Đơn công nhận Sáng kiến Biện pháp rèn luyện kĩ năng sống cho học sinh Trung tâm GDNN-GDTX Yên Lạc qua đọc hiểu tác phẩm văn học

docx 28 trang Chăm Nguyễn 17/12/2025 120
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Đơn công nhận Sáng kiến Biện pháp rèn luyện kĩ năng sống cho học sinh Trung tâm GDNN-GDTX Yên Lạc qua đọc hiểu tác phẩm văn học", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docxdon_cong_nhan_sang_kien_bien_phap_ren_luyen_ki_nang_song_cho.docx
  • pdfĐơn công nhận Sáng kiến Biện pháp rèn luyện kĩ năng sống cho học sinh Trung tâm GDNN-GDTX Yên Lạc qu.pdf

Nội dung tài liệu: Đơn công nhận Sáng kiến Biện pháp rèn luyện kĩ năng sống cho học sinh Trung tâm GDNN-GDTX Yên Lạc qua đọc hiểu tác phẩm văn học

  1. BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN Tên sáng kiến: BIỆN PHÁP RÈN LUYỆN KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH TRUNG TÂM GDNN-GDTX YÊN LẠC QUA ĐỌC HIỂU TÁC PHẨM VĂN HỌC. Vĩnh Phúc, năm 2022
  2. DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT Chữ viết tắt Viết đầy đủ THPT Trung học phổ thông THCS Trung học cơ sở GV Giáo viên HS Học sinh SGK Sách giáo khoa VD Ví dụ VBVH Văn bản văn học GDNN-GDTX Giáo dục nghề nghiệp – Giáo dục thường xuyên GDTX Giáo dục thường xuyên
  3. MỤC LỤC 1. Lời giới thiệu....................................................................................................1 2. Tên sáng kiến ...................................................................................................2 3. Tác giả sáng kiến .............................................................................................2 4. Chủ đầu tư sáng tạo ra sáng kiến: .................................................................2 5. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến............................................................................2 6. Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử ............................2 7. Mô tả bản chất của sáng kiến .........................................................................2 CHƯƠNG I. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN............................................2 1. Cơ sở lí luận .................................................................................................2 2. Cơ sở thực tiễn.............................................................................................3 CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ .................................................4 1. Thuận lợi ......................................................................................................4 2. Khó khăn......................................................................................................4 CHƯƠNG III: CÁC GIẢI PHÁP, BIỆN PHÁP THỰC HIỆN ......................5 1. Biện pháp rèn luyện kỹ năng sống cho học sinh qua đọc hiểu tác phẩm văn học..............................................................................................................5 1.1. Biện pháp rèn luyện kỹ năng tìm kiếm thông tin ..............................5 1.2. Biện pháp rèn luyện kỹ năng bộc lộ cảm xúc.....................................7 1.3. Biện pháp rèn luyện kỹ năng giao tiếp ..............................................9 1.4. Biện pháp rèn luyện kỹ năng giải quyết vấn đề...............................11 1.5. Biện pháp rèn luyện kỹ năng làm việc hợp tác, thảo luận nhóm ...15 1.6. Biện pháp rèn luyện kỹ năng tự nhận thức......................................16 2. Kết quả thực nghiệm, đánh giá kết quả thực nghiệm ............................19 KẾT LUẬN ........................................................................................................20 8. Những thông tin cần được bảo mật (nếu có): không..................................20 9. Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến.............................................20 10. Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng sáng kiến theo ý kiến của tác giả và theo ý kiến của tổ chức, cá nhân đã tham gia áp dụng sáng kiến lần đầu, kể cả áp dụng thử (nếu có). ................................21 11. Danh sách những tổ chức/ cá nhân đã áp dụng thử hoặc áp dụng sáng kiến lần đầu........................................................................................................22 TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................23
  4. 1 BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN 1. Lời giới thiệu Hiện nay nước ta đang trong thời kì hội nhập kinh tế quốc tế, do đó học sinh cần được trang bị những kỹ năng sống cần thiết để bắt kịp với bước đi của thời đại. Cuộc sống hiện đại cùng với sự phát triển của internet đang “kéo” một bộ phận không nhỏ học sinh vào thế giới “ảo”, đến với thông tin tiêu cực ảnh hưởng đến sự phát triển nhân cách, lối sống khiến cho “bệnh vô cảm” gia tăng. Vì thế, chúng ta cần một nền giáo dục không còn những giáo điều lí thuyết khô khan nặng nề nữa mà thay vào đó là những bài học sinh động, thực chất để phát triển tâm hồn, nhân cách, nhân phẩm của học sinh. Việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh qua đọc hiểu tác phẩm văn học trong nhà trường THPT cũng nhằm hướng tới mục đích đó. Trong quá trình dạy học, giáo dục, bên cạnh việc hình thành các kĩ năng mang tính kĩ thuật, gắn với chuyên môn như kĩ năng soạn thảo văn bản trong môn Ngữ văn, kĩ năng sử dụng bản đồ trong môn Địa lí, kĩ năng làm thí nghiệm trong môn Hoá học, kĩ năng tính toán... các kĩ năng sống khác như tìm kiếm và xử lí thông tin; phân tích đổi chiếu; phản hồi, lắng nghe tích cực; trình bày suy nghĩ, ý tưởng; giao tiếp ứng xử với người khác; quản lí thời gian; kiềm chế cảm xúc; đặt mục tiêu... cũng luôn được hình thành, đôi khi một cách không chủ định. Tuy nhiên, những kĩ năng này, được hiểu là mục tiêu ẩn của quá trình giáo dục, lại là những thứ người học cần phải có, cần sử dụng để giải quyết các tình huống của cuộc sống. Điều đó cho thấy giáo dục kĩ năng sống là nhiệm vụ thường xuyên của ngành Giáo dục và Đào tạo. Kĩ năng sống đã được đưa vào nhà trường để giáo dục cho học sinh trung học phổ thông từ hơn 10 năm nay; tuy nhiên, hiệu quả giáo dục kĩ năng sống cho học sinh chưa cao. Do đó, chúng ta cần tăng cường giáo dục kĩ năng sống cho học sinh THPT nhằm trang bị cho học sinh những kĩ năng sống phù hợp với những phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực và con đường phù hợp hơn. Trên cơ sở đó, hình thành cho các em những hành vi, thói quen lành mạnh, tích cực; loại bỏ những hành vi, thói quen tiêu cực trong các mổi quan hệ, các tình huống hằng ngày, tạo cơ hội thuận lợi để học sinh thực hiện tốt quyền, bổn phận của mình và phát triển toàn diện về thể chất, trí tuệ, tinh thần và đạo đức. Để giáo dục kĩ năng sống cho học sinh trong nhà trường THPT đạt hiệu quả cao nhất thì bộ môn Ngữ văn giữ một vai trò đặc biệt quan trọng. Với đặc
  5. 2 trưng môn học của mình, cùng với việc hình thành được các năng lực, phẩm chất cần thiết cho người học thì bộ môn Ngữ văn sẽ giáo dục cho học sinh những kĩ năng sống cần thiết để từ đó học sinh có khả năng xử lí, giải quyết các vấn đề trong cuộc sống. Vì vậy, với vai trò là một giáo viên Ngữ văn tôi xin đưa ra đề tài: Biện pháp rèn luyện kĩ năng sống cho học sinh Trung tâm GDNN- GDTX Yên Lạc qua đọc hiểu tác phẩm văn học. 2. Tên sáng kiến Biện pháp rèn luyện kĩ năng sống cho học sinh Trung tâm GDNN-GDTX Yên Lạc qua đọc hiểu tác phẩm văn học. 3. Tác giả sáng kiến Họ và tên: Đường Thị Huệ Địa chỉ tác giả sáng kiến: Trung tâm GDNN - GDTX Yên Lạc. Số điện thoại: 0915257427 E-mail: [email protected] 4. Chủ đầu tư sáng tạo ra sáng kiến: Họ và tên: Đường Thị Huệ Địa chỉ: Trung tâm GDNN - GDTX Yên Lạc, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc. Chức vụ: Giáo viên. Số điện thoại: 0915257427 E-mail: [email protected] 5. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến Môn Ngữ văn lớp 10, 11, 12 BT THPT 6. Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử Học kì I, năm học 2021 - 2022 7. Mô tả bản chất của sáng kiến CHƯƠNG I. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Cơ sở lí luận Kỹ năng sống là một tập hợp các kỹ năng mà con người có được thông qua giảng dạy hoặc kinh nghiệm trực tiếp được sử dụng để xử lý những vấn đề, câu hỏi thường gặp trong cuộc sống hàng ngày. Bản chất của kỹ năng sống là kỹ năng tự quản lí bản thân và kỹ năng xã hội cần thiết để cá nhân tự lực trong cuộc sống, học tập và làm việc hiệu quả. Nói cách khác kỹ năng sống là khả năng làm chủ bản thân của mỗi người, khả năng ứng xử phù hợp với người khác và xã hội, khả năng ứng phó tích cực trước các tình huống của cuộc sống. Có nhiều kỹ năng sống, nhưng người ta thường nhắc đến những kỹ năng cốt lõi như: Kỹ năng
  6. 3 giải quyết vấn đề, kỹ năng giao tiếp hiệu quả, kỹ năng bộc lộ cảm xúc, kỹ năng tư duy sáng tạo, kỹ năng tự nhân thức, kỹ năng ứng phó tích cực trước các tình huống của cuộc sống Các kỹ năng này không hoàn toàn tác rời nhau mà có liên quan chặt chẽ đến nhau.Với học sinh hiện nay, việc trang bị kỹ năng sống là vô cùng cần thiết. Nhưng làm thế nào để giáo dục kỹ năng sống cho học sinh một cách hiệu quả? Kỹ năng sống chỉ được hình thành khi các em được tương tác với những vấn đề đặt ra trong cuộc sống. Trong khi đó, tác phẩm văn học có nguồn gốc từ cuộc sống, đối tượng phản ánh của văn học là cuộc sống “Tác phẩm văn học tuy phải hiện diện thành văn bản, quyển sách nhưng không đơn giản chỉ là quyển sách, là văn bản nghệ thuật mà là sự kết tinh của của một quan hệ xã hội nhiều mặt”. Như vậy, tác phẩm văn học chính là “môi trường” tối ưu để giáo dục kỹ năng sống cho học sinh. Quá trình học sinh tiếp cận tác phẩm văn học, cùng tác giả, nhân vật giải quyết những vấn đề của cuộc sống đặt ra trong tác phẩm cũng là quá trình hình thành kỹ năng sống cơ bản. 2. Cơ sở thực tiễn Học sinh cấp THPT là một lực lượng đông đảo, góp phần lớn vào sự nghiệp học tập, xây dựng, phát triển và bảo vệ đất nước. Nhưng trên thực tế việc hiểu biết của các em về kỹ năng sống vẫn còn hạn chế. Thêm vào đó, do quá tập trung vào các môn học tự nhiên nên nhiều em tự biến mình thành “cái máy tính đã được lập trình” thiếu đi những kỹ năng ứng xử xã hội cơ bản: Kỹ năng giao tiếp, kỹ năng bộc lộ cảm xúc, kỹ năng ứng xử linh hoạt trước các tình huống trong cuộc sống. Dẫn đến nhiều sinh viên ra trường nhưng không tìm được việc làm phù hợp. Giáo dục kỹ năng sống qua việc đọc hiểu tác phẩm văn học giúp các em có thể làm chủ bản thân, ứng xử phù hợp với người khác và xã hội, ứng phó linh hoạt với các tình huống trong cuộc sống. Có như vậy các em mới đạt được mục đích, ước mơ của mình.
  7. 4 CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ 1. Thuận lợi Việc tổ chức giáo dục kĩ năng sống trong trường THPT được tiến hành thông qua các môn học khác nhau, thông qua việc dạy học , qua hoạt động ngoài giờ lên lớp và hoạt động câu lạc bộ cũng không còn xa lạ với giáo viên bởi họ đã được làm quen với cách thức tổ chức này (qua các đợt tập huấn tích hợp một số mặt giáo dục khác). Đây là một trong những điều kiện thuận lợi cho việc đưa hoạt động giáo dục này vào nhà trường. Sự phối hợp chặt chẽ giáo dục kĩ năng sống với các hoạt động giáo dục vốn đã được lồng ghép vào chương trình giáo dục từ nhiều năm nay như giáo dục bảo vệ môi trường, phòng chống ma tuý, giáo dục pháp luật, sẽ tạo nhiều cơ hội và điều kiện để triển khai giáo dục kĩ năng sống. 2. Khó khăn Sự quan tâm của GV về vấn đề giáo dục kĩ năng sống cho học sinh còn nhiều hạn chế. Tổ chức giáo dục kĩ năng sống có những đặc thù riêng khác với các hoạt động giáo dục khác, nội dung giáo dục không chỉ diễn ra trong môn học mà còn thông qua một số hoạt động khác (hoạt động ngoài giờ lên lớp, câu lạc bộ,...) cho nên phải tính đến cơ sở vật chất, kinh phí thực hiện. Thói quen chú trọng vào kiến thức mang tính lý thuyết của giáo viên sẽ là cản trở lớn khi triển khai giáo dục kĩ năng sống, loại hình giáo dục nhằm tạo thói quen, thái độ, hành vi ứng xử phù hợp với các tình huống của cuộc sống. Đội ngũ GV chưa được đào tạo bài bản về kĩ năng sống, không có GV chuyên trách, cán bộ quản lý, GV còn gặp nhiều khó khăn Còn nhiều lúng túng trong việc tổ chức kĩ năng sống qua các hoạt động thích hợp, chưa tận dụng hoặc có thực hiện song không mang ý nghĩa hình thành và phát triển kĩ năng sống trong giảng dạy các môn học; Thiếu các điều kiện tối thiểu để tiến hành giáo dục kĩ năng sống trong nhà trường, trước hết là tài liệu cho GV và cho HS.
  8. 5 CHƯƠNG III: CÁC GIẢI PHÁP, BIỆN PHÁP THỰC HIỆN 1. Biện pháp rèn luyện kỹ năng sống cho học sinh qua đọc hiểu tác phẩm văn học 1.1. Biện pháp rèn luyện kỹ năng tìm kiếm thông tin 1.1.1. Biện pháp rèn luyện kỹ năng tìm kiếm thông tin bằng việc tìm kiếm thông tin nhà văn và tác phẩm từ tiểu dẫn và các nguồn tư liệu khác. Thực tế trong dạy học tác phẩm văn học, việc khai thác thông tin về nhà văn đôi khi chưa được chú trọng, giáo viên chỉ đơn thuần cho học sinh đọc phần tiểu dẫn SGK. Điều này tạo nên một lối mòn trong tư duy, sự nhàm chán từ khi bắt đầu bài học. Do đó, chúng ta cần có biện pháp tạo sức hấp dẫn, lôi cuốn, khai thác chính xác thông tin về nhà văn từ phần tiểu dẫn và các nguồn tư liệu khác. Đối với giờ học tác phẩm văn chương, thời lượng để giáo viên, học sinh khai thác thông tin về nhà văn là không nhiều chỉ có thể chiếm từ 3 -5 phút, do đó cần có những biện pháp tạo hứng thú, hoạt động của học sinh nhanh nhất. Giáo viên nên để học sinh chủ động khai thác thông tin, song giáo viên phải là người định hướng giúp học sinh tìm hiểu các thông tin chính yếu về nhà văn có liên quan đến văn bản, tạo cơ sở hiểu sâu sắc hơn tác phẩm văn học cần học. Giáo viên sẽ giao nhiệm vụ cho học sinh chuẩn bị trước ở nhà. Đến lớp, giáo viên sẽ phân chia lớp thành những nhóm nhỏ sau đó yêu cầu mỗi nhóm hãy cùng nhau thảo luận và ghi ra các thông tin mình biết về tác giả, giới hạn thời gian cuộc thi chỉ nên từ 3 đến 5 phút. Biện pháp này đòi hỏi học sinh tập trung cao độ và tạo bước đầu rèn luyện kỹ năng thảo luận nhóm.Sử dụng biện pháp tạo cuộc thi sẽ đem đến sự thi đua giữa các học sinh giúp không khí học tập sôi nổi hơn, học sinh chủ động trong việc tìm kiếm, chọn lọc thông tin. Bên cạnh đó, chúng ta có thể tiến hành biện pháp “phỏng vấn”. Biện pháp này giúp giáo viên định hướng các thông tin trọng điểm cho học sinh, tạo bầu không khí bình đẳng dân chủ, tạo điều kiện để học sinh bước đầu rèn luyện kỹ năng thuyết trình trước đám đông. VD1: Khi dạy học “Tự tình II” của Hồ Xuân Hương - GV: Nếu em là đại sứ văn học của quốc gia, khi một người khách nước ngoài yêu văn học Việt Nam, muốn tìm hiểu về “Bà chúa thơ Nôm”, em sẽ giới thiệu với họ những gì? - HS: ( Đặt mình vào vị trí của một đại sứ văn học). Nếu em là đại sứ văn học của quốc gia, trước hết em rất vui và tự hào khi thấy nền văn học nước nhà
  9. 6 được nhiều bạn đọc yêu mến. Em sẽ tự hào giới thiệu với họ về “Bà chúa thơ Nôm” như sau Việc giới thiệu tác giả nên có sự tham gia hỗ trợ của những phương tiện kĩ thuật hiện đại góp phần giúp học sinh ấn tượng mạnh và tìm thông tin nhanh hơn, đồng thời rút ngắn thời gian cho phần tìm hiểu tác giả. Đặc biệt, khi dạy học các tác phẩm văn học nước ngoài, việc giúp học sinh hiểu hơn về các nhà văn nhà thơ như: Sếch-Xpia, Puskin lại càng cần có sự tham gia của các phương tiện kĩ thuật hiện đại. Bởi lẽ, với học sinh không chỉ có khoảng cách thời gian khi tiếp nhận mà còn có khoảng cách văn hóa, địa lí. VD: Khi dạy học đoạn trích “Tình yêu và thù hận” điều đầu tiên giáo viên cần giúp học sinh ghi nhớ đó là: Sếch-Xpia là “Người khổng lồ” của nước Anh và nhân loại thời phục hưng. Vậy thời phục hưng là thời kì như thế nào? Tư liệu SGK vẫn còn chưa nhiều do đó giáo viên yêu cầu học sinh tìm kiếm thông tin cơ bản về thời phục hưng từ các nguồn tư liệu khác. Ngoài ra giáo viên có thể kết hợp cho học sinh xem một số kiệt tác hội họa của thời phục hưng, xem trích đoạn vở kịch “Rô-mê-ô và Giu-li-ét”. 1.1.2. Biện pháp rèn luyện kỹ năng tìm kiếm thông tin qua việc tìm kiếm thông tin trong tác phẩm Giáo viên xây dựng hệ thống các câu hỏi tập trung vào thông điệp thẩm mĩ của tác phẩm để bắt buộc học sinh phải đọc tác phẩm, tìm chi tiết tiêu biểu, tín hiệu thẩm mĩ trong tác phẩm. - Đối với các tác phẩm tự sự, giáo viên có thể có những câu hỏi sau: + Em hãy tóm tắt sự kiện chính diễn ra trong truyện? Truyện có mấy nhân vật. Theo em đâu là nhân vật chính? + Em thích nhân vật ( hay chi tiết) nào trong truyện? Nhân vật đó có đăc điểm gì khiến em thích? + Chi tiết nào được lặp đi lặp lại trong tác phẩm? Ý nghĩa của chi tiết đó? VD: Khi đọc hiểu tác phẩm “Hai đứa trẻ” GV: Chi tiết nghệ thuật nào được lặp đi lặp lại trong tác phẩm? Ý nghĩa của chi tiết ấy? HS: Đọc tác phẩm nhiều lần, thống kê chi tiết để có câu trả lời: + Chi tiết được lặp đi lặp đi lặp lại trong tác phẩm và chi tiết bóng tối và ánh sáng. Trong đó, chi tiết bóng tối xuất hiện nhiều hơn, đậm đặc. Tác phẩm mở ra với khung cảnh ngày tàn, ánh sáng,bóng tối tranh chấp rồi khép lại bằng một “Đêm tịnh mịch và đầy bóng tối”.
  10. 7 Ánh sáng Bóng tối - Khe sáng - Tối trên con đường thăm thẳm ra sông - Vệt sáng - Tối con đường qua chợ về nhà - Chấm lửa nhỏ bếp lửa - Các con ngõ ngập đầy bóng tối - Ánh sáng đom đóm - Ánh sáng ngọn đèn chị Tý ( lặp 7 lần) => Bóng tối lấn át ánh sáng biến phố huyện thành một căn hầm hun hút ngột ngạt đến tắc thở. - Đối với tác phẩm trữ tình, có dung lượng ngắn để học sinh có thể tìm được thông tin thẩm mĩ, giáo viên nên hướng dẫn học sinh chuẩn bị bài ở nhà với các câu hỏi như: + Em hãy đọc thầm văn bản 2 lần, đọc thành tiếng 3 lần cho biết cảm nhận chung? + Trong bài thơ nhân vật trừ tình muốn bộc lộ tâm sự gì? + Hình ảnh nào, từ ngữ nào được xem là “nhãn tự”? Việc tìm kiếm thông tin chọn lọc, chính xác về tác giả, hoàn cảnh sáng tác của tác phẩm, các thông tin thẩm mĩ trong tác phẩm tạo nên tâm thế tiếp nhận hứng thú ban đầu cho học sinh để vào thế giới nghệ thuật của tác phẩm. Qua đó giáo dục cho học sinh kỹ năng tìm kiếm thông tin cho những vấn đề đặt ra trong cuộc sống. 1.2. Biện pháp rèn luyện kỹ năng bộc lộ cảm xúc 1.2.1. Biện pháp rèn luyện kỹ năng bộc lộ cảm xúc bằng lời giới thiệu ấn tượng Môn văn là môn học mang đậm chất nghệ thuật. Do đó, lời giới thiệu hay, truyền cảm sẽ có tác dụng lôi cuốn người đọc. Giáo viên tạo một lời giới thiệu hay là cần thiết, nhưng việc học sinh tự dẫn dắt giới thiệu bài mới lại càng cầm thiết hơn. Qua việc giới thiệu bài,học sinh sẽ rèn luyện kỹ năng bộc lộ cảm xúc. Giáo viên có thể gợi dẫn cho học sinh cách vào bài như: trực tiếp giới thiệu vị trí của nhà văn, tác phẩm, so sánh với các tác giả, tác phẩm khác, gợi dẫn từ quê hương nhà văn Dù lựa chọn cách nào thì lời vào bài phải đảm bảo các yêu cầu sau: Chân thực, tự nhiên, có sự liên kết với bài học trước, không quá xa lạ, cầu kì, sáo rỗng nhưng vẫn giàu cảm xúc, đậm chất văn chương. VD: Học sinh Lê Thị Thúy Hà lớp 12A1 đã có lời dẫn vào bài “Ông già và biển cả” ( Hê Minh Uê) như sau: “Mọi tác phẩm văn học chân chính đều hướng tới giá trị cao cả khẳng định và ngợi ca con người. Nếu ở “Một con người ra đời” MacximGorki khẳng định sự tồn tại của con người ở bước khởi điểm thì Hê- minh- uê không chỉ có vậy mà
  11. 8 ông còn khẳng định ngợi ca phẩm chất cũng như tâm hồn con người qua lao động. Từ thất bại này đến thất bại khác nhưng con người vẫn không bi quan thất vọng mà sẵn sàng sống nốt những ngày còn lại đối mặt với khó khăn thử thách để chờ đợi những vinh quang sẽ tới với hi vọng và lòng tin chưa bao giờ nguội lạnh. Chúng ta sẽ thấy rõ điều đó qua đoạn trích “Ông già và biển cả” (Hê-minh- uê). 1.2.2. Biện pháp rèn luyện kỹ năng bộc lộ cảm xúc qua việc trả lời những câu hỏi định hướng cảm xúc Giáo viên cần tạo ra hệ thống câu hỏi định hướng cảm xúc để học sinh có thể rung động trước niềm vui, nỗi buồn, hạnh phúc, khổ đau... mà tác phẩm phản ánh. Hơn nữa mục đích của đọc hiểu tác phẩm văn học không chỉ là tác động đến nhận thức, cách viết, diễn đạt của học sinh mà quan trọng hơn là tác động đến tâm hồn, tình cảm của các em, hướng các em đến cái Chân – Thiện – Mĩ, vươn tới phần người. Các câu hỏi cảm xúc có thể áp dụng như: + Cảm xúc của em sau khi đọc xong tác phẩm? + Điều xúc động nhất của em khi học về tác phẩm? + Chi tiết nào trong tác phẩm làm em ấn tượng nhất? + Nếu phải chọn một hình ảnh để nhớ về tác phẩm em sẽ chọn hình ảnh nào? + Em thấy trong tác phẩm nhân vật nào khổ nhất? đáng thương nhất? vì sao? + Cảm xúc của em khi đọc đoạn văn miêu tả cử chỉ, tâm trạng nhân vật ? Trên đây chỉ là một số câu hỏi định hướng cảm xúc cho học sinh, thực tế có thể có nhiều câu hỏi khác và cũng tùy từng tác phẩm văn học giáo viên sử dụng câu hỏi phù hợp. Điều quan trọng, học sinh tự lắng nghe rung động của của tâm hồn mình và nói lên rung động đó. Từ đó, kỹ năng bộc lộ cảm xúc được hình thành. 1.2.3. Biện pháp rèn luyện kỹ năng bộc lộ cảm xúc bằng việc tạo dựng lời bình đậm chất văn để khơi gợi cảm xúc ở học sinh từ đó rèn luyện kỹ năng bộc lộ cảm xúc Nghệ thuật bình văn có một sức mạnh đặc biệt quan trọng trong giờ đọc hiểu tác phẩm văn học ở nhà trường, nó đem đến hứng thú,màu sắc văn học rõ rệt, tác động trực tiếp đến cảm xúc của các em. Tuy nhiên, trong xu hướng đổi mới phương pháp dạy học hiện nay, giáo viên nên có biện pháp giúp các em bình thơ văn. Cả giáo viên và học sinh cùng tham gia giảng bình sẽ đạt hiệu quả tốt nhất. VD: Khi dạy học bài thơ “Tự tình II” của Hồ Xuân Hương.