Đơn công nhận Sáng kiến Giải pháp toàn diện nhằm phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh thông qua việc sử dụng các bài tập vật lý có liên quan đến thực tế
Bạn đang xem tài liệu "Đơn công nhận Sáng kiến Giải pháp toàn diện nhằm phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh thông qua việc sử dụng các bài tập vật lý có liên quan đến thực tế", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
don_cong_nhan_sang_kien_giai_phap_toan_dien_nham_phat_trien.docx
Nội dung tài liệu: Đơn công nhận Sáng kiến Giải pháp toàn diện nhằm phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh thông qua việc sử dụng các bài tập vật lý có liên quan đến thực tế
- 3 về lý thuyết. Bởi vì không có nhiều cơ hội thực hành, nên học sinh khó có thể áp dụng những kiến thức đã học vào thực tiễn. + Chưa kích thích được vốn kiến thức đã có của học sinh như là từ những kiến thức đã học hay kinh nghiệm tích lũy từ cuộc sống để áp dụng tìm hiểu kiến thức mới. + Việc liên hệ thực tế với kiến thức trong bài còn ít, sử dụng đồ dùng thiết bị dạy học trên lớp học sinh khó hình dung về những ứng dụng kiến thức đã học trong thực tế. + Chưa tạo được động lực học tập tích cực cho học sinh, dẫn đến học sinh tiếp thu kiến thức mới một cách thụ động. + Học sinh ít có cơ hội được thể hiện sự sáng tạo, sự hợp tác và tinh thần đoàn kết giúp đỡ bạn bè trong nhiệm vụ học tập của mình. + Học sinh dễ tiếp thu kiến thức một cách thụ động, giờ học cũng buồn tẻ và kiến thức chỉ thiên về lý thuyết. Bởi vì không có nhiều cơ hội thực hành, nên học sinh khó có thể áp dụng những kiến thức đã học vào thực tiễn. + Học sinh không có thói quen vận dụng kiến thức vật lí để giải quyết các tình huống gặp phải trong cuộc sống hàng ngày. Đối với đa số học sinh hiện nay, quá trình học tập vật lí chỉ diễn ra trên lớp học. Sau khi rời khởi lớp học và nhà trường thì quá trình học tập “biến mất”. Đặc biệt sau những lần thi cử kiến thức lưu lại trong tâm trí học sinh không nhiều. + Chưa hệ thống lại những câu hỏi, kiến thức có liên quan đến thực tế để thuận tiện cho việc soạn giảng theo phương pháp mới, theo định hướng phát triển năng lực học sinh. + Chưa hệ thống một cách đầy đủ các câu hỏi có liên quan đến thực tế trong các kì thi và đặc biệt là kì thi TNTHPT, để giáo viên và học sinh có tư liệu tham khảo trong quá trình học, ôn luyện cho kì thi TNTHPT. II.1.2. Ưu điểm + Theo cách dạy truyền thống thì vẫn giúp cho học sinh lĩnh hội được nội dung kiến thức cơ bản của bài học. + Lượng kiến thức trong từng bài dạy được nhẹ nhàng, giải quyết từng mảng kiến thức nên giờ dạy nhẹ nhàng hơn đối với học sinh đặc biệt là những học sinh học yếu. + Dạy theo phương pháp cũ làm cho việc chuẩn bị cũng như soạn giảng của giáo viên trở nên nhẹ nhàng hơn. + Một số đối tượng học sinh thụ động, chưa thực sự tự giác trong học tập nên việc được giáo viên hướng dẫn theo hướng cũ sẽ thấy đỡ áp lực học tập hơn. II.2. Phương pháp mới cải tiến Ngày 26 tháng 12 năm 2018, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Chương trình giáo dục phổ thông 2018. Một trong những điểm đổi mới căn bản nhất của chương trình 2018 chính là việc chuyển đổi nền giáo dục nặng về truyền thụ kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất của người học. Với mục tiêu trên, chương trình môn Vật lí 2018 coi trọng việc rèn luyện khả năng vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học để tìm hiểu và giải quyết ở mức độ nhất định một số vấn đề của thực tiễn, đáp ứng
- 4 đòi hỏi của cuộc sống; vừa bảo đảm phát triển năng lực vật lí – biểu hiện của năng lực khoa học tự nhiên, vừa đáp ứng yêu cầu định hướng nghề nghiệp của học sinh (HS). Dạy học theo định hướng phát triển năng lực cho HS không chỉ có ý nghĩa quan trọng đối với cá nhân, gia đình và cộng đồng ở khía cạnh đổi mới phương pháp dạy học, mà còn có ý nghĩa to lớn như một mục tiêu quan trọng và cấp thiết của nền giáo dục đào tạo Việt Nam. Trong những năng lực của con người, năng lực giải quyết vấn đề (NLGQVĐ) được coi là năng lực cốt lõi và quan trọng nhất, là năng lực mà các nền giáo dục phát triển trên thế giới đều muốn hướng tới. Năng lực giải quyết vấn giúp con người phát hiện ra những vấn đề gặp phải trong học tập hay trong cuộc sống, từ đó tích cực tư duy, khám phá ra những phương án để giải quyết các vấn đề đó một cách hiệu quả và nhanh chóng nhất. Để thực hiện việc phát triển năng lực của học sinh thì bài học có gắn với nội dung thực tế rất quan trọng, học sinh có thể tìm hiểu các hiện tượng vật lí trong đời sống, các bài toán có gắn với thực tế vào bài học để có thể hiểu bản chất vật lí của bài học cũng như có thể áp dụng kiến thức đó vào cuộc sống. Trong những năm gần đây, trong các đề thi TNTHPT thì những câu hỏi có liên quan thực tế cuộc sống đã được đưa vào trong các đề thi rất nhiều, nên cần có tài liệu tổng hợp giúp học sinh có cái nhìn tổng thể về các bài toán có liên quan đến thực tiễn để các em học sinh có thể hoàn thành tốt các câu hỏi liên quan thực tế trong kì thi TNTHPT. Với những lí do trên, chúng tôi đã đổi mới phương pháp dạy học để phù hợp với chương trình giáo dục mới, biên soạn, hệ thống các hiện tượng, các bài tập vật lí liên quan đến thực tiễn đó là : “Giải pháp toàn diện nhằm phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh thông qua việc sử dụng các bài tập vật lý có liên quan đến thực tế ” Trong giải pháp này chúng tôi làm rõ ba nội dung chính: + Thiết kế một giáo án sử dụng các hiện tượng, bài toán liên quan đến thực tế: Tiến trình dạy học sử dụng bài tập có nội dung thực tế bài “Công, công suất” - Vật lí 10. + Hệ thống những câu hỏi, hiện tượng vật lí liên quan đến thực tế để giáo viên, học sinh có thể tham khảo trong quá trình dạy và học. + Hệ thống các bài tập có liên hệ thực tế để giáo viên và học sinh 12 có tài liệu ôn tập chuẩn bị cho kì thi TNTHPT. Những giải pháp mà chúng tôi đưa ra nhằm giúp học sinh phát triển năng lực thông qua các hiện tượng, bài toán vật lý liên quan đến thực tiễn có một số ưu điểm và nhược điểm sau: II. 2.1.Ưu điểm: + Việc soạn giảng theo phương pháp mới sẽ giúp học sinh có nhiều hoạt động hơn, có nhiệm vụ rõ ràng để thực hiện và chủ động hơn trong việc lĩnh hội kiến thức mới. Học sinh được giao nhiệm vụ nhiều hơn cho hoạt động ở nhà ngoài việc hoàn thành việc vận dụng làm bài tập học sinh còn biết liên hệ thực tế. Từ đó học sinh có thể giải thích được các hiện tượng vật lý xung quanh mình một cách dễ dàng. + Vì những kiến thức vật lí trong chương trình phổ thông có những ứng dụng thiết thực trong
- 5 thực tế nên có thể tổ chức cho học sinh học trải nghiệm sáng tạo từ thực tế. Bằng việc quan sát, có thể sử dụng các thiết bị trong thực tế sẽ cho các em một sự trải nghiệm cần thiết để các em tự tin với những kiến thức mà các em đã lĩnh hội từ việc học lí thuyết. + Khi đưa các bài tập thực tiễn vào dạy học vật lý thì học sinh có nhiều thời gian cũng như cơ hội được thể hiện sự sáng tạo, sự hợp tác cũng như thái độ học tập của mình. Trong qúa trình thực hiện nhiệm vụ, học sinh phải huy động và phát huy được hết những kiến thức đã học hay những kinh nghiệm từ thực tế cuộc sống của mình. + Đưa các bài tập thực tiễn vào dạy học vật lý là đã góp phần thay đổi phương pháp dạy học, tiếp cận sự thay đổi mạnh mẽ trong giáo dục và chuẩn bị tốt cho việc áp dụng sách giáo khoa mới của Bộ giáo dục và đào tạo. + Hệ thống lại các câu hỏi vật lý có liên quan đến thực tiễn để khi giáo viên soạn giảng có sẵn tư liệu tham khảo và áp dụng linh hoạt vào từng bài học cụ thể đặc biệt là màn khởi động ở đầu mỗi tiết dạy. + Hệ thống các câu hỏi, có hướng dẫn, phân tích các kiến thức vật lí liên quan để học sinh và giáo viên làm tư liệu tham khảo trong việc ôn thi TNTHPT. II.2.2.Nhược điểm Những học sinh có tinh thần học tập chưa cao thì khó có thể hoàn thành được nhiệm vụ học tập của mình. Bảng so sánh một số chi tiết của giải pháp cũ thường làm và phương pháp cải tiến mới . Giải pháp cũ thường làm Phương pháp mới cải tiến Tiến trình giải quyết vấn đề tuân theo cách giải Các nhiệm vụ học tập được giao cho học sinh, quyết vấn đề trong khoa học vật lý: logic, chặt học sinh học tập với sự chủ động hỗ trợ, hợp chẽ, khoa học.. theo từng bài và giáo viên tác của giáo viên và học sinh là trung tâm của đóng vai trò trung tâm. mọi hoạt động. Trình độ nhận thức sau quá trình học tập Trình độ nhận thức có thể đạt được ở mức độ thường theo trình tự và thường dừng lại ở trình cao hơn: Phân tích, tổng hợp, đánh giá khi thực độ biết, hiểu và vận dụng (giải bài tập) hiện các nhiệm vụ được giao. Học sinh không tự phát hiện hoặc ngại liên hệ Kiến thức gần gũi với thức tiễn mà học sinh thực tế vì việc đó trong quá trình dạy giáo viên đang sống hơn do yêu cầu thực hiện nhiệm vụ đã cung cấp. cập nhật thông tin khi thực hiện chủ đề. Các bài tập liên quan thực tế chưa được chú Vào đầu mỗi bài học trong phần khởi động thì trọng, học sinh chưa thực sự tích cực trong học sinh đã phải tự tìm hiểu các hiện tượng vật việc tìm hiểu thế giới xung quanh lý liên quan đến thực tiến để trả lời các câu hỏi từ giáo viên đưa ra.
- 6 Điểm yếu của học sinh trong quá trình ôn Giúp học sinh tự tin với kĩ năng phân tích hiện luyện thường là quá chú trọng công thức mà tượng vật lí của mình và hoàn thành được các coi nhẹ kỹ năng đọc hiện tượng, trong khi chỉ câu hỏi có nội dung thực tiễn. cần để ý một chút là học sinh có thể giải quyết được những câu hỏi trong dạng này. Đưa kiến thức thực tế vào bài dạy nhưng Chủ động tiếp cận theo chương trình giáo dục thường diễn ra một chiều từ sự liên hệ thực tế phổ thông 2018 để người học có thể phát triển của giáo viên. năng lực giải quyết vấn đề. III. HIỆU QUẢ KINH TẾ VÀ XÃ HỘI DỰ KIẾN ĐẠT ĐƯỢC III.1. Hiệu quả xã hội + Thay đổi tư duy trong công tác soạn giảng và giảng dạy của giáo viên, giúp giáo viên định hình và có thêm nhiều sáng tạo và thay đổi mạnh mẽ trong phương pháp dạy học bộ môn vật lí. + Học sinh có hứng thú học tập hơn: Tích cực, chủ động, sáng tạo và không còn lo ngại khi đến tiết học vật lí. + Tạo không gian thoải mái giúp các em tự tin trao đổi và học hỏi hơn. + Giảm thiểu được những học sinh lười học, những học sinh không có hứng thú với môn học. + Hệ thống một số câu hỏi, bài tập có nội dung thực tế có thể gặp trong kì thi THPT quốc gia. + Học sinh được trải nghiệm, được gần gũi với các hiện tượng vật lí trong thực tế từ đó giúp cho các em hiểu và giải thích được các hiện tượng đó. Do vậy các em thấy tầm quan trọng của bộ môn vật lí nói trong cuộc sống. + Sau khi học xong kiến thức trên lớp thì học sinh có thể tự tạo cho mình những sản phẩm học tập nhằm rèn luyện kĩ năng làm việc cá nhân và làm việc nhóm cho bản thân. + Đào tạo ra những công dân có đủ trình độ, năng lực, phẩm chất đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội. + Khi sáng kiến kinh nghiệm được ứng dụng trong công tác giảng dạy sẽ giúp cho tổ nhóm chuyên môn có tư liệu chung để tham khảo đỡ mất thời gian cho việc biên soạn, hệ thống các dạng bài tập thực tiễn khi dạy. Sáng kiến áp dụng cho việc dạy của nhiều đối tượng học sinh, từ học sinh lớp thường đến cả những học sinh ôn luyện học sinh giỏi từ đó tiết kiệm kinh phí mua sách hay tài liệu tham khảo khác. + Việc áp dụng thành công sáng kiến đánh dấu tín hiệu tích cực trong việc thay đổi phương pháp dạy học, không còn quá máy móc chỉ quan tâm đến việc truyền thụ những lý thuyết, công thức cơ bản áp dụng vào tính toán, giải bài tập. + Khi đã áp dụng thành công thì giúp cho giáo viên cũng như học sinh dễ dàng tiếp cận hơn với những kiến thức vật lí một cách toàn diện từ đó giúp các em tự tin hơn trong việc giải bài tập hay giải thích những hiện tượng vật lí từ thực tiễn cuộc sống. Từ đó tạo hiệu ứng tốt trong xã hội khi đào tạo ra thế hệ học sinh có kĩ năng toàn diện từ trong trường học đến cuộc sống thường ngày.
- 7 + Đây là một giải pháp quan trọng mà chúng tôi đưa ra nhằm chuẩn bị mọi điều kiện tốt nhất để dạy theo chương trình phổ thông mới 2018 mà bắt đầu áp dụng từ khối 10 năm học 2022-2023. III.2. Hiệu quả kinh tế xã hội + Khi học sinh hiểu và biết vận dụng các kiến thức vật lí vào trong thực tiễn cuộc sống sẽ gúp các em có nhận thức đúng về những hành động của mình. Biết sử dụng và bảo vệ các thiết bị nơi công cộng cũng như trong gia đình. Ví dụ khi học về những thiết bị điện có thể giúp cho học sinh hiểu được cấu tạo, nguyên tắc hoạt động và đặc biệt là các ứng dụng của những thiết bị điện đó trong thực tế. Từ đó, giúp cho học sinh biết cách sử dụng và bảo dưỡng đúng được các thiết bị điện của gia đình mình, làm tăng tuổi thọ của các thiết bị điện. Chẳng hạn như quạt bàn thường có giá khoảng 350000 đồng nhưng nếu biết cách sử dụng và bảo dưỡng tốt có thể dùng được vài năm ; Một tivi màn hình phẳng thế hệ mới có giá khoảng 10 triệu đồng nhưng nếu điện áp tăng giảm đột ngột, không ổn định thì tivi rất dễ hỏng màn hình hoặc giảm tuổi thọ hoặc là cháy. Nếu thay màn hình mất khoảng 7 triệu hoặc sửa chữa các chi tiết khác thì cũng mấy ít nhất 1 triệu đồng. Chúng ta hoàn toàn có thể khắc phục các sự cố trên nếu dùng một loại thiết bị điện đã học là ổn áp. Ổn áp lioa gia đình có nhiều loại nhưng có loại giá chỉ 2 triệu đồng và nếu biết cách sử dụng, chọn ổn áp phù hợp với gia đình thì sẽ giúp bảo vệ được các thiết bị điện khác trong gia đình trong đó có ti vi, tiết kiệm điện năng tiêu thụ và tăng tuổi thọ của các thiết bị cũng như của chính ổn áp. Từ đó giúp cho gia đình mình có thể tiết kiệm được khoản tiền đáng kể cho việc tiêu hao điện năng cũng như việc sửa chữa, thay thế các thiết bị điện dễ hỏng khi điện áp không ổn định. + Các em có thể sử dụng các kiến thức vật lí đã học để thiết kế các thiết bị đơn giản tham gia cuộc thi sáng tạo trẻ cấp huyện và có bốn sản phẩm được tham gia thi cấp tỉnh. + Nhiều em học sinh còn có thể tự chế tạo một số thiết bị đơn giản phục vụ cho chính gia đình mình tạo ra sức lan tỏa học tập từ lí thuyết vào thực tiễn cuộc sống, từ đó tạo được sự yên tâm của phụ huynh học sinh về sự tiến bộ của con em mình. + Các em học sinh 12 đã giải tốt các câu hỏi thực tế trong các kì thi như học kì 1, học kì 2, kì thi thử lần 1 của Sở giáo dục. IV. ĐIỀU KIỆN VÀ KHẢ NĂNG ÁP DỤNG IV.1. Điều kiện + Có sự giúp đỡ, tạo điều kiện của Ban giám hiệu nhà trường. + Có sự thống nhất của tổ nhóm chuyên môn, sự tích cực của mỗi giáo viên trong việc thay đổi phương pháp dạy học và sự chủ động lĩnh hội kiến thức của mỗi học sinh. IV.2. Khả năng áp dụng Ngày nay, khi việc áp dụng công nghệ tin học vào giảng dạy rất phổ biến, cơ sở vật chất của trường học tương đối tốt, công nghệ thông tin cũng phát triển thì việc vận dụng đề tài trên là không thể không thực hiện được. Người giáo viên có trình độ, thực sự tâm huyết với nghề thì chỉ cần tốn thêm một chút thời gian khi soạn giáo án là có thể thực hiện được một hay một số hình thức mà chúng tôi nêu ra trong giải pháp mới ở trên. Với giải pháp trên có thể áp dụng được cả khi giảng dạy theo tiết chính khóa
- 8 hay theo tiết ôn tập cho học sinh. Tuy nhiên do thời gian tiết học có hạn mà nội dung kiến thức cần truyền đạt thì nhiều nên dẫn đến giáo viên còn khó khăn trong việc làm tốt giữa hướng dẫn học sinh tiếp cận kiến thức cơ bản và hướng dẫn học sinh tự lĩnh hội kĩ năng giải bài tập, vận dụng thực tế. Lúc này đòi hỏi giáo viên phải có khả năng phân loại, chắt lọc những vấn đề thực sự cần thiết hơn khi thực hiện phân loại và hướng dẫn phương pháp cho học sinh. Nội dung của sáng kiến khá rộng bao trùm phần kiến thức của nhiều phần khác nhau của cả chương trình vật lý phổ thông hiện hành, do đó đòi hỏi mỗi giáo viên phải xác định chính xác phần nội dung soạn giảng hay phần kiến thức cần dạy cho học sinh. V. KẾT LUẬN Đây là đề tài dựa trên những kinh nghiệm của bản thân trong thực tế giảng dạy vật lí cho học sinh trung học phổ thông. Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi đã vận dụng những cơ sở dạy học, quan điểm quá trình tư duy, phân tích tình huống có vấn đề cũng như phương pháp dạy học tích cực, sử dụng các kiến thức được học trong các modul bồi dưỡng chương trình giáo dục phổ thông 2018 để nêu ra những ý kiến trong quá trình dạy và hệ thống các bài tập. Trên cơ sở nghiên cứu nhiều tài liệu như sách giáo khoa, sách bài tập, các sách tham khảo khác cũng như những tài liệu tập huấn về thay đổi phương pháp dạy học của của Bộ giáo dục, để chúng tôi đưa ra những ý kiến của mình. Nhưng phần bài tập, hiện tượng có liên quan đến thực tế chiếm tỉ trọng rất lớn trong chương trình vật lý phổ thông, do đó chúng tôi chỉ đưa được một phần và sẽ hoàn thiện dần trong những năm tiếp theo đặc biệt là khi áp dụng chương trình mới cho khối 10 năm học 2022-2023. Trong quá trình thực hiện chắc chắn không tránh được những thiếu sót rất mong được sự đóng góp ý kiến của quí thầy cô giáo để đề tài được tốt hơn. Xin trân trọng cảm ơn! Chúng tôi xin cam đoan mọi thông tin nêu trong đơn là trung thực, đúng sự thật và hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật. XÁC NHẬN CỦA LÃNH ĐẠO Kim Sơn, ngày 12 tháng 05 năm 2022 ĐƠN VỊ CƠ SỞ Người nộp đơn Bùi Thị Kim Chi Phạm Văn Đoài Phạm Trung Hiếu

