Đơn công nhận Sáng kiến Giải pháp nâng cao chất lượng đội tuyển học sinh giỏi môn Địa lí ở trường THCS Lai Thành

docx 23 trang Chăm Nguyễn 13/11/2025 90
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Đơn công nhận Sáng kiến Giải pháp nâng cao chất lượng đội tuyển học sinh giỏi môn Địa lí ở trường THCS Lai Thành", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docxdon_cong_nhan_sang_kien_giai_phap_nang_cao_chat_luong_doi_tu.docx

Nội dung tài liệu: Đơn công nhận Sáng kiến Giải pháp nâng cao chất lượng đội tuyển học sinh giỏi môn Địa lí ở trường THCS Lai Thành

  1. 2 - Giúp cho bản thân người dạy cũng như đồng nghiệp bổ sung kinh nghiệm dạy học và ôn luyện bộ môn, góp phần đẩy mạnh phong trào tự học, tự nghiên cứu của giáo viên các môn xã hội nhất là môn Địa lí. - Tăng cường trao đổi học tập kinh nghiệm từ đồng nghiệp cùng đơn vị cũng như mong muốn sự đóng góp kinh nghiệm để đồng nghiệp, góp ý kiến nhằm nâng cao chuyên môn và khả năng tự học, tự đào tạo thực hiện phương châm học thường xuyên, học suốt đời. - Khích lệ cổ vũ phong trào học tập của học sinh trong đội tuyển, tạo tiền đề cho bồi dưỡng các đội tuyển cấp THPT. 2.1. Giải pháp cũ thường làm 2.1.1. Nội dung của giải pháp Trước đây, việc bồi dưỡng học sinh giỏi chủ yếu theo phương pháp truyền thống, hoạt động “dạy” là trung tâm, giáo viên giữ vai trò là người truyền thụ kiến thức, hoạ trò là người thụ động tiếp thu kiến thức theo sự giảng giải của giáo viên. Cấu trúc một chủ đề ôn luyện là sự sắp xếp một cách công thức, cứng nhắc, chi tiết những việc làm của giáo viên và học sinh theo một trình tự nhất định. Nội dung của giáo án bồi dưỡng được giáo viên trích dẫn hay giảng giải từ những nội dung gợi ý, tìm hiểu trong SGK. Người giáo viên tuân thủ SGK một cách cứng nhắc, coi đó là tài liệu tối quan trọng trong quá trình ôn luyện. Các phương ôn luyện mà trước đây giáo viên thường áp dụng trong quá trình bồi dưỡng: - Phương pháp thuyết trình nêu vấn đề Giáo viên thường sử dụng để trình bày, giải thích nội dung bài học một cách chi tiết, dễ hiểu cho hoạc sinh tiếp thu. Đối với học sinh qua nghe giảng giải thì hiểu được vấn đề. Giáo viên thường sử dụng giửi pháp này khi tiến hành các nội dung các kiến thức cần nhớ trong bài học. - Làm việc với sách giáo khoa Đây là phương pháp giáo viên sử dụng SGK làm tư liệu duy nhất để cho học sinh ôn tập. Hệ thống câu hỏi, bài tập được lần lượt khai thác, giải quyết theo chủ định của người viết sách. - Phương pháp đàm thoại ( vấn đáp).
  2. 3 Đây là PP, giáo viên đặt ra câu hỏi để học sinh trả lời, nhằm gợi mở cho học sinh sáng tỏ những vấn đề mới, tự khai phá những tri thức mới bằng sự tái hiện những tài liệu đã học hoặc từ những kinh nghiệm đã tích luỹ trong cuộc sống, nhằm giúp học sinh cunr cố, mở rộng, đào sâu, tổng hợp, hệ thống hoá những tri thức đã tiếp cận được nhằm mục đích kiểm tra, đánh giá, giúp học sinh tự kiểm tra việc lĩnh hội tri thức. - Dạy học đọc chép Đây cũng là phương pháp rất phổ biến đối với một số giáo viên trong quá trình ôn luyện. Giáo viên đọc cho học sinh chép những nội dung mang tính “ học thuộc lòng”. Trong cách này học sinh tiếp thu một cách hoàn toàn thụ động, một chiều. - Dạy theo cách “nhồi nhét”. Đây cũng là hiện tương phổ biến, đặc biệt là đối với những giáo viên không chủ động xây dựng được kế hoạch ôn luyện, thời gian ôn luyện. Khi sắp đến thời điểm diễn ra cuộc thi, giáo viên cho học sinh học tăng cường “ nhồi nhét” càng nhiều càng tốt để đảm bảo hết nội dung trước khi dự thi. - Học sinh học thụ động, thiếu sáng tạo. Với các cách dạy học như trên, học sinh tất nhiên chỉ tiếp thu một cách thụ động. Tính chất thụ động thể hiện, học sinh thiếu hứng thú, học thuuocj lòng, ghi nhớ máy móc, mà không biết tìm tòi suy nghĩ sáng tạo. - Học sinh không biết tự học. Học sinh học thụ động thi không biết sáng tạo, không có nhu cầu tự tìm hiểu, nghiên cứu, không biết chủ động nghiên cứu tài liệu, tra cứu thông tin trên internet, không biết trọng tâm , không biết từ các đã biết suy ra cái chưa biết. Chỉ cần đề thi thay đổi câu hỏi, học sinh sẽ lúng túng không biết cách trả lời. 2.1.2. Nhược điểm của giải pháp cũ Một số nội dung trong sách giáo khoa đã quá cũ, nhữngsố liệu sử dụng trong SGK hầu như không được cập nhật. Mặc dù SGK năm nào cũng được tái bản nhưng học sinh vẫn phải tiếp cận với những số liệu có từ gần 10 năm trước. Có thể kể ra một vài ví dụ như SGK Địa lý lớp 9 tái bản tháng 3/2016 vẫn ghi dân số nước ta 79,7 triệu người trong khi từ năm 2014, dân số nước ta đã đạt ngưỡng 96,6 triệu người. Các số liệu của nền kinh tế nước ta trong chương trình Địa lý lớp 9 như nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản, công nghiệp... đều từ năm 2002 . Atlat Địa lí Việt Nam có thức thời hơn khi cập nhật đến năm 2007. Tức là các số liệu đều cập nhật cách đây trên 10 năm. Khi đưa ra tỉ trọng của các ngành công nghiệp, nông nghiệp... lại dùng số liệu cách đây hơn 10 năm làm cho học sinh không thấy được sự thay đổi
  3. 4 về cán cân giữa các ngành, trong đó ngành công nghiệp, dịch vụ ngày một phát triển mạnh mẽ.Tuy nhiên, SGK hàng năm không thể viết lại hoặc sửa chữa thay vào đó các số liệu phù hợp để in mới. Để giúp giáo viên và học sinh có thêm tài liệu, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam đã biên soạn và xuất bản cuốn “Các số liệu về kinh tế - xã hội Việt Nam” làm tài liệu tham khảo phục vụ việc giảng dạy và học tập Địa lí trong nhà trường, đáp ứng thực tiễn giảng dạy. Tuy nhiên số liệu trong cuốn này cũng mới chỉ cập nhật đến năm 2014, trong khi các đề thi chọn HSG những năm gần đây đều yêu cầu phân tích dựa trên những số liệu mới hơn. Theo chỉ đạo của Bộ GD&ĐT, giáo viên trong quá trình giảng dạy cần phải cập nhật số liệu, bổ sung thêm những nhận định, đánh giá cho phù hợp. Hằng năm, trong các lớp tập huấn bồi dưỡng cho giáo viên Địa lí, bên cạnh việc bồi dưỡng năng lực chuyên môn, sư phạm, Bộ GD&ĐT đều nhấn mạnh về việc cập nhật này. Vấn đề địa lý kinh tế - xã hội có đặc thù riêng là luôn luôn thay đổi, giáo viên cần phải cập nhật thông tin. Đối với giáo viên, khi tham gia bồi dưỡng HSG phần này bắt buộc phải tham khảo rất nhiều tài liệu từ nhiều phương tiện, phải tự mày mò do đó mất rất nhiều thời gian và công sức, tốn kém nhiều tiền bạc.Nhưng không phải nơi nào cũng có đủ điều kiện để cập nhật thông tin, hoặc không thể tiếp cận được với nguồn cung cấp số liệu chính thống. Học sinh không chủ động, không biết cách trong việc tra cứu số liệu ở các nguồn tài liệu khác hây trên các website chính thống. Việc sử dụng, kết hợp giữa lý thuyết và khai thác Átlat rất đơn điệu, không biết cách khai thác hết nội dung thể hiện trên Atlát để đưa vào bài làm. Việc nhận biết, vẽ các dạng biểu đồ, phân tích bảng số liệu, nhận xét, giải thích qua các nguồn thông tin còn hạn chế. 2.2. Giải pháp mới cải tiến Mỗi môn học trong trường THCS có những đặc trưng riêng về phương pháp cũng như kỹ năng làm bài. Qua thực tiễn bồi dưỡng đội tuyển học sinh giỏi lớp 8, 9 trường THCS Lai Thành tôi đã rút ra được các bước tiến hành như sau: 2.2.1. Bước 1: Chọn học sinh vào đội tuyển học sinh giỏi lớp 8, 9 Tuy là bộ mônít được học sinh và phụ huynh quan tâm, song nếu được quyền chọn lựa như các bộ môn xã hội khác như: Lịch sử, thì bản thân tôi nhận thấy việc chọn học sinh yêu thích có năng khiếu học giỏi bộ môn Địa lí dễ dàng hơn. Do vậy trong quá trình giảng dạy trên lớp giáo viên cần có phương pháp để thu hút học sinh bằng cách chấm chữa bài kiểm tra của học sinh, giáo viên bộ môn phải: chuẩn bị chu đáo bài dạy, sử dụng linh hoạt các phương pháp dạy học, có hệ thống câu hỏi đưa ra phù hợp với mọi đối tượng nhằm phát huy tính tíchcực, chủ động, sáng tạo của học sinh trong giờ học, nhằm cung cấp kiến thức cơ bản ở mỗi bài học cho học sinh. Đồng
  4. 5 thời có những hệ thống câu hỏi nâng cao nhằm phát hiện những học sinh có năng khiếu học giỏi bộ môn. Từ đó tiếp tục bồi dưõng nâng cao kiến thức để phát triển tài năng sẵn có của học sinh. Tổ chức tốt các giờ học trên lớp, gây hứng thú học tập của bộ môn cho học sinh trong mỗi giờ học. Khi học sinh yêu thích học tập bộ môn sẽ có ý thức tham gia đội tuyển. Yêu cầu đối với học sinh đội tuyển như sau: + Đối tượng học sinh phải thực sự ham thích học, có ý thức đam mê nghiên cứu, có năng khiếu đặc biệt về khả năng học tập. + Có những kiến thức địa lý cơ bản, ham hiểu biết, thích khám phá tìm tòi. Chính điều này là cốt lõi. Nếu được sự dìu dắt chỉ bảo của giáo viên trong quá trình bồi dưỡng, các em dễ dàng thắp sáng lên tiềm năng của mình và có những nhạy bén trong việc khám phá từ những khía cạnh sâu sắc của đề thi liên quan đến việc tìm tòi, sáng tạo tư duy địa lý. 2.2.2. Bước 2: Khi đã thành lập đội tuyển 8,9 cần thường xuyên theo dõi, kiểm tra chặt chẽ và động viên đối tượng học sinh tham gia đội tuyển từ các giờ ở trên lớp đến kiểm tra kĩ năng kiến thức - kĩ năng học bài ở nhà - Giáo viên cần có sổ nhật ký theo dõi ghi chép đánh giá từng phần cụ thể kế hoạch đã đạt được, mặt mạnh, mặt còn hạn chế của đối tượng đã lựa chọn. Từ đó, tìm ra phương pháp ôn phù hợp để tháo gỡ dần những tồn tại hạn chế cho các em. - Giáo viên thường xuyên đánh giá, kiểm tra và có thông báo chi tiết cụ thể bằng việc trả và chấm bài cho học sinh trong đội tuyển 2.2.3. Bước 3: Giáo viên chuẩn bị các nội dung ôn thi cho học sinh theo chuyên đề đã được tập huấn kết hợp với phương pháp khai thác Atlat. Ví dụ: Các chuyên đề có thể ứng dụng cụ thể như: Chuyên đề 1: Địa hình Các trang Át lát sử dụng: + Trang 4, 5: Hành chính, hình thể. +Trang 8: Địa chất, khoáng sản. + Trang 13,14: Các miền tự nhiên + Trang 26, 27, 28, 29: Trang các vùng Cách đọc một khu vực địa hình đồi núi Gợi ý cách đọc: - Giới hạn.
  5. 6 - Độ cao trung bình - Hướng nghiêng địa hình - Hướng sơn văn - Các dạng địa hình chính - Giá trị kinh tế Bài tập ứng dụng 1: Dựa vào Atlat hãy phân tích đặc điểm địa hình của Vùng núi Đông Bắc(Xem phụ lục 1, trang 29) * Đối với phần đồng bằng nên đọc và so sánh theo các tiêu chí sau: + Đồng bằng: Diện tích, hình dạng Nguyên nhân hình thành Độ cao Hướng nghiêng Đặc điểm (bề mặt, tác động của con người) Chuyên đề 2: Khí hậu Các trang Át lát sử dụng: + Trang 4, 5: Hành chính, hình thể. +Trang 8: Địa chất, khoáng sản. + Trang 13,14: Các miền tự nhiên + Trang 26, 27, 28, 29: Trang các vùng Dạng 1: Cách phân tích trạm khí hậu * Giới thiệu khái quát về trạm khí hậu (nằm ở vùng nào, tọa độ, độ cao...) * Chế độ nhiệt: - Nhiệt độ trung bình năm (minh họa- giải thích) - Nhiệt độ trung bình tháng thấp nhất (tháng mấy, ..... 0C) giải thích...... - Nhiệt độ trung bình tháng cao nhất (tháng mấy, ..... 0C) giải thích..... - Biên độ chênh lệch nhiệt:..... 0C giải thích...... - Số tháng có nhiệt độ trung bình trên 200C (Miền Bắc) - Đường biến trình nhiệt...... * Chế độ mưa - Lượng mưa trung bình năm (minh họa – giải thích).
  6. 7 - Mùa mưa: + Thời gian: + Tổng lượng mưa....... chiếm ?% + Tháng có lượng mưa lớn nhất là.... tháng, lượng mưa....... - Mùa khô: + Thời gian: + Tổng lượng mưa....... chiếm ?% + Tháng có lượng mưa ít nhất là.... tháng, lượng mưa....... - Chênh lệch mưa giữa các tháng mùa mưa – mùa khô, tháng mưa lớn nhất – nhỏ nhất. * Chế độ gió => Kiểu khí hậu Bài tập ứng dụng 2: Phân tích trạm khí hậu Lạng Sơn(Xem phụ lục 2, trang 30) Dạng 2. Bài tập về chế độ nhiệt Các dạng câu hỏi: + Phân tích đặc điểm chế độ nhiệt nước ta. + Phân tích bản đồ nhiệt độ TB năm, nhiệt độ tháng 1, tháng 7. + Chứng minh chế độ nhiệt nước ta có sự phân hóa theo chiều Bắc-Nam... Dàn ý - Khái quát chung - Đặc điểm chung chế độ nhiệt nước ta....... + Tổng nhiệt độ hoạt động... + Nhiệt độ trung bình năm... Từ đó giải thích - Chế độ nhiệt có sự phân hóa + Phân hóa theo mùa: Miền Bắc có hai mùa nóng, lạnh (minh họa và giải thích) Miền Nam nhiệt độ cao quanh năm (minh họa và giải thích) + Phân hóa theo chiều Bắc – Nam
  7. 8 (Phân tích qua nền màu) nhiệt độ trung bình năm, tháng 1, tháng 7, biên độ nhiệt, số tháng có nhiệt độ < 200C (minh họa và giải thích) (Phân tích qua trạm KH) nhiệt độ trung bình năm, tháng 1, tháng 7, biên độ nhiệt, số tháng có nhiệt độ < 200C (minh họa và giải thích). + Phân hóa Đông – Tây + Phân hóa theo độ cao => Kết luận chung Bài tập ứng dụng 3: Phân tích đặc điểm chế độ nhiệt nước ta (Xem phụ lục 3,trang 32) Chuyên đề 3: Dân cư Các trang Át lát sử dụng: + Trang 4, 5: Hành chính, hình thể. +Trang15,16: Dân số, dân tộc. + Trang 26, 27, 28, 29: Trang các vùng Cách trình bày và giải thích đặc điểm phân bố dân cư một vùng - Khái quát vùng: Diện tích, dân số; gồm bao nhiêu tỉnh, thành phố, giới hạn. - Đặc điểm phân bố + Mật độ dân số phổ biến của vùng (so với cả nước, so với vùng khác) + Phân bố không đồng đều: Giữa các khu vực: Nơi đông (mật độ), nơi thưa (mật độ). Trong nội bộ từng khu vực, giữa các tỉnh,giữa thành thị và nông thôn (nếu có) + Có sự phân hóa rõ rệt: Những nơi đông nhất, thưa nhất. - Giải thích: dựa và sự khác biệt của các nhóm nhân tố tự nhiên, kinh tế - xã hội, . Bài tập ứng dụng 4: Dựa vào Atlat kết hợp kiến thức đã học hãy trình bày và giải thích đặc điểm phân bố dân cư ở Đồng bằng sông Cửu Long(Xem phụ lục 4, trang 36) Chuyên đề 4: Các ngành kinh tế. Sử dụng Atlat các trang 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24,25 cho học sinh tìm hiểu các vấn đề: + Chuyến dịch cơ cấu ngành kinh tế
  8. 9 + Ngành nông nghiệp + Ngành công nghiệp + Ngành giao thông vận tải + Ngành thông tin liên lạc + Ngành du lịch + Ngành thương mại. Mồi ngành cho học sinh dựa vào Atlat tìm hiểu các nội dung: - Điều kiện phát triển - Tình hình phát triển - Phân bố Giáo viên có thể gợi ý cho học sinh ôn tập điều kiện phát triển này theo bảng tóm tắt sau đây: Bảng 1. Các nhân tố có ảnh hưởng đến các ngành kinh tế Điều kiện Nông Công GTVT TTLL Du lịch Thương nghiệp nghiệp mại Vị trí địa lý + + + Địa hình + + + ĐĐất + Điều Khí hậu + + + kiện tự Sông ngòi + + + + nhiên Khoáng sản + + Sinh vật + + ĐDân cư lao + + + + + + Điều động kiện Cơ sở vật + + + + + + kinh chất tế Cơ sở hạ tầng + + + + + + xã hội Thị trường + + + + + + vốn
  9. 10 Chính sách + + + + + + nhà nước (Kí hiệu +: là nhân tố có ảnh hưởng) Nhìn vào bảng 1 ta thấy: Điều kiện phát triển các ngành kinh tế gồm chủ yếu ba nhóm vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế xã hội, bảng trên tóm tắt nhân tố ảnh hưởng tới các ngành kinh tế. Dựa vào đây giáo viên có thể cho học sinh ôn phần điều kiện dễ dàng hơn, hình thành được hệ thống kiến thức dễ nhớ, lôgic. 2.2.4. Bước 4: Rèn cho học sinh kỹ năng về xử lí các bảng số liệu, nhận xét và lựa chọn vẽ các biểu đồ thích hợp 2.4.1. Lựa chọn và vẽ biểu đồ Trong đề thi học sinh giỏi tỉnh môn Địa lý, bài tập về kỹ năng xử lý số liệu và lựa chọn vẽ biểu đồ thích hợp là nội dung quan trọng. Trong nhiều trường hợp cần xử lí số liệu với những tính toán phức tạp, chúng ta phải hướng dẫn học sinh: Trước tiên cần dựa vào số liệu nào? Xử lí chúng ra sao, có chuyển từ số liệu tuyệt đối sang số liệu tương đối không? Vì sao phải như vậy, nếu vẽ biểu đồ hình tròn thì bán kính bao nhiêu... Trong các tài liệu Địa lí, các số liệu nhiều khi còn tập hợp thành các bảng, biểu. Việc hướng dẫn học sinh cần chú ý đọc tiêu đề của bảng, biểu, đọc đề mục của các cột, đơn vị thời điểm đi kèm số liệu và cả bảng chú giải. Hướng dẫn học sinh chuyển từ bảng số liệu sang biểu đồ. Chú ý hướng dẫn học sinh bảng số liệu nào thì vẽ với loại biểu đồ nào. Một số biểu đồ cơ bản, thường gặp: + Biểu đồ cột ( cột đơn, cột ghép) Khi đề bài yêu cầu thể hiện sự biến động của một đối tượng qua nhiều năm hoặc so sánh các đối tượng khi có cùng đơn vị trong một năm. Ví dụ như biểu đồ so sánh dân số, diện tích ...của 1 số tỉnh, biểu đồ so sánh sản lượng điện của 1 địa phương qua nhiều năm...
  10. 11 Biểu đồ cột chồng: Thể hiện tốt nhất quy mô và cơ cấu của đối tượng (theo tỷ lệ % tuyệt đối)
  11. 12 + Biểu đồ hình cột hoặc thanh ngang: Được sử dụng để biểu hiện động thái phát triển so sánh tương quan về độ lớn các đại lượng (Nhưng cũng có khi thể hiện cơ cấu thành phần của một tổng thể)