Đơn công nhận Sáng kiến Một số biện pháp nhằm giúp học sinh Lớp 1 đọc tốt
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Đơn công nhận Sáng kiến Một số biện pháp nhằm giúp học sinh Lớp 1 đọc tốt", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
don_cong_nhan_sang_kien_mot_so_bien_phap_nham_giup_hoc_sinh.doc
Nội dung tài liệu: Đơn công nhận Sáng kiến Một số biện pháp nhằm giúp học sinh Lớp 1 đọc tốt
- 3 CƠ QUAN CHỦ QUẢN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc Hà Nội, ngày 8 tháng 4 năm 2023 BÁO CÁO TÓM TẮT Sáng kiến kinh nghiệm, sáng kiến cải tiến kỹ thuật, giải pháp công tác, giải pháp kỹ thuật, giải pháp quản lý, giải pháp tác nghiệp, giải pháp ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, đề tài nghiên cứu, áp dụng công nghệ mới đạt tiêu chuẩn để xét các danh hiệu thi đua cấp Thành phố và cấp Nhà nước I. Sơ lược lý lịch: - Họ và tên: Nguyễn Thị Thanh Hương - Ngày, tháng, năm sinh: 16 - 06- 1972 - Nguyên quán: Trạch Mỹ Lộc – Phúc Thọ - Hà Nội - Trú quán: Đức Thịnh - Tản Lĩnh - Ba Vì - Hà Nội - Dân tộc: Kinh - Nơi công tác: Trường Tiểu học Tản Lĩnh - Chức vụ hiện nay: Giáo viên dạy lớp 1a4 - Trình độ đào tạo: Đại học - Chuyên ngành: Tiểu học - Ngày vào ngành iáo dục đào tạo: 30 – 8- 1991 - Số năm trực tiếp giảng dạy: 32năm - Đảng viên, đoàn viên: Đảng viên II. Sáng kiến kinh nghiệm, cải tiến kỹ thuật, giải pháp công tác, đề tài nghiên cứu khoa học. 1. Tên, lĩnh vực thực hiện sáng kiến đề nghị xem xét: Một số biện pháp nhằm giúp học sinh lớp 1 đọc tốt 2. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Giáo dục – Đào tạo 3. Các thành viên tham gia nghiên cứu sáng kiến: Cá nhân 4. Thời gian thực hiện: Năm học 2022 - 2023 5. Giấy chứng nhận hoặc Quyết định công nhận sáng kiến cơ sở: bản photo gửi kèm hồ sơ 6. Mô tả sáng kiến: - Mục đích của giải pháp (nêu vấn đề cần giải quyết): Tạo hứng thú học tập cho học sinh, giúp các em nhớ được các âm, vần, tiếng từ Tiếng Việt để nâng cao khả năng đọc, tư duy sáng tạo; góp phần bổ sung bổ sung vào phương pháp dạy học môn Tiếng Việt ở trường tiểu học. - Nội dung giải pháp (chỉ ra tính mới, sự khác biệt của giải pháp mới so với giải pháp cũ; nêu cách thức thực hiện, các bước thực hiện của giải pháp mới một cách cụ thể, rõ ràng; các điều kiện cần thiết để áp dụng giải pháp): Sáng
- 4 kiến đưa ra các biện pháp cụ thể, tường minh giúp học sinh nắm được các âm, vần, tiếng, từ Tiếng Việt từ đó có thể ghi nhớ, khắc sâu kiến thức. Đồng thời cũng phát huy vận dụng vào đọc, viết tốt thể hiện được sự sáng tạo, tinh thần tự học, nuôi dưỡng những hứng thú, đam mê... qua học Tiếng Việt. - Khả năng áp dụng, phổ biến rộng rãi của giải pháp (nêu rõ cụ thể khả năng áp dụng, phổ biến rộng rãi của giải pháp cho các đối tượng, tổ chức nào): Sáng kiến áp dụng dạy môn Tiếng Việt lớp 1 và các môn học khác. 7. Địa chỉ áp dụng sáng kiến khối 1 trường Tiểu học Tản Lĩnh 8. Thời gian bắt đầu áp dụng sáng kiến: 7/9/2023 9. Hiệu quả kinh tế, xã hội mà giải pháp mang lại: - Nếu thực hiện tốt sáng kiến sẽ giúp cho học sinh hứng thú, tích cực học môn Tiếng Việt, đồng thời phát triển năng lực, phẩm chất cho học sinh. - Các biện pháp, giải pháp của đề tài có tính hiệu quả cao, dễ áp dụng, phù với nhiều đối tượng do đó góp phần quan trọng vào thúc đẩy và không ngừng nâng cao chất lượng giảng dạy của môn Tiếng Việt. Thủ trưởng đơn vị xác nhận Người báo cáo Nguyễn Thị Thanh Hương
- 5 SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HÀ NỘI PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HUYỆN BA VÌ ĐƠN VỊ TRƯỜNG TIỂU HỌC TẢN LĨNH TÊN SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM MỘT SỐ BIỆN PHÁP NHẰM GIÚP HỌC SINH LỚP 1 ĐỌC TỐT Lĩnh vực/ Môn: Tiếng Việt Cấp học: Tiểu học Tên Tác giả: Nguyễn Thị Thanh Hương Đơn vị công tác:Trường Tiểu học Tản Lĩnh Chức vụ: Giáo viên NĂM HỌC: 2022 – 2023
- 6 PHẦN THỨ NHẤT: ĐẶT VẤN ĐỀ I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI Đổi mới phương pháp dạy học là đưa cái mới vào Giáo dục - Đào tạo để tạo ra sự phát triển mới, phối hợp hài hòa giữa truyền thống và hiện đại nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển của giáo dục. Phương pháp dạy học ở Tiểu học được coi là vấn đề cốt lõi, là một trong những yếu tố quan trọng quyết định chất lượng giáo dục cấp Tiểu học hiện nay. Giáo viên là người hướng dẫn gợi mở, tổ chức, cố vấn, trọng tài cho các hoạt động tìm tòi, tranh luận, khám phá của học sinh. Vậy làm thế nào đế các em đọc tốt, hiểu được nghĩa các từ ngữ trong bài một cách dễ dàng nhất và yêu thích mỗi khi đến giờ Tiếng Việt? Là một giáo viên tiểu học có 32 năm liên tục là lao động tiên tiến, giáo viên giỏi các cấp, trước thực trạng của việc dạy – học môn Tiếng Việt khiến tôi luôn trăn trở suy nghĩ: Làm thế nào để các em đọc tốt, mở mang được vốn từ, gây nhiều hứng thú cho việc học: “Âm - Vần – Tập đọc ” tôi đã chọn đề tài: “ Một số biện pháp nhằm giúp học sinh lớp 1 đọc tốt ” II. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 1. Mục đích: Góp phần đổi mới phương pháp dạy học môn Tiếng Việt ở Tiểu học, phát triển năng lực chung, năng lực đặc thù môn học và phẩm chất của học sinh, tăng cường hoạt động cá thể, hợp tác làm việc nhóm, giao lưu học tập. Hình thành và rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn. 2. Nhiệm vụ: Lựa chọn những phương pháp dạy học hiệu quả nhất phù hợp với khả năng nhận thức của học sinh, tạo cho học sinh hứng thú , nâng cao chất lượng dạy và học phân môn Học vần, đọc tốt và tìm hiểu nghĩa của từ nói riêng. III. PHẠM VI NGHIÊN CỨU Khối 1 và chủ đạo là 33 HS lớp 1A4 IV. THỜI GIAN THỰC HIỆN ĐỀ TÀI Từ tháng 9 năm 2022 đến tháng 3 năm 2023. + Tháng 9: Đăng kí đề tài. +Tháng 10 tháng 3: Áp dụng các biện pháp để giải quyết những vướng mắc và thực trạng + Tháng 4: Đánh giá kết quả thực hiện đề tài V.TÍNH KHẢ THI Các biện pháp trong sáng kiến kinh nghiệm của tôi có khả năng áp rộng rãi đối với các đồng chí giáo viên trong trường. Ngoài ra nó có khả năng nhân rộng và áp dụng sang một số môn học khác. VI. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1. Nghiên cứu sách giáo khoa, tham khảo tài liệu. 2. Chuẩn bị của giáo viên và hướng dẫn sự chuẩn bị của học sinh. 3. Thay đổi hình thức giới thiệu âm (vần) mới, tiếng mới, từ mới. 4. Rèn đọc đúng.
- 7 5.Tự làm đồ dùng dạy học. 6. Ứng dụng công nghệ thông tin vào giới thiệu âm (vần) mới. PHẦN THỨ HAI: NHỮNG BIỆN PHÁP ĐỔI MỚI ĐỂ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ CHƯƠNG I: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA CÁC BIỆN PHÁP 1. Cơ sở lí luận: Đối với học sinh lớp 1 là một bước ngoặc quan trọng trong đời sống của trẻ . Từ đây hoạt động chủ đạo của trẻ là học tập, hoạt động vui chơi ở giai đoạn mẫu giáo đã chuyển sang một giai đoạn mới là học tập. Các em trở thành những “cậu học sinh” những ‘cô học sinh” , có một địa vị trong gia đình và ngoài xã hội . Tuy vậy , ở giai đoạn đầu lớp 1 ( học âm – chữ , vần ) những hoạt động có ý thức này còn mới mẻ. Chẳng hạn đến lớp các em phải thuộc bài , ngồi ngay ngắn , phải kiểm tra bài , phải thực hiện đúng yêu cầu của giáo viên hơn nữa trong nhận thức của các em địa vị của người giáo viên lớp 1 cũng khác với cô giáo mẫu giáo . Giáo viên có chỗ ngồi riêng , có cách nói riêng , có sự đánh giá nhận xét. Những điều này làm cho một số em trong giờ Tiếng Việt thường rụt rè , không dám đọc to, đọc lạc cả giọng . Làm ảnh hưởng đến hiệu quả giờ học. Dạy Tiếng Việt nhằm tạo kỹ năng và thói quen không thể có được nếu không lặp đi lặp lại các hành động cần thiết. Do đó , trong quá trình dạy đọc âm, vần, từ giáo viên cần cho học sinh đọc nhiều, viết nhiều. Đồng thời phải luôn thay đổi nội dung hình thức đọc nếu không việc học sẽ nhàm chán, hiệu quả học Tiếng Việt sẽ hạn chế. 2.Cơ sở thực tiễn: Qua quá trình giảng dạy Tiếng Việt ở lớp 1 tôi nhận thấy vị trí và nhiệm vụ của phân môn học vần là rất quan trọng nó trang bị cho học sinh những tri thức và kĩ năng có tính chất công cụ mở đầu cho việc học Tiếng Việt một cách có hệ thống , nề nếp để tiếp tục học lên các lớp trên hay vận dụng vào thực tế cuộc sống rộng rãi. Góp phần thiết thực vào việc hình thành phương pháp suy nghĩ, phương pháp làm việc học tập chủ động , khoa học tích cực cho học sinh. Góp phần làm cho học sinh thành những con người có nhân cách, phát triển toàn diện như: hình thành rèn luyện nề nếp phong cách và tác phong làm việc khoa học giáo dục ý chí và những đức tính tốt. Với vị trí quan trọng nêu trên để góp phần vào việc thực hiện mục tiêu đào tạo ở lớp 1 tôi mạnh dạn đưa ra một số biện pháp giúp học sinh học tốt môn Tiếng việt. CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG TRƯỚC KHI THỰC HIỆN ĐỀ TÀI Trong giảng dạy bản thân gặp một số thuận lợi và khó khăn như sau:
- 8 I. Thuận lợi: Trường Tiểu học Tản Lĩnh là một trường vốn có bề dày truyền thống hiếu học. Trường có đội ngũ cán bộ năng động, sáng tạo, nhiệt tình, dám nghĩ dám làm hết lòng tận tuỵ với công việc, với sự nghiệp “ Trăm năm trồng người” mà Đảng và nhà nước giao cho. Trường có đội ngũ giáo viên yêu nghề mến trẻ, hết lòng vì học sinh thân yêu. Trường đã nhiều năm liền đạt danh hiệu là trường Tiên tiến xuất sắc, có nhiều thành tích đáng kể về mọi mặt. - Nhà trường đã đầu tư cơ sở vật chất: ánh sáng ( số lượng bóng điện đủ để chiếu sáng ) trong phòng học, ti vi thông minh, bảng kéo, - Học sinh lớp1 mới đi học nên các em rất thích đến trường để học. - Đa số các phụ huynh có con em học lớp 1, là năm đầu cấp nên đều quan tâm đến việc học tập của con em mình. Các em có đầy đủ sách vở, đồ dùng học tập theo yêu cầu của giáo viên. II. KHÓ KHĂN: 1/ Về phía giáo viên: - Một số ít giáo viên chưa hiểu rõ bản chất của các nguyên tắc và phương pháp dạy học phân môn Tiếng Việt. - Một số giáo viên chưa hiểu rõ được vai trò, tác dụng của một số phương tiện trực quan trong giờ Tiếng Việt. - Một số giáo viên chưa có sự kết hợp đồng bộ với các môn học khác như: Học vần, Tập đọc để giúp học sinh hiểu từ, đọc đúng, đọc diễn cảm, đọc hiểu. 2/ Về phía học sinh: - Các em vừa bước vào đầu cấp , lứa tuổi còn quen với việc tự do vui chơi, chưa đi vào nề nếp học tập một cách có ý thức. - Đa số học sinh vùng nông thôn, phương tiện đi lại còn gặp nhiều khó khăn, có 3 em thuộc gia đình hộ nghèo thường xuyên phải đi làm ăn xa, việc quan tâm của cha mẹ học sinh đôi lúc vẫn còn hạn chế, từ đó phần nào cũng ảnh hưởng đến chất lượng học tập của học sinh. - Một số học sinh học trước quên sau, không nhớ hết âm, không biết ghép âm vần thành tiếng, chưa biết đánh vần để đọc thành tiếng. 3/ Về phía phụ huynh học sinh: - Có nhiều phụ huynh chưa đôn đốc nhắc nhở, còn thờ ơ với việc học tập của các em. - Một bộ phận phụ huynh chưa quan tâm đến công tác phối hợp, giúp đỡ cho các em biết tự lực trong việc học tập ở trên lớp cũng như ở nhà. III. SỐ LIỆU KHẢO SÁT: Năm học 2022- 2023, tôi được nhà trường phân công chủ nhiệm và giảng dạy các môn học ở lớp 1a4. Tôi đưa ra 1 bài khảo sát như sau: * Đề bài: Đề 1: Đọc bài 11: b – bễ Đáp án: Yêu cầu: + Đọc đúng âm, từ, bài tập đọc.
- 9 + Đọc đúng tốc độ. + Đọc không ngọng. Đề 2: Đọc bài 12: g - h Đáp án: Yêu cầu: + Đọc đúng âm, từ, bài tập đọc. + Đọc đúng tốc độ. + Đọc không ngọng. Qua khảo sát, kết quả của lớp tôi đạt được như sau: Sĩ số: 33 học sinh Môn: Học vần Số lượng Tỷ lệ + Đọc đúng. 7 21,2% + Đúng nhưng chưa nhanh. 6 18,8% + Đọc còn chậm. 10 30,0% + Đọc còn đánh vần 10 30,0% + Đọc không ngọng. 21 65,7% + Đọc còn ngọng. 12 34,3% Với những thực trạng của việc dạy môn học vần vừa nêu trên cho chúng ta thấy rõ đó chính là nguyên nhân rất cơ bản dẫn đến chất lượng bài học chưa cao, chưa đáp ứng được mục tiêu mà bài học đã đề ra. Từ đó, dựa vào nhiệm vụ, yêu cầu của môn học và thực tế của lớp tôi đã tìm tòi, suy nghĩ lựa chọn phương pháp dạy phù hợp, giúp các em tìm hiểu nghĩa từ và đọc tốt hơn trong các giờ học Tiếng Việt CHƯƠNG III. CÁC BIỆN PHÁP THỰC HIỆN 1. Nghiên cứu sách giáo khoa, tham khảo tài liệu. a) Nghiên cứu chương trình sách giáo khoa. Trước hết tôi nghiên cứu sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 1, sách giáo viên, bộ tranh ảnh của phân môn Học vần và các bộ môn khác để hiểu rõ nội dung chương trình, nội dung kiến thức cần truyền đạt cho học sinh, các đồ dùng dạy học phục vụ cho tiết học. Cụ thể: ➢ Dạng thứ nhất: Dạng bài học Âm (gồm 23 bài) ➢ Dạng thứ hai: Dạng bài học Vần (gồm 65 bài) Việc lập ra thống kê trên giúp tôi có rất nhiều thuận lợi trong việc chuẩn bị kế hoạch giảng dạy, chuẩn bị đồ dùng dạy học, soạn được hệ thống câu hỏi kết hợp với đồ dùng dạy học để giúp học sinh đọc tốt, nắm được cách đọc, nắm được cấu tạo âm, vần, tiếng, từ, giúp học sinh hiểu rõ nghĩa từ b) Tham khảo tài liệu: Qua thực tế giảng dạy phân môn Học vần , tôi nhận thấy việc tham khảo tài liệu là rất bổ ích và thiết thực. Vì vậy mỗi giáo viên Tiểu học cần có ý thức sưu tầm thêm các tài liệu như tranh, ảnh, các đoạn phim phục vụ cho việc đọc tốt, giải nghĩa của từ như tìm tài liệu ở các môn khác, sách, báo, từ điển Qua quá trình sưu tầm và đọc tôi đã nắm được các khái niệm cơ bản để từ đó xây dựng được các biện pháp giúp học sinh đọc tốt cũng như cách sử dụng đồ dùng dạy học giúp học sinh nắm chắc bài học một cách dễ dàng.
- 10 Khi dạy dạng bài Học vần, một trong những yêu cầu của dạng bài này là thông qua tranh ảnh để hiểu được nghĩa của từ. Từ đó học sinh ghi nhớ sâu sắc về bài học, hiểu các từ được học. Học sinh thực sự tỏ ra rất thích thú khi được học với phương pháp mới này. Ví dụ: Để giải nghĩa từ: bia ( đá), ( con) kì đà, phố cổ, tháp rùa, bếp lửa, gió xoáy tôi ghi hình và sưu tầm lại, bằng kĩ thuật cắt và nối phim trên Powerpoint, tôi đã có những tư liệu và băng hình có giá trị, phù hợp với khả năng nhận thức của học sinh Tiểu học. Học sinh có thể trình bày được nghĩa của từ một cách dễ dàng. Học sinh sẽ thích học, giờ học tự nhiên và có hiệu quả cao. Kết quả:Với việc nghiên cứu và tham khảo tài liệu đã giúp tôi chuẩn bị được kế hoạch dạy học cho từng bài cụ thể sao cho có hiệu quả nhất. 2. Chuẩn bị của giáo viên và hướng dẫn sự chuẩn bị của học sinh. a) Chuẩn bị của giáo viên: Để tiết dạy đạt hiệu quả cao, tôi cần nắm vững mục tiêu bài dạy và các đồ dùng dạy học phù hợp với từng bài. Trước khi dạy việc đầu tiên tôi cần phải làm đó là đọc thật kĩ bài. Từ đó tôi chuẩn bị đồ dùng trực quan: Ví dụ: Bài 53 : “ uôm ” trang 98. Tôi chuẩn bị chiếc thuyền buồm thật để học sinh quan sát rõ và các em được nhìn thấy cánh buồm, được chạm tay, được hiểu tác dụng của cánh buồm khi thuyền ra khơi. Từ đó giúp các em hứng thú, và ham thích tìm hiểu cuộc sống xung quanh hơn. Ví dụ: Để giải nghĩa từ: lò rèn (Bài 60), bến xe (Bài 61), ( Đảo) Nam Yết (Bài 66), ném còn (Bài 67), nứt nẻ (Bài 72), trong sách Tiếng Việt tập 1, tập 1 . Tôi đã sưu tầm trên internet những đoạn phim, đoạn clip về ngày hội, hải cảng, nhà rông, thác nước, gió xoáy khi xem xong học sinh có thể giải được nghĩa của từ một cách dễ dàng.
- 11 b) Hướng dẫn sự chuẩn bị của học sinh. Đối với học sinh lớp 1 thì việc chuẩn bị bài là hoàn toàn mới đối với các em. Cho nên ngay từ đầu năm học, tôi rất coi trọng việc chuẩn bị bài cho các tiết học. Đặc biệt môn Tiếng Việt học sinh cần có: - Yêu cầu học sinh có đầy đủ sách giáo khoa Tiếng Việt 1. - Có đầy đủ bộ chữ Học vần thực hành. Bước 1: Học sinh về quan sát kênh hình (nếu có) trong SGK trước. Bước này giúp cho học sinh tiếp cận với nghĩa của từ trong bài.
- 12 Bước 2: Tự khai thác kiến thức theo hướng dẫn của giáo viên như về hỏi mọi người, tự chuẩn bị, sưu tầm tranh ảnh, để chuẩn bị cho việc học các kiến thức bài học mới. Bước 3: Giáo viên đưa ra những câu hỏi gợi mở hoặc những câu hỏi cần giải đáp của học sinh, những vấn đề chưa hiểu rõ Ví dụ: Khi dạy từ “ Duyệt binh” bài 125, trong SGK Tiếng Việt 1-Tập 2 Giáo viên hỏi: Trong ngày Quốc khánh nước ta, con thấy các chú bộ đội làm gì trước lăng Bác? Học sinh trả lời: Các chú bộ đội đi duyệt binh. Học sinh hỏi câu hỏi đã chuẩn bị: Con cảm nhận được gì khi xem các chú đi duyệt binh? Từ đó giáo viên giáo dục lòng yêu nước, niềm tự hào về Quân đội nhân dân Việt Nam
- 13 Ví dụ: Dạy từ “ Dòng suối ” bài 103 - SGK Tiếng Việt 1 - Tập 2 + Học sinh nêu câu hỏi: Suối thường có ở nơi nào? Những câu hỏi đưa ra trong giờ học, kết hợp với đồ dùng học tập, các em học sinh rất chú ý lắng nghe . Khi được thảo luận, được giải thích các em lắng nghe sẽ hiểu rõ và ghi nhớ lâu hơn. Kết quả: Nhờ có chuẩn bị tốt cả của giáo viên và học sinh giúp tôi và học sinh đều tự tin bước vào tiết học. Học sinh biết cách chuẩn bị bài, chuẩn bị đồ dùng học tập, việc làm này đã phát huy trí lực cả 3 đối tượng học sinh. Tuy vậy, để làm tốt các yêu cầu trên không phải dễ dàng thực hiện ngay được. Nhưng với mức yêu cầu từ thấp đến cao, qua nhiều lần, qua nhiều tiết học, học sinh sẽ cảm thấy thích thú tạo ý thức tự học, tự giác và các em thích thú với công việc sưu tầm, háo hức để đón chờ giờ học sau 3. Thay đổi hình thức giới thiệu âm (vần) mới, tiếng mới, từ mới. Qua nghiên cứu, tìm tòi tôi đã thiết kế một số cách giới thiệu âm(vần), tiếng, từ mới như sau: * Cách 1: Thi tìm nhanh âm mới: - GV đưa một số chữ cái lên bảng trong trong đó có chữ ghi âm mới. Sau đó yêu cầu học sinh đọc theo nhóm bàn, tìm âm chưa học, chỉ đúng âm mà giáo viên yêu cầu. VD : Giới thiệu âm đ: GV gắn các âm lên bảng

