Đơn công nhận Sáng kiến Một số biện pháp giáo dục hành vi ứng xử tích cực cho học sinh Tiểu học
Bạn đang xem tài liệu "Đơn công nhận Sáng kiến Một số biện pháp giáo dục hành vi ứng xử tích cực cho học sinh Tiểu học", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
don_cong_nhan_sang_kien_mot_so_bien_phap_giao_duc_hanh_vi_un.doc
Nội dung tài liệu: Đơn công nhận Sáng kiến Một số biện pháp giáo dục hành vi ứng xử tích cực cho học sinh Tiểu học
- Việc quan tâm đến giáo dục kĩ năng sống đã tác động đến nhận thức của các em, phần nào phát huy được tính tự giác, chủ động, độc lập khi học tập; mạnh dạn, tự tin hơn trong giao tiếp. Một số hạn chế, bất cập và nhược điểm của giải pháp cũ: + Về nội dung chương trình: Việc giáo dục hành vi ứng xử tích cực cho học sinh được thực hiện trong quá trình giảng dạy kĩ năng sống, nhìn chung còn nặng về lí thuyết, tính thực hành không cao nên mới chỉ tác động được đến nhận thức, chưa kiểm soát được đến hành vi trong thực tiễn. Phạm vi của nội dung giáo dục hẹp, chưa mang tính thực tiễn của từng địa phương. Do đó hạn chế sự sáng tạo của giáo viên và học sinh. + Sách giáo khoa: Cuốn “Bài tập thực hành kĩ năng sống” của nhà xuất bản Đại học Sư phạm, soạn thảo chung cho giáo viên và học sinh, mỗi khối từ 6 đến 8 chủ đề, mỗi chủ đề dạy trong 2 tiết, dạy 1 tiết/tuần nên việc giáo dục hành vi ứng xử tích cực không thường xuyên, liên tục. Bài tập chủ yếu là tình huống giả định, không tạo ấn tượng cho học sinh. + Giáo viên: Giáo viên tiểu học không được đào tạo kiến thức chuyên sâu về giáo dục kĩ năng sống. Bên cạnh đó, họ còn phải dạy nhiều môn học khác nên ít có thời gian đầu tư, nghiên cứu. Vì vậy, giáo viên thường phụ thuộc vào nội dung tài liệu mà ít quan tâm đến những tình huống xảy ra hàng ngày. + Phương pháp dạy học theo giải pháp cũ còn bộc lộ nhiều nhược điểm: Dạy học còn nặng về tính thuyết trình, hỏi đáp. Hành vi ứng xử tích cực chỉ hình thành khi người học được trải nghiệm qua các tình huống thực tế, khi tự làm việc chứ không chỉ nói về việc đó. Do đó dẫn đến tình trạng học sinh lúng túng trong xử lí tình huống hoặc ”nói đúng mà làm không đúng”. Hình thức dạy học trên tạo ra những giờ học “trật tự” một cách nặng nề, áp lực đối với học sinh. Chưa phát huy được tư duy sáng tạo; giáo viên lệ thuộc tài liệu có sẵn, học sinh học tập thụ động nên chưa tạo động lực cho học sinh thói quen rèn hành vi ứng xử tích cực. Việc dạy học theo hướng trên sẽ làm cho học sinh cảm thấy kĩ năng sống chỉ là “môn phụ” đơn thuần, những kĩ năng ứng xử trở nên xa vời, không thiết thực; không hấp dẫn và khó ghi nhớ. 3
- Có thể khẳng định: Những hạn chế, bất cập của chương trình, tài liệu và nhược điểm của giải pháp cũ đã hạn chế hiệu quả giáo dục kĩ năng sống nói chung và hành vi ứng xử tích cực nói riêng; học sinh chưa có nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng của việc rèn thói quen ứng xử tích cực; làm hạ thấp vị thế của kĩ năng sống và cơ bản chưa đáp ứng được mục tiêu của chương trình, nhất là trong tình hình đất nước hiện nay. b) Giải pháp mới * Mô hình hóa: GIẢI PHÁP 1 2 3 4 Nâng cao Kiểm soát Gần gũi, Rèn thói nhận thức để cảm xúc và đồng cảm và quen ứng xử hình thành không vội ứng xử tích cực thói quen suy vàng phán khoan dung, trong mọi nghĩ tích cực xét nhân ái tình huống Ghi Tăng Thay Hình Thường Làm Rèn Duy Vì sao Cần nhận, cường đổi thành xuyên thế cách trì và phải làm gì khích tổ cách suy rèn nào ứng phát kiềm để lệ và chức nhìn nghĩ luyện để xử huy chế kiềm khen các nhận thể thói gần khoan thái cảm chế ngợi hoạt tích hiện quen gũi và dung, độ xúc và cảm kịp động cực thái suy đồng nhân tích không xúc và thời ngoại về độ nghĩ cảm ái cực phán không hành khóa, mọi tích tích của xét phán vi rèn ý vấn cực cực học người xét ứng thức đề trong sinh khác người xử trách mọi khác tích nhiệm hoàn cực cảnh * Mô tả cụ thể: Giáo dục hành vi ứng xử tích cực cần tiến hành từ giáo dục nhận thức. Nhận thức đúng về hành vi ứng xử tích cực là cơ sở tạo ra sự đồng tình với chủ thể có hành vi ứng xử tích cực; phê phán, đấu tranh với những hành vi không 4
- phù hợp chuẩn mực, hình thành hứng thú tìm tòi, học hỏi; từ đó hình thành tính tự giác rèn luyện thói quen hành vi ứng xử tích cực cho bản thân. Giáo dục hành vi ứng xử tích cực giúp học sinh giải quyết tốt những tình huống và có lựa chọn lành mạnh, khuyến khích sự tiến bộ trong học tập và trong cuộc sống. Song song với giảng dạy các môn học chính khóa, việc giáo dục hành vi ứng xử tích cực cho học sinh được thực hiện thường xuyên, liên tục, gắn với các hình thức hoạt động ngoài giờ lên lớp. Trong quá trình đó, chúng tôi đã tiến hành áp dụng một số giải pháp sau để giáo dục hành vi ứng xử tích cực cho học sinh: 1. Giải pháp 1: Nâng cao nhận thức để hình thành thói quen suy nghĩ tích cực Suy nghĩ tích cực có sức mạnh to lớn, là tiền đề cho các hành vi ứng xử tích cực. Khi gặp những chuyện không tốt, những tình huống khó khăn trong cuộc sống đòi hỏi mỗi người cần có nghị lực, tinh thần vượt khó để đối mặt hoặc vượt qua các trở ngại, nếu mỗi cá nhân có suy nghĩ tích cực sẽ hình thành niềm tin, tinh thần phấn chấn, tâm trạng vui tươi để giải quyết khó khăn, thách thức. Trước tiên, giáo viên giúp học sinh thay đổi cách nhìn nhận tích cực về mọi vấn đề. Hướng dẫn học sinh cách suy nghĩ tích cực về những tình huống xảy ra, khai thác ý nghĩa tích cực ở từng chi tiết, từng điểm tốt đẹp mà sự việc đó mang lại. Việc hướng dẫn được thực hiện ở tất cả các tiết học và chương trình ngoại khóa, đặc biệt qua bài tập thực hành kĩ năng sống (BTTHKNS) lớp 2 chủ đề 5; lớp 3 chủ đề 4; lớp 4 chủ đề 5; lớp 5 chủ đề 3 và 4. Vào tiết sinh hoạt lớp, giáo viên kết hợp kể “Câu chuyện cái bình nứt” (Nguồn ngoisao.net - Phần phụ lục). Giúp học sinh hiểu: tất cả mọi người ưa chuộng sự toàn mĩ. Chiếc bình nứt luôn mang trong người mặc cảm khi tự so sánh nó với chiếc bình lành. Thật vậy, có biết bao khiếm khuyết khiến chúng ta mặc cảm về bản thân mình. Nhưng đằng sau những khiếm khuyết ấy, mỗi người vẫn luôn có giá trị riêng. Giống như nước chảy ra từ khe nứt của chiếc bình không lành lặn kia đã gieo mầm sống cho những cây hoa đẹp đẽ bên đường. Đối diện với những khiếm khuyết của chính mình, mỗi người cần học cách chấp nhận, đồng thời hướng đến những điều tốt đẹp của bản thân. Bởi vì cuộc sống của mỗi chúng ta đều có thể như chiếc bình, dù không hoàn toàn lành lặn nhưng vẫn có ích cho đời, làm cho cuộc sống phong phú hơn. Tiếp theo, giáo viên giúp học sinh hình thành những suy nghĩ thể hiện thái độ tích cực trong mọi hoàn cảnh. 5
- Giáo viên kể chuyện về tấm gương Nguyễn Ngọc Ký, dù liệt hai tay nhưng vẫn đi học và học giỏi; câu chuyện về một người bị kẹt trong thang máy đã cố gắng xoay sở để tìm sự giúp đỡ;... Qua đó, học sinh hiểu: Khi gặp khó khăn trở ngại, cần bình tĩnh, tự tin cố gắng hết khả năng của mình để giải quyết. Hoạt động nhóm: Kể cho nhau nghe những câu chuyện, những tình huống nói về thái độ tích cực vượt qua khó khăn, mặc cảm để vươn lên. Chia sẻ với bạn về các suy nghĩ tích cực khi gặp tình huống khó khăn của chính mình. Giúp học sinh thường xuyên rèn luyện thói quen suy nghĩ tích cực. Ở các tiết học kĩ năng sống, ngoài việc cung cấp kiến thức trong bài, giáo viên đều có thể rèn cho học sinh thói quen suy nghĩ tích cực. Ví dụ 1: BTTHKNS lớp 3, chủ đề 1 “Kĩ năng tự phục vụ”. Ở bài tập 4: chuẩn bị đồ dùng cá nhân. Vận dụng thực tiễn: Em đã chuẩn bị sách vở và đồ dùng học tập cho mỗi ngày đi học như thế nào? Học sinh chia sẻ cảm xúc khi chuẩn bị không đủ sách vở, đồ dùng học tập. Từ đó, hình thành suy nghĩ: cần chuẩn bị đồ dùng cá nhân trước khi đi ngủ để buổi sáng thức dậy không vội vàng và muộn giờ đến lớp. Rút ra bài học: thường xuyên tự làm lấy những việc phục vụ cho học tập và sinh hoạt hàng ngày của bản thân giúp chúng ta tự tin, sảng khoái, tinh thần hăng hái khi bắt tay vào hoạt động mới. Giáo viên cho học sinh ứng dụng ngay trên lớp: sắp xếp lại đồ dùng cá nhân, sau đó nhận xét quang cảnh lớp học và chia sẻ cảm xúc của mình. Sau thời gian ngắn, giáo viên kiểm tra đột xuất và nhận xét việc sắp xếp đồ dùng cá nhân. Việc làm này có ý nghĩa củng cố, tạo thói quen suy nghĩ tích cực cho học sinh. Ví dụ 2: Kĩ năng giao tiếp là một trong những nội dung chủ đạo của giáo dục kĩ năng sống cho học sinh tiểu học, xuất hiện trong hầu hết các chủ đề. Trong đó, sách biên soạn riêng chủ đề rèn kĩ năng giao tiếp ở lớp 3, chủ đề 2 “Kĩ năng giao tiếp với bạn bè và mọi người”, lớp 4 chủ đề 2, lớp 5 chủ đề 1. Giúp học sinh suy nghĩ đến những hành vi ứng xử tích cực khi giao tiếp: Lời nói nhẹ nhàng, lời cảm ơn hay xin lỗi với nét mặt cử chỉ vui vẻ, chân thành; biết lắng nghe, phản hồi; lời nói, cử chỉ hài hước;... có thể mang lại nhiều ảnh hưởng tích cực đối với những người xung quanh. Cách sống lạc quan, hài hước luôn cho những suy nghĩ tích cực. Quá trình lặp đi lặp lại những suy nghĩ tích cực sẽ tạo thành thói quen. Giáo viên thường xuyên khuyến khích học sinh nuôi dưỡng những suy nghĩ tích cực và lành mạnh để kích hoạt tiềm năng hành vi tích cực. 6
- 2. Giải pháp 2: Kiểm soát cảm xúc và không vội vàng phán xét Cảm xúc là những thái độ rung cảm của con người đối với sự vật, hiện tượng trong cuộc sống. Cảm xúc có tính tích cực và tiêu cực, là động lực cho mọi hành vi diễn ra. Khi không kiểm soát được cảm xúc, con người thường có phản ứng tiêu cực mà biểu hiện cơ bản nhất là đổ lỗi và phán xét người khác. Phán xét có thể bằng ngôn ngữ nói, ngôn ngữ viết, bằng cử chỉ, thái độ, có khi chỉ dừng lại trong suy nghĩ. Phạm vi phán xét rất rộng, đa dạng về nhiều mặt như: ngoại hình, tính cách, hành động, tình cảm, tư tưởng,... Thông thường, khi không kiểm soát được cảm xúc, nhất là những cảm xúc tiêu cực, con người rất dễ buông lời phán xét tiêu cực. Giáo viên giúp học sinh hiểu vì sao cần thay đổi thói quen phán xét. Khi ai đó mắc sai lầm, gặp rắc rối, có cá tính hay hình dáng đặc biệt,... cái họ cần là sự giúp đỡ, cảm thông chứ không phải là phán xét, chê bai. Nỗi sợ bị phán xét tạo nên tâm lí bất an và cảm xúc lo lắng, dẫn đến những ứng xử mang tính tiêu cực. Ví dụ: Trong trích đoạn truyện “Cô bé bán diêm” (BTTHKNS lớp 4, chủ đề 6 - Kĩ năng kiểm soát cảm xúc) Câu chuyện kể về em bé mồ côi mẹ phải đi bán diêm trong đêm giao thừa rét buốt. Chẳng dám về nhà khi chưa bán hết diêm vì sợ bố mắng, em đành ngồi nép vào góc tường, liên tục quẹt diêm để sưởi và hi vọng vào những ảo ảnh. Đói rét, đau buồn, em bé chết trong giấc mơ cùng bà nội lên trời. Ngoài giá trị nhân văn sâu sắc mà câu chuyện mang lại, câu chuyện còn mang ý nghĩa giáo dục khác. Giá như ông bố trong câu chuyện biết kiểm soát cảm xúc, không hay nóng giận và đánh mắng em; giá như em bé kiềm chế được nỗi sợ hãi để tìm giải pháp tích cực;... câu chuyện đã không có cái kết đau lòng. Câu chuyện “vết thương” (BTTHKNS lớp 4, chủ đề 6 - Kĩ năng kiểm soát cảm xúc) cho chúng ta thấy: Khi giận dữ, chúng ta dễ có những lời nói, hành động không tốt. Nếu đó là những lời phán xét thiếu suy nghĩ, nó sẽ làm thương tổn đến tâm hồn và sẽ theo người ta đến suốt cuộc đời. Chính vì thế, trước khi phán xét điều gì, ta cần phải suy xét thật cẩn thận. Và quan trọng nhất là đừng bao giờ nói ra bất cứ điều gì trong lúc ta giận dữ, bởi đó luôn là những lời nói đầy ác ý làm tổn thương người khác. Học sinh chia sẻ theo nhóm: Bạn đã từng bị phán xét chưa? Cảm xúc của bạn khi đó như thế nào? Bạn đã làm gì khi bị phán xét? Từ đó, giúp học sinh rút ra kết luận: biết kiềm chế cảm xúc và không phán xét người khác. Vậy cần làm gì để kiềm chế cảm xúc và không phán xét người khác? 7
- Thứ nhất, tạo một khoảng thời gian thư giãn và thả lỏng. Thứ hai, nghĩ về những điều tích cực mà sự việc đó mang lại. Thứ ba, lựa chọn giải pháp tích cực nhất. Tuy nhiên, kiểm soát cảm xúc không có nghĩa là trốn tránh cảm xúc tiêu cực. Những cảm xúc buồn bã, chán nản, tức giận,... đôi khi cũng có tác dụng xoa dịu tâm hồn. Khi đó có thể khóc thật nhiều cho vơi bớt nỗi buồn, có thể tức giận để nhận ra điều mình không thích, biết sợ hãi để tránh những nguy hiểm và biết phân biệt để chọn ra cái tốt và xấu cho bản thân. Hãy làm lắng dịu những cảm xúc, lựa chọn giải pháp tích cực có lợi cho bản thân hơn là tìm cách loại bỏ nó. Thực tế, đã có học sinh đã tức giận vì bị bạn xô ngã, buồn vì bị bạn nói xấu, coi thường bạn học kém,... Dựa vào tình huống đã xảy ra, giáo viên giúp học sinh hiểu: Khi bản thân gặp chuyện không tốt do người khác mang lại cũng không nên quá tức giận, phán xét hoặc nói xấu họ. Nếu không thể thông cảm, cũng đừng làm tổn thương, cố gắng hết sức để tránh xung đột xảy ra. Đôi khi chỉ một lời phán xét, chế giễu cũng đủ tạo nên nhiều hành vi ứng xử tiêu cực. Giáo viên tuyệt đối không được phê bình, phán xét khi các em làm chưa tốt. Bởi nếu vậy sẽ làm mất sự chủ động, tự tin và hoà nhập cùng bạn bè, các em sẽ không đủ dũng cảm để thể hiện mình, lâu dần không thể hình thành những hành vi ứng xử tích cực cho các em. Chuyên gia tâm lí học người Nga Dorothy Holte đã nói: “Nếu trẻ sống với sự phê bình, thì trẻ sẽ học cách chỉ trích”. 3. Giải pháp 3: Gần gũi, đồng cảm và ứng xử khoan dung, nhân ái Gần gũi và đồng cảm giúp cho con người thấu hiểu và hòa nhập với thực tại. Đồng cảm để hiểu cảm xúc của người trong cuộc, ứng xử tinh tế, phù hợp với từng hoàn cảnh. Từ đó, học sinh biết chia sẻ, giúp đỡ những người xung quanh và tôn trọng sự khác biệt của người khác. Giáo viên cần có sự đồng cảm, thiện chí trong giao tiếp với học sinh; thông cảm với việc bộc lộ cảm xúc hồn nhiên, ngây thơ, đôi khi thiếu kiểm soát của học sinh, đặc biệt là học sinh đầu lớp 1. Cách ứng xử của giáo viên trước học sinh cũng chính là giúp học sinh học bằng trải nghiệm thực tế. Giáo viên có thể thay một số bài tập tình huống trong sách bằng tình huống thực tiễn. Ví dụ: “Bạn Vũ Anh Kiệt lớp 4E bị mắc bệnh tự kỉ. Hãy hình dung cách ứng xử của các bạn trong trường với bạn Kiệt và trình bày trước lớp theo hình thức tiểu phẩm”. Học sinh cần hiểu rõ tính cách, suy nghĩ, hành động của nhân vật mình đóng vai, tìm ra điểm tốt hoặc chưa tốt của nhân vật. Chia sẻ trung thực những suy nghĩ, cảm nhận, quan điểm cá nhân. 8
- Khi đóng vai, giáo viên hướng dẫn học sinh các bước như sau: - Bước 1: Tìm hiểu nội dung tiểu phẩm. - Bước 2: Phân tích tiểu phẩm: Làm việc theo nhóm, thảo luận thể hiện ý tưởng, nội dung. Phân vai, độc thoại hoặc đối thoại. - Bước 3: Các nhóm lên đóng vai. - Bước 4: Phát biểu ý kiến, cảm nhận cá nhân. Học sinh khái quát những nội dung đã học, viết bài học rút ra từ tiểu phẩm. Giáo viên phỏng vấn học sinh đóng vai: Để lựa chọn cách ứng xử này, em đã suy nghĩ như thế nào? Cả lớp thảo luận, nhận xét: Cách ứng xử đã phù hợp hay chưa phù hợp? Chưa phù hợp ở điểm nào? Vì sao? Lưu ý: Tình huống nên mở, không cho trước phần kết. Dành thời gian phù hợp cho các nhóm chuẩn bị đóng vai. Nên khích lệ học sinh nhút nhát tham gia. Trong cuộc sống, các em có thể đồng cảm với cảnh ngộ gần gũi: Bạn đang trực nhật một mình, bác lao công trong trường, những người có hoàn cảnh khó khăn,... Xa hơn là người dân sống nơi thiên tai, người bị tai nạn,... từ đó hình thành ý thức, hành vi giúp đỡ, chia sẻ khó khăn với người khác. Gần gũi và đồng cảm dẫn đến biểu hiện của lòng khoan dung và nhân ái. Khi đối xử khoan dung, nhân ái, những người có lỗi lầm dễ nhận ra sai trái và có cơ hội để sửa. Ngay bản thân mình cũng cảm thấy thanh thản, yêu đời, tích cực làm nhiều việc tốt. Nhưng khoan dung không có nghĩa là bao che, dung túng cho việc cố tình sai trái, gây tổn hại tới chuẩn mực đạo đức con người. Trong các tiết học kĩ năng sống ở tiểu học, không có tiết học dành riêng để rèn kĩ năng này. Giáo viên có thể tùy nội dung từng bài để bổ sung kiến thức và giúp học sinh rèn cách ứng xử khoan dung qua các hoạt động hàng ngày. Ví dụ 1: BTTHKNS lớp 4, chủ đề 6 “Kĩ năng kiểm soát cảm xúc”. Giáo viên cho học sinh hiểu rõ: khi kiểm soát được cảm xúc, con người dễ dàng tha thứ và từ đó hành vi ứng xử tích cực sẽ thay thế tiêu cực. Ví dụ 2: BTTHKNS lớp 5, chủ đề 2 “Kĩ năng ứng phó với căng thẳng”. Học sinh hoàn thành yêu cầu bài tập 3, tình huống 1: “Bị Tâm từ chối cho chép bài, Quân tức giận gọi Tâm là “đồ tồi” và xui các bạn không chơi với Tâm...”, giáo viên có thể hỏi thêm: “Nếu em là Tâm, em sẽ ứng xử với Quân như thế nào?” Từ đó hướng dẫn học sinh cách ứng phó với căng thẳng cho mình mà vẫn khoan dung, độ lượng và giúp bạn tiến bộ. 9
- Trong thực tế, học sinh gặp rất nhiều tình huống tương tự: cãi nhau do hiểu lầm, tranh trò chơi trên sân, bạn mượn sách không trả,... Các em cần có cách ứng xử thích hợp hoặc giúp bạn giải quyết mang tính khoan dung, độ lượng. Do đó, không chỉ trong các hoạt động diễn ra hàng ngày trên lớp mà trong tất cả các hoạt động ngoại khóa, giờ nghỉ giải lao, lúc ăn trưa,... giáo viên thường xuyên theo dõi, kịp thời giúp đỡ, khuyến khích các em thể hiện lối sống khoan dung, nhân ái. Đó cũng là một biểu hiện của hành vi ứng xử tích cực. 1.2.4. Giải pháp 4: Rèn thói quen ứng xử tích cực trong mọi tình huống Rèn thói quen ứng xử tích cực là việc làm rất cần thiết được thực hiện trong quá trình lâu dài và liên tục với vai trò quan trọng của người giáo viên. Thứ nhất, giáo viên cần duy trì và phát huy thái độ tích cực của học sinh. Học sinh tiểu học thường hay bắt chước, học theo hành động của người mà mình yêu mến, quý trọng. Các em luôn xem giáo viên là “thần tượng”, “chuẩn mực tuyệt đối”. Vì vậy ngoài việc thực hiện 3 giải pháp nêu trên, bằng những hành động, cử chỉ, lời nói cách cư xử hàng ngày, giáo viên tác động liên tục đến nhận thức, tình cảm và hành vi của mỗi học sinh. Những gì giáo viên thường xuyên làm quan trọng hơn nhiều so với những gì giáo viên nói. Muốn học sinh có hành vi ứng xử tích cực, giáo viên hãy làm như thế. Nếu những người xung quanh có thái độ không nhất quán và tiêu cực, các em cũng sẽ học theo với thái độ tương tự. Do đó, giáo viên kết hợp với gia đình học sinh để tạo môi trường thuận lợi cho việc hình thành thói quen ứng xử tích cực cho các em. Thứ hai, giáo viên ghi nhận, khích lệ và khen ngợi kịp thời hành vi ứng xử tích cực; nhắc nhở, điều chỉnh hành vi ứng xử chưa phù hợp của học sinh. Giáo viên nên khen ngợi đúng lúc và thiết thực ngay khi học sinh có hành vi tích cực. Khi khen học sinh, để đạt được kết quả tốt nhất, giáo viên cần: - Thể hiện cảm xúc khi khen học sinh: nhìn khích lệ, mỉm cười, gật đầu,... - Sử dụng nhiều hình thức khen ngợi. Khen bằng lời kết hợp với hành vi cử chỉ có tính khích lệ, động viên: “Thật đáng ngạc nhiên!”, “Thật tuyệt!” “Đúng là một niềm vui to lớn!”,... hoặc đơn giản hơn như: tốt, tốt lắm, tuyệt,... Ví dụ: BTTHKNS, chủ đề 1 lớp 1 và 3: Phần thực hành học sinh đạt kết quả tốt, giáo viên khích lệ bằng lời khen: “Hôm nay cả lớp đã sắp xếp đồ dùng cá nhân rất gọn gàng. Điều đó thật tuyệt vời. Cô rất tự hào về các em!”. - Tập trung vào các việc học sinh làm tốt. Nếu có cả hành vi tốt và không tốt, giáo viên tập trung vào việc tốt, không nên trách mắng hay phản ứng ngay. 10
- - Không so sánh học sinh với các bạn khác. Chỉ cho học sinh thấy sự tiến bộ hoặc việc làm không tốt của mình bằng cách so sánh hành vi trước đây và hiện nay của các em. - Đặt ra các mục tiêu để học sinh tiếp tục phấn đấu. Ví dụ: Bài “Kĩ năng hợp tác” (Chủ đề 7 lớp 3; chủ đề 3 lớp 5). Giáo viên có thể nói: “Thật vui mừng khi các em đã tích cực hợp tác với các bạn. Cô sẽ ngạc nhiên và tự hào lắm nếu các em biết vận dụng kĩ năng này vào tất cả các các tiết học sau”. - Sử dụng vai trò của tập thể trong khen ngợi học sinh: khen trước lớp, khen nơi đông người,... Khen ngợi giúp học sinh định hướng được hành vi đúng, sai và là động lực giúp học sinh tự tin phấn đấu. Tuy nhiên, trong một số tình huống đặc biệt, giáo viên phải phê bình để học sinh nhận ra hành vi ứng xử chưa phù hợp. Lưu ý luôn “khen ngợi rồi mới phê bình”. Hãy luôn dành cho học sinh những lời khen thích hợp, đúng lúc để phát huy những hành vi ứng xử tích cực ở học sinh. Thứ ba, tăng cường tổ chức hoạt động ngoại khóa, rèn ý thức trách nhiệm. Khuyến khích học sinh tham gia các hoạt động sinh hoạt tập thể, trải nghiệm kỹ năng sống. Qua đó rèn kỹ năng phối hợp, kỹ năng giao tiếp, tinh thần trách nhiệm,... cho các em. Rèn ý thức trách nhiệm sẽ hỗ trợ cho học sinh trong việc tiếp nhận các kĩ năng trong chương trình học kĩ năng sống như: Kĩ năng ra quyết định và giải quyết vấn đề (lớp 1); Kĩ năng đảm nhận trách nhiệm (lớp 3); Kĩ năng ra quyết định và giải quyết vấn đề; kĩ năng tìm kiếm sự hỗ trợ khi khó khăn (lớp 4); Kĩ năng ứng phó với căng thẳng, kĩ năng hợp tác, kiên định và từ chối, kĩ năng lập kế hoạch (lớp 5);... Cần làm cho học sinh hiểu: không được đổ lỗi, viện cớ mà cần phải thừa nhận lỗi khi không hoàn thành nhiệm vụ. Để hình thành ý thức trách nhiệm, học sinh cần rèn tính kỉ luật, biết lập kế hoạch, học cách hợp tác để giải quyết công việc và cởi mở trong việc tiếp nhận phê bình. Để phát triển ý thức trách nhiệm thành thói quen tốt, học sinh cần chủ động đặt mục tiêu và chủ động thực hiện. Ngoài ra, trong quá trình giảng dạy, giáo viên giao nhiệm vụ cụ thể hoặc hướng dẫn các em tự đảm nhận, từ nhiệm vụ đơn giản đến nhiệm vụ phức tạp, khó khăn hơn như: trực nhật lớp, hoàn thành nhiệm vụ trong hoạt động nhóm,... Khi giao nhiệm vụ, giáo viên lưu ý: ngoài giao việc trực tiếp, giáo viên có thể giao việc theo cách gián tiếp để tránh gây áp lực cho học sinh và có thể kiểm tra sự tiến bộ trong việc thể hiện thái độ tích cực của mỗi cá nhân. 11
- Ví dụ: Để giúp các em rèn ý thức tự giác bảo vệ môi trường, giáo viên có thể thực hiện theo ba bước cơ bản sau: Bước 1: Rèn ý thức bảo vệ môi trường. Giáo viên chủ nhiệm kết hợp với Liên đội, giao nhiệm vụ cụ thể: 5 phút sạch trường. Học sinh toàn trường vệ sinh trường trong 5 phút. Chia sẻ cảm xúc, nêu biện pháp rèn ý thức trách nhiệm của mỗi học sinh với môi trường. Bước 2: Hình thành ý thức tự giác bảo vệ môi trường. Sau một vài tuần thực hiện bước 1, giáo viên giao nhiệm vụ gián tiếp: Trong giờ ra chơi, ngoài việc tham gia các trò chơi thật vui vẻ, các em hãy quan sát và cho biết nhận xét của em về vấn đề vệ sinh trong trường. Sau giải lao, học sinh tự do chia sẻ: “Nêu nhận xét về vệ sinh sân trường và việc em đã làm (nếu có) để làm sạch sân trường”. Có thể có nhận xét sau (Giáo viên ghi nhanh nhận xét và số lượng học sinh có nhận xét đó lên bảng): - Sân trường sạch sẽ. - Còn có giấy rác do một số bạn ăn sáng không bỏ rác đúng nơi quy định. - Thấy bạn vứt vỏ kẹo ở sân, em phê bình và nhắc bạn bỏ rác vào thùng. - Có giấy ăn ở gần cổng trường. Nhóm em đã nhặt và bỏ vào thùng rác. Đề nghị: - Tự giác giữ vệ sinh trường, lớp, khu vệ sinh; - Đi vệ sinh đúng nơi quy định và nhớ xả nước;... Bước 3: Không giao nhiệm vụ, nhưng chia sẻ việc các em đã tự giác làm được. Học sinh chia sẻ việc đã làm và cảm xúc khi ngôi trường thêm sạch đẹp. Giáo viên khen ngợi và khẳng định: Vệ sinh trường lớp, không vứt rác bừa bãi là việc làm tích cực thể hiện ý thức trách nhiệm trong việc bảo vệ môi trường. Với ba bước, giáo viên theo dõi được số lượng học sinh tích cực trong việc bảo vệ môi trường tăng hay giảm, thường xuyên hay không thường xuyên để tiếp tục hình thành thói quen tốt cho các em. Giáo viên khen ngợi những học sinh và nhóm học sinh có trách nhiệm, tự giác bảo vệ môi trường. 2. Khả năng áp dụng của sáng kiến Những giải pháp của sáng kiến: “Một số biện pháp giáo dục hành vi ứng xử tích cực cho học sinh tiểu học” đã được áp dụng có hiệu quả ở các lớp của trường Tiểu học Lê Hồng Phong, năm học 2014-2015 và 2015-2016. 12
- Việc sử dụng các biện pháp giáo dục hành vi ứng xử tích cực là điều cần thiết, phù hợp với nhận thức của học sinh, tác động tích cực đến việc hình thành nhân cách, giúp trẻ phát triển toàn diện, năng động, cách ứng xử nhanh nhẹn, tinh tế, phù hợp với quá trình phát triển của xã hội hiện nay. Qua thực tế giảng dạy và giáo dục, chúng tôi có thể khẳng định: sáng kiến có thể áp dụng được với tất cả các lớp trong các trường Tiểu học của thành phố Ninh Bình nói riêng và các địa phương khác nói chung. Các giải pháp của sáng kiến có thể áp dụng hiệu quả trong các giờ dạy kĩ năng sống và còn sử dụng trong cả quá trình giảng dạy và hoạt động ngoại khóa. V. ĐIỀU KIỆN CẦN THIẾT ĐỂ ÁP DỤNG SÁNG KIẾN Giáo dục hành vi ứng xử tích cực cho học sinh tiểu học cần thực hiện ở mọi nơi mọi lúc, trong nhà trường, ở gia đình và ngoài xã hội và thực hiện càng sớm càng tốt. Giáo dục hành vi ứng xử tích cực không đồng thời đạt được kết quả như nhau ở tất cả các đối tượng. Do đó, giáo viên cần kiên trì áp dụng để tác động đến đồng thời các quá trình: nhận thức - hình thành thái độ - thay đổi hành vi - thói quen ứng xử, tạo cơ hội cho các em vận dụng tự nhiên và linh hoạt vào các tình huống thực trong cuộc sống. VI. ĐÁNH GIÁ LỢI ÍCH THU ĐƯỢC DO ÁP DỤNG SÁNG KIẾN Trong năm học qua, nhờ áp dụng sáng kiến, chúng tôi đã nhận được sự ủng hộ nhiệt tình từ phía phụ huynh và thu được kết quả đáng khích lệ. Cụ thể: - Học sinh tích cực hơn trong mọi hoạt động, đồng thời hiệu quả giáo dục ở tất cả các môn học ngày càng được nâng cao, góp phần tạo nên lớp thanh niên nhiệt tình, năng động, tích cực vươn lên trong cuộc sống. - Việc áp dụng sáng kiến sẽ giảm bớt thời gian giáo viên tự học, tự nghiên cứu và kinh phí cho việc tập huấn cho đội ngũ giáo viên tiểu học. Do đó, hiệu quả kinh tế sáng kiến mang lại rất lớn, khó có thể tính toán. Một số hiệu quả cụ thể của sáng kiến: 1. Khắc phục được một số hạn chế, bất cập của nội dung, chương trình và tài liệu kĩ năng sống cấp tiểu học Việc giáo dục hành vi ứng xử tích cực cho học sinh đã được thực hiện song song giữa lí thuyết và thực hành tác động được đến tất cả quá trình nhận thức - hình thành thái độ - thay đổi hành vi - thói quen ứng xử. Giáo viên kiểm soát được hành vi của học sinh trong thực tiễn để điều chỉnh cho phù hợp. 13

