Đơn công nhận Sáng kiến Các giải pháp nâng cao chất lượng trong nghiên cứu khoa học kĩ thuật đối với học sinh cấpTHPT ở môn Công nghệ
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Đơn công nhận Sáng kiến Các giải pháp nâng cao chất lượng trong nghiên cứu khoa học kĩ thuật đối với học sinh cấpTHPT ở môn Công nghệ", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
don_cong_nhan_sang_kien_cac_giai_phap_nang_cao_chat_luong_tr.docx
Nội dung tài liệu: Đơn công nhận Sáng kiến Các giải pháp nâng cao chất lượng trong nghiên cứu khoa học kĩ thuật đối với học sinh cấpTHPT ở môn Công nghệ
- 3 2. Giải pháp mới cải tiến: a. Mô tả bản chất của giải pháp mới: Chất lượng nghiên cứu khoa học kĩ thuật của học sinh phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như công tác quản lí, chỉ đạo, giám sát của BGH nhà trường thì vai trò quan trọng hàng đầu là yếu tố con người: người hướng dẫn và người tham gia nghiên cứu khoa học. Xuất phát từ tình hình thực tế trên, để nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học chúng tôi đã áp dụng những giải pháp cụ thể như sau: a1. Công tác tham mưu. Do sự hiểu biết của học sinh về phong trào nghiên cứu khoa học trong nhà trường chưa đủ cả về chất và lượng. Chưa có một kênh thông tin nào thường xuyên và mạnh mẽ đưa những nội dung về vấn đề này đến học sinh, vì thế các bạn học sinh hầu hết hoặc là coi nghiên cứu khoa học là khá xa vời, chỉ dành cho những học sinh giỏi, xuất sắc, không phải là mình. Bên cạnh đó, cũng chưa có những cơ chế thu hút học sinh tham gia các hoạt động nghiên cứu khoa học. Có không ít học sinh chưa hiểu rõ nghiên cứu khoa học là như thế nào, không biết bắt đầu từ đâu hay nghiên cứu những gì. - Do vậy ngay từ đầu mỗi năm học nhóm chuyên môn xây dựng kế hoạch để tham mưu với BGH của nhà trường tổ chức cuộc thi về ý tưởng nghiên cứu KHKT cho học sinh cấp trường qua đó tuyển chọn được các ý tưởng hay có chất lượng để BGH nhà trường có hướng phân công giáo viên phụ trách hướng dẫn theo chuyên môn phù hợp. Bởi lẽ trong nghiên cứu KHKT công việc lựa chọn đề tài có chất lượng là khâu cực kỳ quan trọng và đóng vai trò then chốt trong việc thực hiện công trình khoa học. Bởi vì việc lựa chọn đúng đề tài nghiên cứu cũng giống như cầm được tấm bản đồ với đích đến chính xác trong tay, nó sẽ giúp học sinh có thể xác định đúng lĩnh vực mà mình quan tâm và xác định được phạm vi, đối tượng và mục đích của việc nghiên cứu. Tuy nhiên, để có thể lựa chọn được một đề tài hay, ý nghĩa mang tính khả thi, đồng thời có thể thực hiện trong khả năng của học sinh không hề là một chuyện dễ dàng. Học sinh cần phải có ý tưởng và hứng thú với một chủ đề nào đó, ý tưởng đó cũng cần phải đảm bảo những yếu tố về cái mới mẻ, khả năng tìm kiếm tài liệu, khả năng thực hiện, tính ứng dụng và ý nghĩa của ý tưởng. - Tham mưu với BGH nhà trường tổ chức các chuyên đề, cuộc thi: Ý tưởng, chuyên đề STEM, ngày hội STEM cấp trường, cấp tỉnh để lấy ý kiến đóng góp từ các đồng nghiệp đồng thời thông qua các buổi học tập chuyên đề của SGD&ĐT tổ chức
- 4 trao đổi với các đồng nghiệp về việc gộp các bài học, tiết dạy có kiến thức liên quan thành những chủ đề STEM, bài học STEM. - Tăng cường tổ chức các buổi hội thảo, tọa đàm trao đổi nhằm giới thiệu, trang bị cho học sinh những phương pháp học tập hiện đại, xây dựng mục tiêu thái độ học tập, nghiên cứu đúng đắn; kết hợp với việc giao lưu giữa học sinh với những người thành công trong học tập, nghiên cứu khoa học, từ đó thắp sáng ước mơ, hoài bão trong học sinh. Cần tìm hiểu nguyện vọng của học sinh trong từng khóa để tập hợp những vướng mắc và cùng giải quyết. Muốn làm tốt công tác này, giáo viênphải đi sâu, nắm rõ được tình hình học tập của từng học sinh trong lớp trong trường để có hướng bồi dưỡng. a2. Công tác tư vấn cho HS những lợi ích thiết thực khi tham gia nghiên cứu KHKT Để thu hút được tối đa lượng học sinh có hứng thú và say mê NGHIÊN CỨU KHKT thì công tác tư vấn cho HS những lợi ích thiết thực khi tham gia NGHIÊN CỨU KHKT có những lợi thế gì là rất quan trọng. Bởi lẽ: Thứ nhất, nghiên cứu KHKT không những giúp học sinh nắm chắc kiến thức mà còn tiếp cận nhiều hơn kiến thức mới Mỗi học sinh thi tham gia nghiên cứu KHKT đều đòi hỏi phải có nền tảng kiến thức cơ bản, nhưng không chỉ dừng lại ở các kiến thức đó, trong quá trình nghiên cứu còn đòi hỏi người nghiên cứu không ngừng bổ sung, hoàn thiện kiến thức của mình. Do đó việc tìm kiếm và đọc thêm các tài liệu bổ trợ là cần thiết. Điều này tạo cho học sinh kỹ năng nghiên cứu và kiến thức phục vụ cho đề tài của mình sẽ tăng lên. Đồng thời, các bạn có cơ hội được làm việc cùng với giáo viênhướng dẫn nên sẽ được định hướng và chỉ dẫn thấu đáo hơn đối với vấn đề nghiên cứu. Thứ hai, nghiên cứu KHKT giúp học sinh phát triển và rèn luyện các kỹ năng tư duy sáng tạo, làm việc độc lập và làm việc theo nhóm Khi tham gia nghiên cứu khoa học, học sinh sẽ được tiếp cận với những vấn đề cụ thể, có ý thức đào sâu suy nghĩ và tập cách tư duy để tự nghiên cứu giải quyết một vấn đề. Trong quá trình thực hiện đề tài học sinh sẽ nảy sinh ra nhiều hướng giải quyết khác nhau. Quá trình này sẽ giúp học sinh rèn luyện tư duy độc lập, biết bảo vệ lập trường khoa học của mình. Đối với đề tài khoa học do một nhóm từ hai học sinh trở lên cùng thực hiện thì việc cùng thực hiện một đề tài nghiên cứu cũng giúp học
- 5 sinh phát triển các kỹ năng làm việc theo nhóm với sự chia sẻ ý thức và trách nhiệm, thêm vào đó là biết phân công công việc phù hợp với khả năng và sở trường của từng thành viên. Thứ ba, phát triển và rèn luyện kĩ năng mềm trong đó có kỹ năng thuyết trình để bảo vệ đề tài nghiên cứu của mình Việc thực hiện và bảo vệ một đề tài nghiên cứu khoa học sẽ rèn giũa cho học sinh kỹ năng diễn đạt, trình bày một vấn đề, kỹ năng thuyết trình, tập cho học sinh phong thái tự tin khi bảo vệ trước hội đồng khoa học. Đây cũng là trải nghiệm rất quý báu và thú vị mà không phải bất kỳ học sinh nào cũng có được trong quãng đời học sinh của mình. Thứ tư, thiết lập thêm các mối quan hệ mới Nghiên cứu KHKT tạo môi trường để mở rộng mối quan hệ với bạn bè, anh chị, thầy cô trong trường và các tổ chức, cơ quan bên ngoài xã hội. Nắm trong tay những mối quan hệ tốt đẹp đó cũng là một lợi thế, để học sinh có thể học hỏi, mở mang tầm kiến thức đa đạng và phong phú hơn Điều đó sẽ tạo thuận lợi cho việc định hướng nghề nghiệp cho học sinh sau này. Thứ năm, xây dựng hành trang cho mình bằng những thành tích đạt được và cơ hội học tập lên các bậc cao hơn sau khi tốt nghiệp Bên cạnh những kiến thức và kinh nghiệm thu được thông qua việc nghiên cứu khoa học, học sinh còn tạo dựng được những thành tích tốt trong quá trình học tập. Đồng thời, những đề tài đạt giải được SGD, nhà trường và các tổ chức trong xã hội khen thưởng. Đây cũng là cách thức giúp xây dựng hành trang trước khi tốt nghiệp của mình. Với những thành tích đạt được trong quá trình học tập, những học sinh tích cực NGHIÊN CỨU KHKT sẽ có nhiều cơ hội lựa chọn vào các trường ĐH và CĐ vì hiện nay có rất nhiều trường ĐH, CĐ coi trọng học sinh đã đạt giải các cuộc thi NCKH ở các cấp bằng việc cộng điểm ưu tiên đầu vào. a3. Trong quá trình dạy học giáo viên kết nối bài học với thực tế, tổ chức hướng nghiệp, phân luồng học sinh. Theo đó, đội ngủ giáo viên giảng dạy môn Công nghệ cần nhận thức sâu sắc sự tác động của nội dung bài học gắn liền với thực tiễn, từ đó chủ động trong việc giao nhiệm vụ học tập cho học sinh để học sinh trau dồi kiến thức, kỹ năng cơ bản để nhanh chóng thích ứng tốt. Giáo viên phải quyết tâm, kiên trì và nỗ lực không ngừng trong thay đổi về phương pháp, hình thức dạy học. Tâm thế chủ động, tự tin, tâm huyết và
- 6 đam mê với hoạt động giảng dạy, luôn sáng tạo, đổi mới trong công việc, hình thành nhiều ý tưởng và biến nó thành những hoạt động thực tiễn. Môn Công nghệ có những đặc thù riêng đòi hỏi giáo viên cần vận dụng linh hoạt, sáng tạo các phương pháp dạy học và phương tiện kĩ thuật dạy học phù hợp đế đem lại hiệu quả cao, tạo được hứng thú học tập cho học sinh để hướng học sinh biến kiến thức lí thuyết trên lớp thành kĩ năng thực hành trong thực tế, góp phần định hướng cho các em ngày càng yêu thích học tập môn Công nghệ, sáng tạo kĩ thuật. a4. Giáo viên tổ chức hoạt động dạy học STEM, lựa chọn sản phẩm tham dự cuộc thi NCKH cấp trường. - Giáo viên chủ động, linh hoạt gộp các chương, bài có cùng nội dung kiến thức liên quan với nhau tạo thành các chủ đề để tổ chức dạy học theo hướng STEM - Thông qua các bài học trên lớp, giáo viên đánh thức niềm đam mê nghiên cứu khoa học của học sinh. (Giáo viên cho học sinh xem các hình ảnh, video về cuộc thi khoa học kĩ thuật cấp tỉnh và cấp quốc gia). - Giáo viên xây dựng đề tài mẫu cho học sinh: Giáo viên thiết kế một số sản phẩm mẫu, quy trình làm sản phẩm cho học sinh, phân tích một đề tài ý tưởng sơ khai đến khi hoàn thành sản phẩm theo sơ đồ sau: Vấn đề Các giải pháp Lựa chọn giải Chế tạo thử hoặc thực tiễn đưa ra pháp tối ưu làm mô hình Hoàn thiện Hoàn thiện Điều chỉnh Đánh giá sản báo cáo sản phẩm giải pháp phẩm - Căn cứ thông tư 26 ngày 26/8/2020 và thông tư 22 ngày 20/7/2021 của Bộ giáo dục và đào tạo về kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh. Từ đó các thày cô chủ động giao cho học sinh làm dự án. Giáo viên chấm bài theo các tiêu chí đã thống nhất với các nhóm. Mỗi dự án/sản phẩm gồm có 3 phần: Báo cáo sản phẩm, Poster giới thiệu sản phẩm và sản phẩm. Các nhóm học sinh có nhật kí làm việc, ghi rõ sự đóng góp của mỗi thành viên trong nhóm. - Trong quá trình học sinh làm ra sản phẩm giáo viên luôn quan tâm sát sao, nhắc nhở, điều chỉnh kịp thời từ đó lựa chọn được những học sinh có tố chất tốt, có niềm
- 7 đam mê nghiên cứu khoa học, có sản phẩm STEM tốt nhất tham gia cuộc thi nghiên cứu khoa học cấp trường. a5. Tổ chức Câu lạc bộ STEM trong nhà trường. Câu lạc bộ STEM trong nhà trường cần có những hoạt động thúc đẩy tuyên truyền, đưa các thông tin về nghiên cứu khoa học đến gần hơn với học sinh, làm cho mỗi học sinh đều tự ý thức được tầm quan trọng của hoạt động nghiên cứu khoa học và nghiên cứu khoa học không phải là một hoạt động xa vời mà rất thiết thực với bản thân học sinh. CLB là cầu nối thật sự giữa học sinh và nhà trường, các doanh nghiệp, trung tâm nghiên cứu... Ðây là một kênh thông tin chính thức, có thể bảo đảm tính chính xác trong thông tin giữa các bên. Từ đó phần nào nâng cao chất lượng và tính ứng dụng của các đề tài nghiên cứu khoa học trong học sinh. Tham gia CLB bản thân học sinh sẽ tích cực, chủ động hơn trong việc lên kế hoạch học tập và nghiên cứu, xác định mục tiêu rõ ràng, tìm hiểu và lựa chọn cho mình một phương pháp học tập, nghiên cứu hiệu quả, phù hợp. Nâng cao khả năng tự học, ngoài thời gian nghe giảng trên lớp thì học sinh cần tăng cường việc tự học, tự nghiên cứu ở nhà, ở thư viện để mở rộng và đào sâu tri thức, trong đó kỹ năng tự đọc tài liệu rất quan trọng. Tăng cường thảo luận với việc học sinh phải là tích cực trình bày quan điểm và tranh luận. Trong những năm gần đây, hoạt động nghiên cứu KHKT trong học sinh đang ngày càng phát triển với số lượng các đề tài ngày càng nhiều. Tỷ lệ học sinh quan tâm đến nghiên cứu KHKT ngày càng lớn, nhiều học sinh đã tham gia nghiên cứu KHKT; nhiều đề tài nghiên cứu có chất lượng cao đã được ứng dụng được trong thực tiễn. Việc nghiên cứu KHKT trong học sinh đang được xem như là một hoạt động phong trào. Có nhiều học sinh thật sự say mê với hoạt động nghiên cứu KHKT. a6. Xã hội hóa giáo dục trong nghiên cứu KHKT thông qua dạy học STEM Để thực hiện nhiệm vụ giáo dục trong những năm học qua nhiều trường đã triển khai hoạt động STEM như là giải pháp đột phá để đổi mới phương pháp, hình thức tổ chức dạy học. Tuy nhiên thực tế triển khai cho thấy, giáo dục STEM được tổ chức trong các trường phổ thông của nhóm chúng tôi thường tập trung qua các hình thức: dạy học tích hợp theo định hướng giáo dục STEM; sinh hoạt câu lạc bộ STEM; các cuộc thi, các hoạt động trải nghiệm sáng tạo; phối hợp tổ chức các hoạt động STEM giữa nhà
- 8 trường và các tổ chức tư nhân; các sự kiện STEM, ngày hội STEM. Qua đó đã đạt được những kết quả bước đầu, tạo tiền đề thuận lợi cho bước triển khai tiếp theo mang tính đại trà và hiệu quả. Tuy nhiên, trong quá trình triển khai giáo dục STEM vẫn còn nhiều khó khăn, xuất phát từ một số lý do sau đây: Một là: Giáo viên vẫn gặp khó khăn trong việc tổ chức các nội dung, chủ đề sao cho vừa bảo đảm yêu cầu của khung chương trình, vừa phát huy sức sáng tạo của học sinh. Hai là: Còn một bộ phận giáo viên chưa đáp ứng được yêu cầu dạy học STEM nhất là đối với các giáo viên lớn tuổi, ngại đổi mới, học hỏi. Ba là: Chưa có sự phối hợp thường xuyên, liên tục giữa hệ thống giữa các trường phổ thông với các trường đại học, viện nghiên cứu và các tổ chức, doanh nghiệp Bốn là: Điều kiện cơ sở vật chất của nhà trường và kinh phí tổ chức các hoạt động STEM chưa đáp ứng được yêu cầu đề ra. - Do cách tiếp cận khác nhau, nên STEM được hiểu và triển khai cũng theo mức độ khác nhau chủ yếu là phần kinh phí. Do vậy để đưa nhanh giáo dục STEM vào dạy học thì nhà trường cần phải tuyên truyền đến phụ huynh học sinh ngay từ đầu năm học, đặc biệt trong hội nghị phụ huynh đầu năm, để học sinh biết được ý nghĩa của khoa học kỹ thuật cũng như lợi ích của các em học sinh tham gia cuộc thi Khoa học kỹ thuật. Gặp gỡ gia đình để phụ huynh tạo điều kiện về mặt thời gian cần thiết cũng như hỗ trợ kinh phí để các em thuận lợi khi thực hiện dự án. Gặp gỡ một số tổ chức doanh nghiệp và hợp tác với các cơ sở giáo dục khác, các tổ chức xã hội, các cá nhân khác để tổ chức hoạt động STEM bằng hình thức xã hội hóa. Các tổ chức xã hội, cha mẹ học sinh trả chi phí học tập theo thỏa thuận, nhà trường có vai trò tổ chức các hoạt động STEM sau khi học sinh đã đăng kí bằng các hình thức khác nhau: câu lạc bộ STEM, sân khấu tương tác, hội thi, giao lưu... b. Tính mới, tính sáng tạo của giải pháp: b1. Đối với người thày - Việc dạy học theo quy trình thiết kế công nghệ không chỉ giúp học sinh thực hành những kỹ năng giống như những kỹ sư thực thụ trong các bộ phận làm nghiên cứu và phát triển sản phẩm, mà quan trọng hơn đó là giúp cho học sinh cảm thấy tự tin hơn vào bản thân khi tự mình có thể giải quyết được những vấn đề. - Nghiên cứu KHKT thông qua dạy học STEM là dạy cho học sinh cách giải
- 9 quyết vấn đề bằng việc sử dụng các kỹ năng tư duy phản biện. Khi trải nghiệm phương pháp giáo dục STEM, các em sẽ được học cách phân tích các vấn đề và lên kế hoạch để giải quyết chúng. - Giáo dục STEM có nhiều điểm phù hợp với nội dung đổi mới của chương trình giáo dục phổ thông 2018: Dạy học theo định hướng phát triển năng lực; vận dụng tích hợp kiến thức của nhiều môn học để giải quyết các vấn đề trong thực tiễn; nuôi dưỡng đam mê, khơi gợi tò mò, ham học hỏi cho học sinh. Đặc biệt, thông qua tổ chức các hoạt động giáo dục STEM, sẽ giúp giáo viên hiểu sâu sắc hơn về chương trình giáo dục phổ thông 2018; tin tưởng vào khả năng thay đổi tác động sư phạm có thể làm thay đổi diện mạo chất lượng giáo dục nhà trường và tự hoàn thiện năng lực nghề nghiệp của bản thân. b2. Đối với học sinh - Các đề tài nghiên cứu KHKT luôn dựa trên những những vấn đề xảy ra trong thực tế. Nhờ đó, học sinh cảm thấy những bài học trở nên sinh động và gần gũi. Các chủ đề học tập rất phong phú, không chỉ về khoa học mà còn về xã hội, văn hóa. Ở đó, học sinh được khuyến khích vận dụng óc sáng tạo về tất cả các lĩnh vực khác nhau trong đời sống để tạo ra một sản phẩm mới, có giá trị và ý nghĩa cho xã hội. - Kích thích, tăng cường mối quan hệ học tập hợp tác giữa các cá nhân học sinh với nhau để vận dụng kiến thức của các bài học đơn môn hoặc liên môn để cùng tạo thành sản phẩm gắn liền với thực tế. Tùy theo trình độ của lớp học mà các dự án có thể đi từ đơn giản đến phức tạp, thực hiện tại lớp học, tại nhà, đi thực tế hoặc tìm hiểu các nguồn dữ liệu từ trên mạng, các thư viện, bảo tàng. - Tham gia nghiên cứu KHKT học sinh thể hiện được sự khéo léo và khả năng sáng tạo, giúp các em phát minh ra những ý tưởng và dự án mang tính đổi mới. Nếu không nhờ vào sự sáng tạo, những bước phát triển vượt bậc gần đây trong các lĩnh vực trí tuệ nhân tạo và giáo dục kỹ thuật số sẽ không thể xảy ra. Chỉ những người sáng tạo mới có thể nghĩ ra những công nghệ đột phá này, họ hiểu rằng trí não con người có thể nghĩ ra việc gì, thì việc đó sẽ có khả năng trở thành hiện thực. Điểm chung của họ là được dạy bởi một người thầy STEM tuyệt vời. - Tham gia nghiên cứu KHKT, học sinh được học trong một môi trường an toàn, nơi mà các em có thể thoải mái thất bại rồi thử lại lần nữa. Phương pháp giáo dục STEM đề cao giá trị của sự thất bại như một công cụ giảng dạy quý giá, nó cho các em
- 10 biết coi trọng thất bại, và chấp nhận nó như một phần tất yếu của quá trình học. Điều này giúp học sinh rèn luyện sự tự tin và tính bền bỉ, hai đức tính không thể thiếu để các em có thể vượt qua những khó khăn sau này. Bởi dù sao đi nữa, khó khăn và thất bại là một phần tất yếu trên con đường dẫn đến thành công. - Tham gia nghiên cứu KHKT có thể áp dụng cho các học sinh ở tất cả các trình độ. Những học sinh có trình độ khác nhau vẫn có thể làm việc trong cùng một nhóm để giải quyết các vấn đề, ghi chép dữ liệu, viết báo cáo, thuyết trình và hơn thế nữa. Kết quả là những em học sinh được hợp tác với nhau và cùng phát triển trong môi trường yêu cầu khả năng năng làm việc nhóm cao. III. Hiệu quả kinh tế, xã hội dự kiến đạt được 1. Hiệu quả kinh tế: - Tiết kiệm được nhiều thời gian và công sức tìm tòi hướng đi cho những giáo viên môn công nghệ tham gia hướng dẫn học sinh nghiên cứu khoa học. - Giúp học sinh tiết kiệm được chi phí hơn khi tự nghiên cứu. 2. Hiệu quả xã hội, giáo dục: - Sáng kiến này đã được các tác giả trực tiếp triển khai thực hiện từ nhiều năm qua tại các trường THPT Trần Hưng Đạo, THPT Bình Minh, THPT Nho Quan A và được bổ sung, hoàn thiện dần qua các năm học. Qua thực nghiệm trong nhiều năm học vừa qua, kết quả sáng kiến rất hữu ích trong công tác hướng dẫn học sinh nghiên cứu khoa học, giúp tạo ra sản phẩm để tham dự cuộc thi nghiên cứu KHKT các cấp và cuộc thi sáng tạo trẻ các cấp. Hiệu quả mà sáng kiến mang lại về mặt giáo dục, xã hội chính là kết quả cuộc thi nghiên cứu KHKT các cấp và cuộc thi sáng tạo trẻ các cấp. (PHỤ LỤC 2, 3, 4,5) Giáo viên hướng Kết quả cuộc thi NCKH Kết quả cuộc thi STT Ghi chú dẫn cấp tỉnh Sáng tạo trẻ - - Năm học 2020-2021 trường THPT Trần Hưng Đơn vị đăng Đạo đạt 1 giải Nhì, 2 giải 3 cai tổ chức thi 1 Trần Văn Hanh - - Năm học 2021-2022 KHKT cấp trường THPT Trần Hưng tỉnh Đạo đạt 1 giải Nhì, 2 giải 3
- 11 - Đạt 01 giải Khuyến - Đạt 01 giải Khuyến khích năm học 2014- 2015 khích cấp tỉnh năm - Đạt 01 giải Khuyến học 2014-2015 khích năm học 2015 - - Đạt 01 giải Ba cấp 2016 huyện năm học 2014 - 2 Phạm Thanh Sơn - Đạt 01 giải Nhì năm học 2015 2016 - 2017 - Đạt 01 giải Khuyến - Đạt 01 giải Nhì năm học khích cấp tỉnh năm 2017 - 2018 học 2021 – 2022 - Đạt 01 giải Nhì năm học - Đạt 01 giải 3 cấp tỉnh 2022 - 2023 năm học 2021-2022 - Đạt 01 giải Ba năm học - Đạt 01 giải KK Quốc 2018 - 2019 gia năm học 2019- - Đạt 01 giải Nhì năm học 2020 2019 - 2020 - Đạt 01 giải Ba cấp - Đạt 01 giải Nhì năm học tỉnh năm học 2021- 3 Phạm Ngọc Kiên 2020-2021 2022 - Đạt 01 giải Nhì năm học - Đạt 01 giải Nhất cấp 2021 - 2022 huyện năm học 2021 - - Đạt 02 giải Nhì năm học 2022 2022 - 2023 Năm học 2013- 2014 phụ trách sản phẩm “ Máy cắt 4 Nguyễn Thị Hiền cỏ đa năng” đã đạt giải 3 cuộc thi khoa học kỹ thuật cấp tỉnh. - Đạt 01 giải Nhì năm học 5 Nguyễn Thị Loan 2022 - 2023 IV. Điều kiện và khả năng áp dụng Sáng kiến có thể áp dụng rộng rãi cho tất cả các giáo viên giảng dạy môn công nghệ tham gia hướng dẫn học sinh nghiên cứu khoa học. Có thể tiếp tục mở rộng và phát triển tiếp trong những năm học sau.
- 12 Danh sách những người đã tham gia áp dụng thử hoặc áp dụng sáng kiến lần đầu (nếu có): Trình Năm Chức Nội dung công TT Họ và tên Nơi công tác độ sinh danh việc hỗ trợ CM Trường THPT Hiệu Th.s 1 Trần Văn Hanh 1973 Công tác tổ chức Trần Hưng Đạo trưởng QLGD Trường THPT Giáo Hướng dẫn học 2 Nguyễn Thị Hiền 1977 ĐH Trần Hưng Đạo viên sinh nghiên cứu Trường THPT Giáo Hướng dẫn học 3 Phạm Thanh Sơn 1975 ĐH Nho Quan A viên sinh nghiên cứu Trường THPT Giáo Hướng dẫn học 4 Phạm Ngọc Kiên 1979 ĐH Bình Minh viên sinh nghiên cứu Trường THPT Giáo Hướng dẫn học 5 Nguyễn Thị Loan 1983 ĐH Bình Minh viên sinh nghiên cứu Chúng tôi xin cam đoan mọi thông tin nêu trong đơn là trung thực, đúng sự thật và hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật. Ninh Bình, ngày 20 tháng 4 năm 2023 XÁC NHẬN CỦA LÃNH ĐẠO ĐƠN VỊ Người nộp đơn 1. Trần Văn Hanh 2. Nguyễn Thị Hiền 3. Phạm Thanh Sơn 4. Phạm Ngọc Kiên 5. Nguyễn Thị Loan
- 13 PHỤ LỤC PHỤ LỤC 1: KẾ HOẠCH BÀI DẠY STEM HỆ THỐNG BƠM NƯỚC TỰ ĐỘNG KHÔNG DÙNG NHIÊN LIỆU I. MÔ TẢ CHỦ ĐỀ 1. Vấn đề thực tế - Việc cung cấp nước cho gia đình, ruộng đồng phụ thuộc nhiều vào máy bơm điện và nguồn điện. - Lợi dụng vào sự chênh lệch về áp suất của dòng nước có sẵn trong tự nhiên ( sông, suối,..). - Không sử dụng nhiên liệu, tiết kiệm chi phí, thân thiện với môi trường. 2. Sản phẩm Chuyên đề“ Hệ thống bơm nước tự động không dùng nhiên liệu” là một ý tưởng dạy học theo định hướng giáo dục STEM cho đối tượng HS lớp 11. Bằng việc thiết kế Hệ thống bơm nước tự động này HS sẽ được tìm hiểu công việc của nhà thiết kế từ việc lên ý tưởng đến việc nghiên cứu tìm hiểu kiến thức, thiết kế và chế tạo. 3. Kiến thức nền Bài 8. Thiết kế và bản vẽ kỹ thuật - Hiểu được nội dung cơ bản của công việc thiết kế. - Hiểu được các giai đoạn của quá trình thiết kế - Hiểu được vai trò của bản vẽ kĩ thuật trong thiết kế. Bài 9. Bản vẽ cơ khí - Hiểu được nội dung chính của bản vẽ chi tiết và bản vẽ lắp. - Lập bản vẽ chi tiết và bản vẽ lắp. Bài 15 - Vật liệu cơ khí - Biết được tính chất,công dụng của 1 số loại vật liệu dùng trong ngành cơ khí. 4. Cách thức tổ chức Chuyên đề “Hệ thống bơm nước tự động không dùng nhiên liệu”, được thực hiện gồm 3 tiết trong đó: - Tiết 13, 14: Giáo viên hướng dẫn các nội dung: + Thiết kế và bản vẽ kỹ thuật; + Bản vẽ cơ khí + Vật liệu cơ khí

