Báo cáo Sáng kiến Phương pháp hướng dẫn học sinh quan sát, nhận xét tìm ra đặc điểm vật mẫu để vận dụng vào bài vẽ theo mẫu đối với học sinh THCS của trường TH&THCS Kim Đồng
Bạn đang xem tài liệu "Báo cáo Sáng kiến Phương pháp hướng dẫn học sinh quan sát, nhận xét tìm ra đặc điểm vật mẫu để vận dụng vào bài vẽ theo mẫu đối với học sinh THCS của trường TH&THCS Kim Đồng", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
bao_cao_sang_kien_phuong_phap_huong_dan_hoc_sinh_quan_sat_nh.docx
Nội dung tài liệu: Báo cáo Sáng kiến Phương pháp hướng dẫn học sinh quan sát, nhận xét tìm ra đặc điểm vật mẫu để vận dụng vào bài vẽ theo mẫu đối với học sinh THCS của trường TH&THCS Kim Đồng
- 3 phương. Nhưng vật mẫu phải đảm bảo tính thẩm mĩ, đẹp về hình dáng, cấu tạo, màu sắc và hài hòa với những mẫu vật khác trong cùng một tổng thể. Ví dụ để dạy bài “Vẽ theo mẫu Lọ hoa và quả” Mĩ thuật lớp 8, thì giáo viên cần chuẩn bị vật mẫu: lọ hoa, quả cam, quả táo . 1.1.2. Bố trí lớp học Giáo viên cần chủ động trong việc bố trí lớp học sao cho hợp lí, để khi sắp đặt vật mẫu tất cả học sinh trong lớp đều có thể quan sát và vẽ được. Nếu học sinh từ 25 em trở lên ngồi trong một phòng học bàn ghế kê sát nhau theo cùng một hướng lên bảng thì việc bày mẫu trên bục bảng là điều không thể hoặc khó có thể thực hiện được. Bởi vì những học sinh ngồi cuối lớp hoặc bàn dưới sẽ không thể thấy rõ được vật mẫu (ngồi cách xa vật mẫu và bị khuất tầm nhìn). Như vậy sẽ vô hiệu khi giáo viên hướng dẫn quan sát, nhận xét. Vì vậy, giáo viên nên bố trí vị trí ngồi của lớp học theo dạng chữ U, đặt vật trên bục ở vị trí giữa lớp, giáo viên có thể chuẩn bị bục để đặt mẫu cao hơn vị trí ngồi của học sinh, giúp học sinh dễ quan sát và vẽ hiệu quả hơn. 1.1.3. Cách sắp đặt mẫu vật Đối với một bài vẽ theo mẫu, việc sắp đặt vật mẫu tạo nên bố cục đẹp, hài hòa, cân đối là rất quan trọng vì nó là yếu tố chính quyết định cho việc xây dựng bố cục hình trong bài vẽ. Thông thường đối với một bài vẽ theo mẫu sẽ có từ 2 mẫu vật trở lên, chính vì vậy việc sắp đặt mẫu vật nào trước, mẫu vật nào sau sao cho hợp lý là yêu cầu được đặt ra học sinh cần nắm rõ. Vì vậy để phát huy tính tích cực, tìm tòi, chủ động khám phá của học sinh, giáo viên nên yêu cầu các em tự sắp đặt vật mẫu và đưa ra suy nghĩ của mình về các cách đặt vật. Từ đó giáo viên sẽ nhận xét và đưa ra những nhận định về các cách đặt vật hợp lí và chưa hợp lí như sau: - Cách đặt vật chưa hợp lí: 1. Các vật mẫu đặt cách xa nhau: Tạo bố cục hình rời rạc, các vật mẫu thiếu tính liên kết, chặt chẽ với nhau. 2. Các vật mẫu đặt song song với nhau: Bố cục thiếu tính nhịp điệu.
- 4 3. Vật lớn đặt trước vật bé: Bố cục mất cân đối, không quan sát được vật nhỏ (bị khuất do vật lớn che). - Cách đặt vật hợp lí: Nên đặt vật mẫu có kích thước bé đứng trước vật mẫu có kích thước lớn hơn và che khuất một phần vật mẫu lớn. H1: Cách đặt vật chưa hợp lí H2: Cách đặt vật hợp lí 1.1.4. Hướng dẫn học sinh quan sát, nhận xét vật mẫu Giáo viên cần hướng dẫn học sinh quan sát vật mẫu đi từ bao quát chung đến chi tiết để tìm ra: - Hình dạng chung của vật mẫu: Mọi đồ vật đều có hình dáng quy về một hình dạng chung nhất định, vì vậy học sinh cần nắm được cấu tạo chung của đồ vật có hình dạng là gì? để khi vẽ bài các em sẽ biết cách thể hiện từ cái tổng thể chung của đồ vật đó trước khi đi vào chi tiết. Để thực hiện được bước này, giáo viên cần yêu cầu học sinh quan sát vật mẫu kết hợp với những câu hỏi gợi mở đưa ra nhằm giúp cho học sinh nhận biết được hình dạng chung của đồ vật. Ví dụ: Em hãy quan sát vật mẫu và cho biết cái ly có cấu tạo miệng ly và đáy ly là hình gì? => hs trả lời: hình tròn. Vậy hình dạng chung của nó sẽ là hình gì? => hs trả lời: hình trụ. Thông thường một số đồ vật có cấu tạo dù đơn giản hay phức tạp đều quy về chung một dạng hình như sau: + Đồ vật có cấu tạo mặt trên và mặt đáy là hình tròn: lọ hoa, cái cốc, cái ấm tích, cái phích, . thì hình dạng chung sẽ là hình trụ. + Vật có dạng tròn: quả cam, quả táo, quả cà chua, thì hình dạng chung sẽ là hình cầu. - Các bộ phận cấu tạo của vật mẫu: Khi học sinh đã nắm được hình dạng chung của vật mẫu, giáo viên nên hướng các em tìm hiểu, phân tích các bộ phận có trong vật mẫu. Vừa quan sát
- 5 vừa kết hợp phân tích hình dáng của vật mẫu để giúp các em nhận biết vật mẫu đó có những bộ phận nào? Vị trí của các bộ phận đó? Ở bước này, giáo viên nên yêu cầu học sinh chỉ trực tiếp vào từng bộ phận của vật mẫu và trả lời, như vậy các em sẽ chủ động trong việc khắc sâu kiến thức hơn là giáo viên tự đưa ra kết luận. Đồng thời giáo viên cần lưu ý cho học sinh biết có những đồ vật tuy cùng loại nhưng cấu tạo lại khác nhau. Ví dụ: Cùng là lọ hoa nhưng có lọ có cổ lọ, có lọ không có. Cốc có tay cầm và cốc không có tay cầm. Và quan trọng là học sinh cần quan sát nắm vững được cấu tạo của vật mẫu mà mình nghiên cứu. Đây chính là bước quan trọng nhất, vì nếu các em vẽ sót một bộ phận nào đó của vật mẫu hoặc vẽ sai vị trí của các bộ phận sẽ dẫn đến sai về đặc điểm, bài vẽ không giống mẫu. - So sánh tỉ lệ kích thước của các vật mẫu: Đối với một bài vẽ theo mẫu thông thường sẽ có 2 vật mẫu trở lên, chính vì vậy mà giáo viên cần giúp cho các em nhận biết được tỉ lệ kích thước của các vật mẫu và so sánh kích thước giữa các vật mẫu với nhau. Để làm được điều này các em cần có que đo, dây dọi. Que đo là để giúp các em đo được chiều cao, chiều rộng của từng vật mẫu và đối chiếu với vật lớn hơn nó hoặc bé hơn nó. Ví dụ: quả cam có chiều cao bằng ½ so với chiều cao của lọ. Dây dọi là để dùng đo điểm cắt, điểm giao nhau giữa các vật mẫu. Đây được xem là dụng cụ không thể thiếu trong mỗi tiết học vẽ theo mẫu. Ở bước này, học sinh cần nắm được cách sử dụng que đo, dây dọi, vì đây là thao tác cơ bản trong vẽ theo mẫu. Thao tác được thực hiện như sau: người đo cần đứng (ngồi) thẳng lưng, đưa que đo thẳng tay và nhắm một bên mắt, dồn hết thị lực vào bên mắt còn lại để quan sát, tìm ra tỉ lệ vật mẫu. Học sinh cần sử dụng que đo dây dọi một cách thuần thục, có như vậy thì dù là vật mẫu có cấu tạo đơn giản hay phức tạp thì học sinh vẫn có thể đo chính xác được mẫu vật. Nếu các em không sử dụng được dụng cụ đo này thì các em sẽ không thể biết được kích thước chính xác của các vật mẫu dẫn đến bài vẽ sai tỉ lệ về hình. Hình ảnh học sinh lớp 8 đang sử dụng que đo trong tiết học vẽ theo mẫu.
- 6 - Tương quan đậm nhạt: Để giúp các em thể hiện tốt được độ đậm, nhạt của bài vẽ dù là vẽ chì hay vẽ màu thì học sinh cần nhận biết được màu sắc của các vật mẫu, tương quan sắc độ giữa các vật mẫu, và nhận ra đồ vật nào có sắc độ đậm hơn, đồ vật nào có sắc độ nhạt hơn để thể hiện một cách chính xác. - Xác định hướng ánh sáng chính: Đối với bài vẽ theo mẫu, việc xác định nguồn ánh sáng chính chiếu vào vật mẫu là vô cùng quan trọng. Nó giúp học sinh nâng cao kỹ năng quan sát, phân tích màu sắc, giúp các em nhận ra vẽ vật mẫu không đơn thuần chỉ tô vật một màu, mà nó còn là sự pha trộn, kết hợp của nhiều màu sắc khác nhau để diễn tả phần sáng, tối trên vật mẫu. Có hai cách để xác định hướng ánh sáng chính. + Một là: Hướng ánh sáng chính được xác định nơi có nguồn ánh sáng mạnh nhất chiếu vào vật mẫu ( hướng ánh sáng từ cửa chính chiếu vào). + Hai là: Hướng ánh sáng chính được xác định dựa trên bóng đỗ của vật mẫu. Nếu bóng đỗ của vật nằm hướng bên trái, thì ánh sáng chính được xác định từ hướng bên phải chiếu vào, và ngược lại. Hướng ánh sáng chính Bóng đỗ của vật Bên cạnh đó, việc xác định nguồn ánh sáng chính còn giúp cho học sinh xác định được đâu là phần sáng nhất trên mẫu vật, để khi tiến hành vẽ màu hay đi chì thì bài vẽ của các em sẽ đảm bảo được 3 sắc độ: sáng, trung gian, tối. 1.2. Phân tích tình trạng của giải pháp đã biết Trong quá trình giảng dạy phân môn vẽ theo mẫu, bản thân xét thấy đồ dùng trực quan, tranh, ảnh, vật mẫu còn thiếu, phòng học trên lớp chưa đáp ứng đủ điều kiện về ánh sáng, bục để mẫu, góc quan sát của HS. Học sinh vẫn còn phổ biến tính thụ động, lười suy nghĩ, không có thói quen quan sát, nhận xét, thậm chí nhiều em không hề đọc bài trước trong sách giáo khoa. Khi giáo viên trưng bày vật mẫu và phân tích rất ít chú ý đến
- 7 những lời phân tích của giáo viên. Trong quá trình học tập, sau khi học xong lý thuyết vào phần thực hành, học sinh hay có thói quen nhìn vào sách giáo khoa rồi vẽ theo sách không theo sự hướng dẫn của giáo viên dẫn đến kết quả cuối cùng các em ngồi ở nhiều vị trí khác nhau nhưng đều có chung một bố cục và bài vẽ hoàn toàn giống nhau. Cho nên ảnh hưởng lớn đến chất lượng học tập và hiệu quả của bài vẽ. Môn Mĩ thuật là môn năng khiếu, vì thế sẽ không ít học sinh coi nhẹ môn này. Khi các em đã không có hứng thú học tập thì các em sẽ suy nghĩ đây chỉ là môn phụ, học để biết và mang tính chất bắt buộc. Một số học sinh chưa có ý thức trong học tập, không chuẩn bị đầy đủ dụng cụ học tập. Do học trên lớp chỉ có 45 phút, nên giáo viên khó có thể hướng dẫn cho học sinh quan sát, phân tích vật mẫu một cách sâu sát để học sinh có thể nắm được đặc điểm vật mẫu cũng như các bước tiến hành, vì phải dành phần lớn thời gian cho hoạt động thực hành và đánh giá sản phẩm. Theo điều tra riêng của tôi trong quá trình giảng dạy tại trường đối với phân môn vẽ theo mẫu thì mức độ đạt yêu cầu của phân môn này cực kì thấp so với các phân môn khác như: phân môn vẽ trang trí, phân môn vẽ tranh... 1.3. Nội dung đã cải tiến, sáng tạo để khắc phục những nhược điểm hiện tại Luật Giáo dục điều 24.2 đã ghi “ Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh: phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm đem lại niềm vui hứng thú học tập cho học sinh ”. Chính vì vậy mà khi đứng trước những thực trạng nêu trên tôi đã nghiên cứu đưa ra một số giải pháp nhằm cải tiến, sáng tạo để khắc phục những nhược điểm hiện tại như sau: - Về phòng học: Vì điều kiện nhà trường không có phòng bộ môn riêng dành cho các tiết học Mĩ thuật, nên tôi đã khắc phục những hạn chế của phòng học trên lớp bằng cách bố trí lớp học sao cho hợp lí, sử dụng rèm che để hạn chế quá nhiều nguồn sáng chiếu vào vật mẫu. - Về vật mẫu: Tôi sử dụng đa dạng các loại vật mẫu nhưng vẫn đảm bảo sát với yêu cầu của bài học và phù hợp với năng lực học sinh của mình, để các em dễ cảm nhận, dễ thể hiện. - Về hướng dẫn học sinh quan sát, nhận xét: Thay vì trước đây, giáo viên luôn là người chỉ dẫn, phân tích cho học sinh về những đặc điểm của mẫu vật, học sinh chỉ việc ngồi lắng nghe tiếp thu. Thì nay để phát huy tính tích cực, chủ động nghiên cứu, khám tri thức của học sinh, tôi đã định hướng đưa ra các bước tìm hiểu, nghiên cứu về đặc điểm vật mẫu, dựa trên các bước đó học sinh tự nghiên cứu và đưa ra những nhận định của bản thân, giáo viên lúc này sẽ là người tổng hợp và đưa ra kết luận. 1.4. Khả năng áp dụng của sáng kiến Sáng kiến kinh nghiệm có khả năng áp dụng đối với đối tượng là học sinh THCS của trường TH&THCS Kim Đồng.
- 8 Ngoài ra, sáng kiến có thể áp dụng rộng rãi đối với tất cả các trường THCS dạy bộ môn Mĩ thuật trên địa bàn huyện. 1.5. Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến - Được sự đồng ý và chấp thuận của Ban Giám hiệu nhà trường, tổ trưởng chuyên môn. - Sự chuẩn bị về cơ sở vật chất: tivi (máy chiếu), máy tính, bảng phụ, giá vẽ hoặc bàn vẽ, lớp học đảm bảo đồng bộ, đủ rộng, đủ ánh sáng, bục bày mẫu, vật mẫu theo từng đơn vị bài. - Sự chuẩn bị của học sinh: SGK, bút chì, tẩy, màu, giấy A4, que đo dây dọi. 1.6. Hiệu quả sáng kiến mang lại Trong quá trình giảng dạy và vận dụng các phương pháp hướng dẫn học sinh quan sát, nhận xét tìm ra đặc điểm vật mẫu để vận dụng vào bài vẽ theo mẫu thì bản thân nhận thấy kết quả học tập của phân môn này sau 1 thời gian được nâng cao và có hiệu quả rõ rệt, thể hiện qua từng bài vẽ của học sinh. Trong thời gian đầu khi chưa áp dụng phương pháp mới thì kết quả học sinh đạt yêu cầu qua các khối lớp được cụ thể như sau: Bố cục Vẽ hình Vẽ được Số TT Khối/ TS cân đối đúng tỉ lệ đậm nhạt Lớp HS SL % SL % SL % 1 7 33 22 66,6 19 57,6 21 63,6 2 8 49 32 65,3 30 61,2 34 69,4 3 9 21 14 66,6 13 61,9 15 71,4 Sau thời gian đã áp dụng phương pháp mới này (từ tháng 9/ 2021 đến tháng 3/ 2022) cụ thể như sau: Bố cục Vẽ hình Vẽ được Số TT Khối/ TS cân đối đúng tỉ lệ đậm nhạt Lớp HS SL % SL % SL % 1 7 33 30 90,9 29 87,8 31 93,9 2 8 49 45 91,8 43 89,8 46 93,8 3 9 21 19 90,5 17 80,9 20 95,2 Qua số liệu dẫn chứng trên, cho thấy học sinh đã có sự tiến bộ và yêu thích khi học phân môn này. - Học sinh đã hình thành được kỹ năng quan sát, nhận xét vật mẫu, từ đó dễ dàng áp dụng vào thực hành vẽ theo mẫu, các em không còn vẽ theo quán tính, hay nhìn vào SGK để vẽ một cách máy móc như trước đây. - Học sinh nắm vững được các phương pháp chính trong học vẽ phân môn này, bước đầu có những bài vẽ tốt về hình, về bố cục, tỉ lệ, đậm, nhạt .
- 9 - Nhận thức của học sinh ngày càng được nâng cao và có ý thức hơn trong học phân môn vẽ theo mẫu cũng như các phân môn khác và có cơ sở để làm nền tảng cho các cấp học tiếp theo. - Học sinh chăm học hơn, có sự yêu thích đối với bộ môn Mĩ thuật nói chung và phân môn vẽ theo mẫu nói riêng. Chất lượng bộ môn ngày càng được nâng cao. 2. Những thông tin cần được bảo mât: không có 3. Danh sách những thành viên đã tham gia áp dụng thử hoặc áp dụng sáng kiến lần đầu: không có 4. Hồ sơ kèm theo: Một số bài vẽ của học sinh trước và sau khi áp dụng sáng kiến.
- 10 Bài vẽ của học sinh trước khi áp dụng sáng kiến Cái cốc và quả_ Bài vẽ chì của Hồ Minh Khôi (lớp 7)
- 11 Lọ hoa và quả_ Bài vẽ màu của Hồ Thị Linh (lớp 8)
- 12 Lọ, hoa và quả_ Bài vẽ màu của Hồ Thị Mai Diệu (lớp 9)
- 13 Bài vẽ của học sinh sau khi áp dụng sáng kiến Cái cốc và quả_ Bài vẽ chì của Hồ Thị Thanh Trúc (lớp 7)

