thân cũng thường xuyên gặp những đối tượng học sinh cá biệt này. Nếu không có biện pháp giáo dục hữu hiệu, các học sinh đó thường bỏ học giữa chừng hoặc có những biểu hiện chống lại thầy cô hoặc không nắm được kiến thức căn bản . Để khắc phục được vấn đề này cần chú ý 2 vấn đề sau : * Vấn đề thứ nhất : Phải xác định được vị trí và mối quan hệ giữa giáo viên với học sinh trong quá trình dạy và học. Phải xem học sinh là trung tâm của vấn đề, trong hoạt động dạy và học, bao giờ cũng nên xem việc giảng dạy và giáo dục chỉ là tác nhân, còn học sinh xuất hiện với tư cách là chủ thể được giáo dục. Chúng hoàn toàn chủ động trong mọi công việc từ nhận thức tư duy, đến thái độ và hành vi ứng xử của chúng. Giáo viên chỉ là người cố vấn, định
- hướng, dẫn dắt, chỉ bảo, nhắc nhở, động viên cho các em có được những nhận tức, tư duy và hành vi ứng xử một cách đúng đắn, lễ phép. * Vấn đề thứ 2 : sự tác động của gia đình và xã hội với học sinh lứa tuổi bậc tiểu học : Tục ngữ có câu “ Cha nào con nấy ..”, đó là dấu ấn của tuổi thơ với hành vi ứng xử của cha, mẹ, nề nếp và gia phong của từng gia đình, đã tác động và ảnh hưởng đến nhân cách của học sinh ở lứa tuổi này. Vì vậy tác động của người xung quanh, nhất là những người thường xuyên gần gũi chúng rất là quan trọng. Tuy nhiên, nhân cách của học sinh bậc tiểu học cũng chịu sự tác động rất lớn của xã hội. Nếu như chúng bị lôi kéo bởi nhóm thanh niên hư hỏng khác, thì nhất định nhân cách của chúng cũng bị ảnh hưởng. Nếu như chúng có môi trường vui chơi, giải trí lành mạnh, được tiếp cận với những thông tin hữu ích thì chúng sẽ trở thành người có nhân phẩm tốt. Chương II: Thực trạng của đề tài nguyên cứu 1. Khái quát phạm vi: - Học sinh cá biệt lớp 5A Trường TH Lê Quý Đôn, Năm học : 2012 -2013 - Tổng số học sinh cả lớp là 29 em. 2.Thực trạng: Qua thống kê và theo dõi trong lớp hiện nay có một số em học sinh thuộc dạng cá biệt và thuộc các dạng cá biệt như sau : a/- Dạng cá biệt về học tập : Đây là những học sinh lười học tập, không chịu lắng nghe giảng bài, thường vắng học và có kết quả học tập yếu, kém. Kết quả khảo sát đầu năm gồm 15 em chiếm tỉ lệ là trên 51,7 %. Đa số các em không đọc thông viết thạo, chưa thực hiện được các phép tính cơ bản Trong số đó có 7 em thuộc dạng cá biệt về học tập được theo dõi và chi tiết như sau : STT Họ và tên Ghi chú 1 Hoàng Văn Bắc Tính toán chậm, không chính xác, yếu môn toán 2 Lộc Văn Toàn Đọc chậm, viết sai chính tả, không biết thực hiện phép tính 3 Hoàng Văn Quốc Chưa viết được câu hoàn chỉnh, sai chính tả, tính toán rất chậm 4 Trần Văn Cương Không biết tính toán, viết chậm không đúng chính tả, đọc chậm

