Đơn công nhận Sáng kiến Giải pháp sử dụng di sản văn hóa địa phương trong giảng dạy môn Hóa học ở trường phổ thông

docx 31 trang Chăm Nguyễn 13/11/2025 90
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Đơn công nhận Sáng kiến Giải pháp sử dụng di sản văn hóa địa phương trong giảng dạy môn Hóa học ở trường phổ thông", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docxdon_cong_nhan_sang_kien_giai_phap_su_dung_di_san_van_hoa_dia.docx

Nội dung tài liệu: Đơn công nhận Sáng kiến Giải pháp sử dụng di sản văn hóa địa phương trong giảng dạy môn Hóa học ở trường phổ thông

  1. +Kỹ năng đặt mục tiêu +Kỹ năng quản lý thời gian: +Kỹ năng tìm kiếm và xử lý thông tin Tạo điều kiện tổ chức quá trình hoạt động của giáo viên và học sinh một cách hợp lý : Khi làm việc với/ tại nơi có di sản, GV và HS phải gia tăng cường độ làm việc. GV không thuyết trình về các hiện tượng, sự vật cần tìm hiểu mà cần hướng dẫn HS tự quan sát, thu thập thông tin, trao đổi trong nhóm để xử lý các thông tin, tìm hiểu về di sản, để tìm cách trình bày lại những hiểu biết của cá nhân hoặc nhóm. Đôi khi HS có thể được yêu cầu tổ chức triển lãm những hiện vật, bài viết giới thiệu về di sản do các em thu thập được. Môi trường làm việc thay đổi đòi hỏi GV phải có phương pháp dạy học, cách thức tổ chức dạy học phù hợp, sao cho tập thể HS được lôi cuốn vào công việc tìm hiểu, nghiên cứu di sản; đòi hỏi từng HS phải làm việc thực sự và phải biết hợp tác với bạn để cùng hoàn thành nhiệm vụ được giao. Việc định hướng học sinh vào tìm hiểu những di sản văn hóa ở địa phương sẽ giúp các em cảm thấy bài học gắn bó hơn với cuộc sống ở xung quanh các em. Qua đó, sẽ bồi dưỡng học sinh tình cảm tự hào với những giá trị văn hóa truyền thống do ông cha để lại, càng thêm yêu quê hương, yêu đất nước mình hơn. Và trên hết, các em sẽ tự nảy sinh ý thức trách nhiệm đối với việc bảo tồn di sản văn hóa, cũng như kế thừa, phát huy những giá trị văn hóa tốt đẹp từ ngàn xưa trong lịch sử quê hương, đất nước. Có thể nhận thấy rõ nhất tính hơn hẳn của giải pháp mới cải tiến với giải pháp cũ thường làm thông qua bảng so sánh dưới đây: Nội dung Giải pháp cũ thường làm Giải pháp mới cải tiến - Giáo viên không sử dụng hoặc - Giáo viên chủ động, linh hoạt trong đưa quá nhiều nguồn tư liệu (di việc chọn lọc và khai thác một số di Ưu điểm sản), không chọn lọc, phân loại sản quan trọng vào trong bài dạy. được nguồn tư liệu (di sản). - Kiến thức học sinh tiếp cận - Học sinh tiếp cận khối lượng kiến nặng nề, dàn trải, khó hiểu, kém thức phong phú, dễ hiểu vì được gắn Kiến thức sinh động, hấp dẫn. liền với thực tiễn sinh động. - Không thực hiện được. - Học sinh được phát triển kĩ năng học tập, tự chiếm lĩnh kiến thức, đặc biệt Kĩ năng được giáo dục kỹ năng sống và bản lĩnh với cuộc sống thực tại. - Không thực hiện được. - Học sinh được phát triển trí tuệ và Phát triển nhân cách, tiến tới được giáo dục toàn diện. - HS ít hứng thú hơn với bài học, - Học sinh say mê, hứng thú học tập; Thái độ xem nhẹ hoặc không yêu thích từ đó hình thành thái độ đúng đắn đối môn hóa học. với môn hóa học. III. Hiệu quả kinh tế, xã hội dự kiến đạt được 1. Hiệu quả kinh tế: Dạy học gắn với di sản giúp cho học sinh lĩnh hội kiến thức một cách chủ động, sâu sắc, nhớ kỹ, hiểu lâu thuận lợi cho việc tổng hợp kiến thức nhất là phần vận dụng kiến thức trong việc giải quyết các tình huống, hiện tượng thực tế trong các đề thi THPTQG hiện nay. Do vậy khả năng đỗ vào các trường đại học cao đẳng ngay năm thi đầu tiên cao hơn , tiết kiệm được thời gian và tiền của so với những học sinh phải thi nhiều lần. Ngoài ra khi học gắn với di sản văn hóa, học sinh có ý thức quảng bá du lịch, giới thiệu về các di sản văn hóa và những địa danh du lịch nổi tiếng của nước nhà cho bạn bè trong nước và thế giới thông qua các phương
  2. tiện đại chúng, mạng xã hội như facebook, zalo... nhằm thu hút khách du lịch, tạo nguồn thu nhập quan trọng cho kinh tế nước nhà thông qua du lịch. 2. Hiệu quả xã hội: Giáo dục di sản là một trong những phương pháp nhằm bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa. Việc sử dụng di sản văn hóa trong dạy học ở trường phổ thông góp phần đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực, tăng cường hoạt động trải nghiệm gắn với thực tiễn, phương thức sử dụng di sản giúp cho học sinh hứng thú với hình thức học tập ngoài thực địa qua đó làm giảm áp lực trong các giờ học lý thuyết căng thẳng, trừu tượng trên lớp. Học tập gắn với di sản địa phương còn hình thành ở các em lòng tự hào, tự tôn dân tộc, ý thức độc lập tự chủ trong xây dựng nền kinh tế, quý trọng các truyền thống văn hóa của ông cha. Từ đó các em có ý thức trách nhiệm bảo vệ những di tích lịch sử, di sản văn hóa vật thể của địa phương, góp phần phát triển ngành du lịch Việt Nam. IV. Điều kiện và khả năng áp dụng 1. Điều kiện áp dụng: Tổ chức chuyên đề ngoại khóa : cần không gian lớn và số học sinh nhiều - Cần nhiều thời gian: Giáo viên và học sinh phải có thời gian lên kế hoạch , lựa chọn di sản, thăm quan, trải nghiệm thu thập thông tin, xử lý các thông tin về di sản nên thời gian cần nhiều hơn so với việc dạy học thông thường . - Chuẩn bị công phu: giáo viên cần chuẩn công phu về từng bước dạy học gắn với di sản, liên hệ với cán bộ văn hóa tại nơi có di sản, hướng dẫn học sinh đi tìm hiểu, thăm quan di sản, tổ chức cho học sinh báo cáo về kết quả thu được. 2. Khả năng áp dụng: Nội dung phù hợp: Sử dụng di sản văn hóa địa phương trong giảng dạy được Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định đối với các trường trung học. Tuy nhiên đối với các môn khoa học tự nhiên dạy học gắn với di sản văn hóa địa phương được thực hiện không hề dễ, chỉ có một số nội dung có thể áp dụng được. Sáng kiến trên đây có thể áp dụng lồng ghép trong việc giảng dạy môn Lịch Sử, Địa lý. Ngoài ra, còn là nguồn tư liệu để quảng bá du lịch Việt Nam, tạo điều kiện phát triển du lịch Việt Nam. Chúng tôi xin cam đoan mọi thong tin nêu trong đơn là trung thực, đúng sự thật và hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật. XÁC NHẬN CỦA LÃNH ĐẠO ĐƠN VỊ Tam Điệp, ngày 10 tháng 05 năm 2018 CƠ SỞ Người nộp đơn (Ký và ghi rõ họ tên) Nguyễn Thành Chung Phạm Thị Thanh Tuyền Hoàng Thị Thực Nguyễn Quốc Việt Phạm Thị Nhài PHỤ LỤC 1
  3. PHẦN I: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ DI SẢN VĂN HÓA a. Khái niệm, đặc điểm và phân loại di sản văn hóa * Khái niệm về di sản văn hóa: Di sản văn hoá: Bao gồm di sản văn hoá phi vật thể và di sản văn hoá vật thể ( bao gồm di sản văn hóa nhân tạo và thiên nhiên) là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử,văn hoá, khoa học, đc lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác. * Đặc điểm của di sản văn hóa Việt Nam: Di sản văn hóa Việt Nam là những giá trị kết tinh từ sự sang tạo văn hóa của cộng đồng 54 dân tộc, trải qua một quá trình lịch sử lâu đời, được trao truyền, kế thừa và tái sang tạo từ nhiều thế hệ cho tới nay . Di sản văn hóa Việt Nam là bức tranh đa dạng văn hóa, là tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và là một bộ phận của di sản văn hóa nhân loại . Di sản văn hóa Việt Nam có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dân ta Di sản văn hóa Việt Nam là những giá trị sang tạo từ việc học hỏi, giao lưu và kế thừa từ các nền văn hóa và văn minh của nhân loại với nền văn háo bản địa lâu đời của các dân tộc Việt Nam * Phân loại di sản văn hóa Việt Nam Di sản văn hóa Việt Nam được chía thành 2 loại : .Di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật thể - Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu giữ bằng trí nhớ, chữ viết, được lưu truyền bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức lưu giữ, lưu truyền khác, bao gồm tiếng nói, chữ viết, tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, ngữ văn truyền miệng, diễn xướng dân gian, lối sống, nếp sống, lễ hội, bí quyết về nghề thủ công truyền thống, tri thức về y, dược học cổ truyền, về văn hóa ẩm thực, về trang phục truyền thống dân tộc và những tri thức dân gian khác. - Di sản văn hóa vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, bao gồm di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia. + Di tích lịch sử - văn hóa là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học. + Danh lam thắng cảnh là cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc có giá trị lịch sử thẩm mỹ, khoa học. + Di vật là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học. + Cổ vật là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị tiêu biểu về lịch sử, văn hóa, khoa học, có từ một trăm năm tuổi trở lên. + Bảo vật quốc gia là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị đặc biệt quý hiếm tiêu biểu của đất nước về lịch sử, văn hóa, khoa học. PHẦN II: SỬ DỤNG DI SẢN VĂN HÓA TRONG DẠY HỌC Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG a, Những yêu cầu về sử dụng di sản văn hóa trong dạy học ở trường phổ thông - Nguyên tắc chung: Trong quá trình thực hiện, cần: Đảm bảo tính phù hợp của việc sử dụng di sản văn hóa vào bài học; Đảm bảo tính chính xác đối với các nội dung của di sản văn hóa; Đảm bảo tính khả thi trong đáp ứng yêu cầu phân phối chương trình của môn học. Xác định nội dung và thực hiện các bước chuẩn bị chu đáo Phát huy tính tích cực, chủ động của HS, tạo điều kiện cho HS trải nghiệm b, Phương thức tổ chức dạy học các nội dung di sản văn hóa trong trường phổ thông: + Lồng ghép nội dung dạy học di sản văn hóa vào các môn học, hoạt động giáo dục trong chương trình giáo dục phổ thông (nội khóa hoặc ngoại khóa).
  4. + Xây dựng kế hoạch và tổ chức dạy học, các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao có chủ đề liên quan đến di sản có tính chất điển hình và hướng dẫn học sinh tự tìm hiểu, khai thác các nội dung khác của di sản văn hóa thông qua tư liệu, hiện vật. Tổ chức chăm sóc di tích, các hoạt động giáo dục tại di tích. + Lựa chọn hình thức tổ chức dạy học phù hợp: Dạy học trên lớp hoặc tổ chức các hoạt động ngoại khóa tại nhà trường; Dạy học tại nơi có di sản văn hóa; Tổ chức tham quan - trải nghiệm di sản văn hóa; Dạy học thông qua các phương tiện truyền thông, đa phương tiện; +. Lựa chọn những phương pháp dạy học, kiểm tra, đánh giá phù hợp nhằm phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh trong việc tìm hiểu, khai thác các giá trị của di sản văn hóa. c, Vai trò của di sản: Di sản la một nguồn nhận thức , một phương tiện trực quan quý giá trong dạy học nói riêng, giáo dục nói chung . Vì vậy việc sử dụng di sản trong việc dạy học có ý nghĩa toàn diện : + Góp phần đẩy mạnh, hướng dẫn hoạt động nhận thức của học sinh : Các di sản văn hóa sử dụng trong dạy học, giáo dục góp phần nâng cao tính trực quan giúp người học mở rộng kahr năng tiếp cận với đối tượng, hiện tượng lien quan đến bài học tồn tại trong di sản . Tiếp cận với di sản học sinh sử dụng thông tin tín hiệu thứ nhất ( sử dụng các giác quan: mắt – nhìn; tai- nghe; mũi – ngửi, tay- sờ...) để nghe được, thấy được, cảm nhận được và qua đó tiếp thu những kiến thức cần thiết từ di sản. Ngoài ra các gía tri có trong di sản còn được giáo viên khai thác bằng cách đặt câu hỏi mang tính định hướng hoặc gợi ý cho học sinh tìm hiểu chúng, qua đó di sản được sử dụng như một phương tiện điều khiển quá trình nhận thức của học sinh . Những gợi ý đó giúp cho quá trình thăm quan, trải nghiệm trở nên ý nghĩa hơn, bài học sống động hơn, lý thú hơn. + Giúp học sinh phát triển kỹ năng học tập, tự chiếm lĩnh kiến thức: Di sản văn hóa là phương tiện quan trọng giúp học sinh rèn luyện một số kỹ năng học tập như kỹ năng quan sát, thu thập, xử lý thông tin qua đó tự chiếm lĩnh kiến thức cần thiết trong quá trình tiếp cạn với di sản ; kỹ năng vận dụng những kiến thức đã học để giải thích các hiện tượng , sự vật có trong di sản văn hóa + Kích thích hứng thú nhận thức của học sinh: Hứng thú nhận thức là một trong các yếu tố ảnh hưởng lớn đến cường độ và hiệu quả của quá trình học tập . Trong quá trình tiếp cận di sản văn hóa dưới sự hướng dẫn của giáo viên, các hiện tượng sự vật, các giá trị ẩn chứa trong di sản sẽ được các em tìm hiểu . Những điều tưởng như quen thuộc sẽ trở nên hấp dẫn hơn, sống động hơn và học sinh sẽ có hứng thú với chúng, từ đó các em có được động cơ học tập đúng đắn trở nên tích cực phấn đấu tiếp nhận kiến thức mới cũng như có thái độ và hành vi than thiện, bảo vệ di sản văn háo tốt hơn +Phát triển trí tuệ của học sinh : Trong quá trình học tập trí tuệ của học sinh được phát triển nhờ sự tích cực hóa các mặt khác nhau của hoạt động tư duy , nhờ việc tạo ra những hoạt động thuận lợi cho sự phát triển khác nhau của hoạt động tâm lý : tri giác, biểu tượng, trí nhớ ..... cho học sinh tiếp cận di sản đúng mục đích , đúng lúc với những phương pahps dạy học phù hợp sẽ giúp học sinh phát triển khả năng quan sát, thu thập thông tin và xử lý thông tin, khả năng phân tích, tổng hợp, so sánh qua đó phát triển trí tuệ cho các em +Giáo dục nhân cách cho học sinh: Di sản văn hóa là một trong những phương tiện dạy học sống động , đa dạng nhất. Ẩn chứa trong di sản là những giá trị lịch sử, văn hóa khoa học được lưu truyền từ thế hệ này đến thế hệ khác nên có tác động đến tình cảm tư tưởng , đạo đức, tới việc hình thành nhân cách cho học sinh - Góp phần phát triển một số kỹ năng sống cho học sinh :
  5. Để tự lực trong cuộc sống, học tập và làm việc hiệu quá, học sinh. Dạy học gắn với di sản giúp hình thành và phát triển một số kỹ năng sống như: +Kỹ năng giao tiếp: Làm việc với di sản học sinh có được môi trường giao tiếp cởi mở không chỉ trong phạm vi lớp học , đôi khi cả với người nước ngoài. Giáo viên lưu ý cách thức giao tiếp phù hợp cũng chính là góp phần phát triển kỹ năng sống cho các em +Kỹ năng lắng nghe tích cực: Người có kỹ năng lắng nghe tích cực biết thể hiện sự tập trugn chú ý và thể hiện sự quan tâm lắng nghe ý kiến hoặc phần trình bày của người khác , cho biết ý kiến pahnr hồi mà không vội đánh giá, đồng thời có đối đáp hợp lý trong quá trình giao tiếp. Giáo viên luuw ý cho học sinh lắng nghe về người giwois thiệu di sản, đưa ra các câu hỏi tìm hiểu sâu về di sản cũng chính là hướng dẫn các em phát triển kỹ năng lắng nghe tích cực +Kỹ năng trình bày suy nghĩ, ý tưởng: Cho học sinh tiếp cận di sản, giáo viên lưu ý học sinh tìm hiểu sự vật hiện tượng liên quan tới di sản một cách chi tiết, cụ thể và tạo điều kiện để học sinh trình bày được những thông tin thu được và bộc lộ những suy nghĩ của bản thân +Kỹ năng hợp tác: Trong quá trình làm việc học sinh biết chia sẻ trách nhiệm, cam kết và cùng làm việc có hiệu quả với các thành viên trong nhóm để hoàn thành nhiệm vụ giáo viên giao +Kỹ năng tư duy phê phán: Khi thu thập những thông tin về di sản, học sinh lí giải các thông tin đó , đặc biệt là các thông tin trái chiều , xác định bản chất vấn đề , tình huống, sự vật, hiện tượng, đưa ra những nhận định về mặt tích cực, hạn chế . Điều đó góp phần phát triển kỹ năng tư duy phê phán + Kỹ năng đảm nhận trách nhiệm : Việc GV giao nhiệm vụ rõ ràng, HS tiếp nhận nhiệm vụ và trao đổi nhóm, phân công nhau và thực thi nhiệm vụ được giao một cách có ý thức, nhiệt tình và có kết quả. Quá trình đó giúp cho kỹ năng đảm nhận trách nhiệm của HS được rèn luyện. + Kỹ năng đặt mục tiêu: Ở từng hoạt động cụ thể, học sinh p biết mình phải làm gì sau khi làm việc với di sản, từ đó có kế hoạch để đạt mục tiêu đề ra + Kỹ năng quản lý thời gian: Các buổi dạy học với di sản bao giờ cũng bị giới hạn bởi thời gian, dù có vận dụng phương pháp dạy học theo dự án, nghĩa là HS có vài ngày, đôi khi vài tuần để chuẩn bị, song thời gian vật chất dành cho việc này thực ra rất hạn chế. Điều đó đòi hỏi HS phải biết lên kế hoạch, sắp xếp thời gian và tuân thủ đúng kế hoạch đã định mới có thể thực hiện đầy đủ các công việc và cuối cùng có sản phẩm theo dự kiến. Nếu biết tuần tự thực hiện các bước trong cả quá trình, HS sẽ tránh được căng thẳng do áp lực công việc gây nên. Quản lí thời gian tốt góp phần rất quan trọng vào sự thành công của cá nhân và của nhóm. + Kỹ năng tìm kiếm và xử lý thông tin : Học sinh biết cách thu thập thông tin, chuẩn bị những dụng cụ để tìm kiếm thông tin, biết cách sắp xếp các thông tin thu thập được, từ đó tổng hợp, so sánh, đối chiếu lý giải các thông tin thu thập được d, Các bước xây dựng kế hoạch dạy học gắn với di sản Bước 1 : Lập danh mục di sản văn hóa tại địa phương Để có được danh mục đầy đủ nhất, giáo viên cần: - Hiểu được khái niệm và biết cách nhận diện di sản văn hóa; - Điều tra thông tin về các loại hình di sản văn hóa đang tồn tại ở địa phương, thông qua:
  6. • Tham khảo danh mục kiểm kê di sản văn hóa của Phòng Văn hóa và Thông tin quận, huyện và Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh, thành phố • Thu thập thông tin từ cộng đồng, đặc biệt là từ già làng, trưởng bản, trưởng thôn hay những người cao tuổi khác, v.v. thông qua phỏng vấn; • Tra cứu thông tin qua tư liệu sách, báo, tạp chí, băng đĩa, bài báo nghiên cứu, v.v. về di sản văn hóa tại thư viện nhà trường, thư viện huyện, thư viện tỉnh, thư viện quốc gia, v.v; • Tra cứu thông tin trên Internet. - Lập danh mục di sản văn hóa của địa phương hoặc nhóm dân tộc và mô tả tóm tắt về các di sản đó trong danh mục. Ở bước này giáo viên cần đảm bảo sự phù hợp của các di sản khai thác sử dụng với nội dung bài học. Giáo viên cần kiểm tra tính chính xác của thông tin về di sản với sự giúp đỡ của cán bộ văn hóa, nhà nghiên cứu, quản lý di sản văn hóa tại địa phương hoặc đối chiếu với các nguồn thông tin chính thống. Bước 2 : Tìm ra mối liên kết giữa nội dung bài học với di sản văn hóa của địa phương Để thực hiện bước này, giáo viên: - Nghiên cứu nội dung các bài học trong chương trình, sách giáo khoa và nội dung các di sản văn hóa tại danh mục đã lập ở Bước 1; - Lập bảng danh mục chỉ ra liên kết giữa nội dung bài học và di sản văn hóa; - Trên cơ sở bảng tổng hợp, chọn một (hoặc nhiều) di sản văn hóa, phù hợp với bài học để tiến hành thiết kế bài học sử dụng các di sản đó. Bước 3: Thiết kế bài học sử dụng di sản văn hóa 1. Nghiên cứu tài liệu liên quan đến di sản văn hóa đã lựa chọn: Trước khi tổ chức nghiên cứu tại thực địa, giáo viên - Nghiên cứu mọi tư liệu đã có liên quan đến di sản văn hóa đã được lựa chọn; - Xác định các thông tin, tư liệu cần bổ sung để xây dựng nội dung bài học; - Chuẩn bị bảng câu hỏi phỏng vấn tại thực địa về nội dung di sản văn hóa cần bổ sung; - Dự kiến các hoạt động học tập hoặc thí nghiệm, thực hành có sử dụng di sản văn hóa 2. Xây dựng kế hoạch và thiết kế bài học Trên cơ sở các di sản đã được xác định ở Bước 2, giáo viên xây dựng kế hoạch bài học hay tổ chức chương trình ngoại khóa. Nếu là tiết học thì chú ý thiết kế các hoạt động học tập cho học sinh, sử dụng các phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực phù hợp. Nếu là chương trình ngoại khóa thì có thể tổ chức dưới dạng cuộc thi giữa các đội chơi 3. Nghiên cứu, tìm hiểu về di sản trong thực tế Giáo viên tổ chức cùng học sinh nghiên cứu thực tế, khảo sát tại nơi có di sản. Việc tổ chức nghiên cứu, tìm hiểu về di sản trong thực tế không nên quá dài và nên chia thành 2 đợt, mỗi đợt khoảng 1-2 ngày: - Đợt 1: Tiến hành thu thập thông tin tại nơi có di sản thông qua cách thức phỏng vấn, ghi âm, chụp ảnh, quay phim, v.v. và kiểm chứng tính phù hợp của di sản với nội dung bài học. Kiểm chứng hoạt động học đã gợi ý có phù hợp với yêu cầu nội dung và thời lượng bài học hay không. Xác định hình thức tổ chức dạy học: trên lớp hoặc tại di sản (Bài học tại thực địa)... Nghiên cứu khả năng mời người nắm giữ, thực hành di sản tại địa phương tham gia vào hoạt động dạy học.Trong dđợt 1 GV nên vận dụng đánh giá quá trình, sử dụng phương pháp đánh giá bằng quan sát trực tiếp của mình đối với các họat động của các em trong suốt quá trình HS học tập với di sản. Để quan sát và đánh giá được mức độ đạt kết quả làm việc với di sản của HS, GV cần: + Xác định mục tiêu đánh giá, địa điểm, thời gian và đối tượng quan sát; + Xây dựng phiếu kiểm hoặc bảng tiêu chí quan sát, thang xếp hạng; + Căn cứ vào phiếu kiểm hoặc bảng các tiêu chí để ghi kết quả quan sát
  7. - Đợt 2: Bổ sung tư liệu còn thiếu sau khi chỉnh sửa lại kế hoạch bài học. Chuẩn bị hiện vật, phương tiện, đồ dùng phục vụ cho bài học. Trong trường hợp không có điều kiện để tổ chức nghiên cứu, tìm hiểu tại thực tế, giáo viên với sự trợ giúp của cán bộ văn hóa có thể tìm hiểu sâu về di sản thông qua các buổi nói chuyện, thuyết trình, giảng dạy của các nhà nghiên cứu về từng di sản văn hóa cụ thể hoặc thông qua các nguồn tư liệu phát hành chính thức và các cơ quan quản lý văn hóa. 4. Bổ sung, điều chỉnh kế hoạch bài học Dựa trên các nguồn tư liệu đã thu thập (sách, báo, tạp chí, băng đĩa, bài báo nghiên cứu, phỏng vấn, bài viết của nhà nghiên cứu, v.v.) và tư liệu thu thập từ nghiên cứu thực tế, giáo viên phối hợp với chọn lọc phần tư liệu về di sản có giá trị sử dụng hiệu quả nhất để gắn với bài học và khắc sâu kiến thức về phần này. 5. Áp dụng linh hoạt các phương pháp dạy học tích cực trong thiết kế hoạt động học tập Tùy từng môn học, thời gian và hình thức tổ chức dạy học, giáo viên có thể sử dụng các phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực để thiết kế hoạt động học tập trước, trong và sau tiết học sao cho phù hợp. Bước 4 : Giảng tập dượt, đánh giá và hoàn thiện Sau khi hoàn thành việc thiết kế bài học, nếu điều kiện cho phép, giáo viên tổ chức giảng tập dượt trong tổ bộ môn hoặc sử dụng một tiết học để giảng thử nhằm xác định: - Tính phù hợp của việc sử dụng di sản văn hóa vào bài học; - Tính khả thi trong việc đáp ứng các yêu cầu trong phân phối chương trình của môn học; - Tính chính xác của nội dung di sản văn hóa. Dựa trên những ý kiến đánh giá sau giảng tập dượt, giáo viên cần thống nhất để điều chỉnh tiến trình bài học, các hoạt động, tư liệu hình ảnh và lời giảng của giáo viên cho phù hợp và hoàn thiện kế hoạch, thiết kế bài học. Bổ sung thêm tư liệu, phương tiện phục vụ cho bài học (nếu cần). Bước 5 :Tiến hành giảng dạy bài học sử dụng di sản văn hóa Sau khi đã hoàn thành việc thiết kế cần đưa bài học vào kế hoạch giảng dạy của bộ môn trong học kỳ hoặc năm học, Ban Giám hiệu, tổ bộ môn cần theo dõi tình hình thực hiện thực tế, đánh giá và có biện pháp điều chỉnh cho phù hợp (nếu cần). Giáo viên bộ môn tổ chức giảng dạy bài học trên lớp hoặc tại di sản (tại thực địa) , hoặc tổ chức buổi ngaoij kháo theo kế hoạch và thiết kế bài học đã xây dựng (Chú ý đến công tác chuẩn bị chu đáo, đầy đủ mọi điều kiện để việc tổ chức dạy học diễn ra an toàn, đúng kế hoạch và hiệu quả). Các cơ quan quản lý giáo dục tại địa phương cần phối hợp với cơ quan quản lý, nghiên cứu về di sản văn hóa thường xuyên tổ chức dự giờ kiểm tra và đánh giá về chất lượng, hiệu quả triển khai sử dụng di sản văn hóa phi vật thể trong dạy học; đồng thời đưa ra góp ý, bổ sung và xây dựng chương trình đào tạo, bồi dưỡng và những chính sách hỗ trợ cho giáo viên.
  8. PHẦN III: CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA BÀI HỌC - Di sản văn hóa vật thể: Đền dâu thuộc địa phận phường Nam Sơn –TP Tam Điệp – Ninh Bình, đền Quán Cháo thuộc địa phận phường Tây Sơn –TP Tam Điệp –Ninh Bình đã được công nhận là di sản vật thể cấp tỉnh, đặc biệt khu danh thắng Tràng An là di sản thiên nhiên hỗn hợp đầu tiên của Việt Nam trên thế giới - Trường THPT Ngô Thì Nhậm thuộc thôn 4B, xã Đông Sơn, thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình. Đối tượng học sinh của trường THPT Ngô Thì Nhậm bao gồm nhiều học sinh có hộ khẩu thường trú tại các phường trên địa bàn thành phố, trong đó có rất nhiều gia đình học sinh ở gần đền dâu, quán cháo. Học sinh ở tất cả các lớp đều có khả năng thu thập, tìm kiếm tư liệu (tư liệu hóa học, tranh ảnh) thông qua hoạt động thực tế, trải nghiệm ở di sản gần khu vực nơi cư trú. - Về phương tiện dạy học: nhà trường đã tiến hành tổ chức cho học sinh khối 12 cùng với giáo viên nhóm Hóa học đi học tập trải nghiệm tại di sản văn hóa danh thắng Tràng An, đề Dâu, đền Quán cháo. -Sử dụng di sản trong dạy học ở trường phổ thông hiện nay nhằm đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp, hình thức tổ chức dạy học ở trường phổ thông, trong đó coi trọng giáo dục lý tưởng, giáo dục truyền thống lịch sử cách mạng, văn hóa, đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành, ý thức trách nhiệm xã hội là một hoạt động có ý nghĩa quan trọng và thiết thực trong tình hình hiện nay. -Giáo dục di sản là một trong những phương pháp nhằm bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa. Việc sử dụng di sản văn hóa trong dạy học ở trường phổ thông góp phần đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực. Qua đó, bài học trở nên sinh động, hấp dẫn và giúp học sinh hứng thú, tiếp thu bài tốt hơn. *Các bước tiến hành dạy học gắn với di sản địa phương cho Kim loại kiềm thổ và hợp chất - Bước 1: Giáo viên xây dựng kế hoạch giáo dục, soạn giáo án chi tiết, tỉ mỉ dựa trên các tài liệu Hướng dẫn dạy học môn hóa học, tài liệu giáo dục địa phương tỉnh Ninh Bình., tài liệu dạy học gắn với di sản.. - Bước 2: Lập bảng hệ thống các nội dung sử dụng di sản. - Bước 3: Liên hệ với một số hộ gia đình thuộc ở gần di sản đền dâu, quán cháo, , ban quản lí di sản, thuê xe, hướng dẫn viên, đi tiền trạm - Bước 4: Trên cơ sở lựa chọn, khoanh vùng những Hs cư trú gần địa điểm di sản, giáo viên phân công học sinh tìm hiểu, sưu tầm, thu thập các nguồn tư liệu có liên quan. - Bước 5: Thiết kế chương trình ngoại khóa, hoàn thiện hồ sơ dạy học hoàn chỉnh dựa trên kết quả đã thu thập được và xử lý hợp lý các nguồn thông tin tư liệu. - Bước 6: Giáo viên và học sinh cùng tiến hành trải nghiệm tại di sản. - Bước 7: Tổ chức các hoạt động về nhà của học sinh: Chia HS thành các nhóm giao bài tập về nhà Liên hệ thực tiễn (suy nghĩ và hành động) của học sinh về di sản và chuẩn bị tập luyện cho phần thi của 3 đội
  9. PHỤ LỤC 2 KẾ HOẠCH CHI TIẾT 1.Kế hoạch chuẩn bị cho tổ chức ngoại khóa STT Thời Nội dung công việc Người thực hiện Bộ phận Lãnh đạo gian phối hợp phụ trách 1 5/2 Tổ chức đi tham quan học tập Nhóm hóa học, tại di sản HS khối 12 2 3/3 Hoàn thành nội dung chuyên Tổ Lí –Hóa- đề Sinh - CN Đội 1 Đ/c Nhài Đội 2 Đ/c Thực Đội 3 Đ/c Việt Biên tập tài liệu nội dung Đ/c Tuyền chuyên đề 3 5/3-31/3 Tổ chức thực hiện chuyên đề Nhóm hóa học, SVTT HS các đội thi 4 25/3 Sơ duyệt phần thi chào hỏi, Đ/c Nhóm Hóa học, Đ/c Tuân, báo cáo trải nghiệm tại trường Nguyễn HS các đội thi SVTT Chung 26/3- Liên hệ với phòng Văn hóa 5 31/3 mượn hội trường, cơ sở vật BGH chất Trong Chuẩn bị máy chiếu, máy tính, Đ/c Tuân, Đ/c Đinh 6 Đ/c Việt tháng 3 chuông, đèn, bục, biển hiệu Đoàn TN Hiền 1/4 Sơ duyệt phần thi năng khiếu Nhóm hóa học, Đ/c Tuân 7 tại trường HS các đội thi SVTT 8 2-14/4 Văn nghệ ( 2 tiết mục) Đ/c Thoa Đoàn TN 9-14/4 Chuẩn bị tài liệu, chế độ, hoa Đ/c tổ Văn 9 quả, nước uống.. Đ/c Nhài Đ. Hiền phòng 9-15/4 Tổng duyệt chương trình, chạy Tổ Lí –Hóa- Nhóm Hoá, 10 sân khấu. Sinh – CN HS các đội thi SVTT 2. Tổ chức chuyên đề: - Thời gian: Từ 14h 00 ngày 16/4/2018 - Địa điểm: Nhà văn hóa TP Tam Điệp Stt Thời gian Nội dung công việc Người thực Bộ phận phối Lãnh đạo hiện hợp phụ trách 1 13h-13h30- Phụ trách sân khấu, kiểm Cán bộ phụ tra âm li, loa đài, lắp đặt Đ/c Việt, Tuân trách của phòng Đ/c Đ. Hiền máy chiếu, chuông đèn Văn hóa TP 2 13h.15phút Tập trung học sinh khối 12 Đ/c Hưng, GVCN, SVTT Đ/c Hồng + tổ Tổ Văn phòng, Đ/c N. 3 Đón tiếp khách 13h.30phút Lí- Hóa- Sinh- SVTT Chung
  10. CN 4 14h Điều hành chương trình Đ/c Thực, Nhài Đ/c Tuyền Tổ Lí –Hóa- 14h.15 - Thực hiện nội dung chuyên HS Tường Sinh, SVTT 5 16h.30 đề 12D Đ/c Việt(TB), 6 Giám khảo Huệ, P. Loan, Thanh 3. Nội dung -Khối lớp 12 gồm có 6 lớp, tổng số học sinh là 214 em. -Tổ chức cho học sinh đi tham quan trải nghiệm tại các địa điểm: Khu du lịch sinh thái Tràng An (Hoa Lư), và 2: di tích lịch sử Đền Dâu, Quán Cháo (Tam Điệp), cơ sở sản xuất thạch cao - Hình thức báo cáo chuyên đề: Sân khấu hóa - Tổ chức cho học sinh báo cáo kết quả trải nghiệm tại di sản với 3 đội thi, mỗi đội thi gồm 6 em, cử 1 học sinh làm đội trưởng (Mỗi đội lấy 1 học sinh ở 1 lớp ) Mỗi đội sẽ trải qua 4 phần thi chính thức: a. Phần thi khởi động - Thời gian : 15 phút - Nội dung: Giới thiệu đội chơi. Mỗi đội có tối đa 5 phút để giới thiệu về đội mình + Đội 1: Tràng An + Đội 2: Đá vôi + Đội 3: Thạch cao Điểm tối đa cho phần này là 30 điểm b. Phần thi vượt chướng ngại vật – Thời gian : 15 phút - Nội dung: Ba đội chơi sẽ tham gia trả lời 9 câu hỏi tương ứng với 9 bức tranh nhỏ. -Nội dung câu hỏi: Chủ đề về “Kim loại kiềm thổ và hợp chất”. Lần lượt các đội được chọn ô câu hỏi, quyền trả lời thuộc về đội có tín hiệu trả lời sớm nhất, trả lời đúng được 10 điểm, trả lời sai không bị mất điểm và không được trả lời lại. Ngoài việc trả lời được đúng các đáp án ,các đội chơi phải giải thích được bản chất hóa học của câu hỏi khi MC yêu cầu. Các đội có quyền trả lời chủ đề của bức tranh bất cứ lúc nào, trả lời đúng sẽ nhận được 30 điểm, trả lời sai bị loại khỏi cuộc chơi. Nếu các bức tranh nhỏ đã mở ra hết thì các đội chơi có 15s suy nghĩ trả lời chủ đề của bức tranh. c. Phần thi tăng tốc - Thời gian: 30 phút, - Nội dung: Báo cáo kết quả trải nghiệm di sản, mỗi đội có tối đa 10 phút Đội 1: Sự hình thành núi đá vôi, thạch nhũ trong các hang động ở Tràng An và ý nghĩa của di sản Đội 2: Ứng dụng của canxicacbonat trong di sản địa phương Đội 3: Ứng dụng của canxi sunfat và sản xuất thạch cao Điểm tối đa cho phần thi này là 40 điểm d. Phần chơi “Giao lưu với khán giả” cho học sinh khối 12 – Thời gian: 10 phút
  11. - Nội dung: MC nêu câu hỏi vui và mời 4 khán giả lên thực hành thí nghiệm kiểm chứng. Có phần quà giành cho khán giả trả lời đúng câu hỏi. e. Phần thi: Về đích. - Thời gian: 30 phút -Nội dung: Các đội sẽ thể hiện phần thi năng khiếu Mỗi đội có thời gian tối đa là 10 phút để thể hiện tài năng của mình như hát, múa, ngâm thơ, diễn kịch, kể chuyện Yêu cầu nội dung có lồng ghép kiến thức hóa học và các vấn đề di sản ở địa phương Điểm tối đa cho phần thi này là 40 điểm Đội 1: Kịch Tấm cám chảy hội tràng an Đội 2: Giới thiệu Tràng An bằng tiếng anh Đội 3: Vẽ phong cảnh Tràng An g. Phần trình diễn thời trang Mỗi lớp 12 làm 1 sản phẩm với chủ đề : nét đẹp hồi sinh. Nguyên liệu: sử dụng tái chế các nguồn nguyên liệu như giấy, túi bóng, nhựa ..