Báo cáo Sáng kiến Nâng cao hiệu quả tiết dạy học nói và nghe đối với học sinh Lớp 6

docx 17 trang Chăm Nguyễn 01/07/2025 650
Bạn đang xem tài liệu "Báo cáo Sáng kiến Nâng cao hiệu quả tiết dạy học nói và nghe đối với học sinh Lớp 6", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docxbao_cao_sang_kien_nang_cao_hieu_qua_tiet_day_hoc_noi_va_nghe.docx

Nội dung tài liệu: Báo cáo Sáng kiến Nâng cao hiệu quả tiết dạy học nói và nghe đối với học sinh Lớp 6

  1. DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT Stt Từ viết tắt Nghĩa 1 TT - BGDĐT Thông tư – Bộ giáo dục đào tạo 2 SGK sách giáo khoa 3 HS học sinh 4 GV giáo viên 5 VD ví dụ 6 THCS Trung học cơ sở 3
  2. MỤC LỤC Stt Nội dung Trang 1 I. Mở đầu 4 2 1. Tính cấp thiết của vấn đề 4 3 2. Mục tiêu 4 4 3. Đối tượng và phương pháp thực hiện 5 5 II. Nội dung 5 6 1. Cơ sở lý luận 5 7 2. Thực trạng 6 8 3. Các biện pháp thực hiện 7 9 a. Tổ chức dạy học nói 8 10 b. Tổ chức dạy học hoạt động nghe và tương tác 10 11 3. Thực nghiệm sư phạm 13 12 III. Kết luận và kiến nghị 14 13 1. Ưu điểm và hạn chế 14 14 2. Phương hướng khắc phục các hạn chế 14 15 3. Khả năng triển khai rộng rãi biện pháp 14 4
  3. NỘI DUNG BÁO CÁO I. Mở đầu 1. Tính cấp thiết của vấn đề: Chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ văn 2018 được Bộ Giáo dục ban hành kèm theo Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT về chương trình giáo dục phổ thông mới. Chương trình giáo dục tổng thể môn Ngữ văn được xây dựng theo hướng mở, lấy các kỹ năng giao tiếp (đọc, viết, nói và nghe) làm định hướng chính của cả ba cấp học. Thông qua các văn bản ngôn từ và những hình tượng nghệ thuật sinh động trong các tác phẩm văn học, bằng hoạt động đọc, viết, nói và nghe, môn Ngữ văn có vai trò to lớn trong việc giúp học sinh hình thành và phát triển những phẩm chất tốt đẹp cũng như các năng lực cốt lõi để sống và làm việc hiệu quả, để học suốt đời. Trong đó phần Nói và nghe là một trong những điểm nhấn nổi bật, thể hiện việc hiện thực hóa các yêu cầu cần đạt của việc dạy học Ngữ văn theo quan điểm giao tiếp và phát triển năng lực. Tiết học Nói và nghe là tiết học vô cùng quan trọng trong chương trình Ngữ văn. Nói và nghe không chỉ rèn cho học sinh nói đúng, nói logic, nói diễn cảm mà còn biết nghe, cảm thụ và đánh giá bài nói, người nói. Từ đó biết rút kinh nghiệm cho bản thân. Nói và nghe là một trong những kĩ năng rất quan trọng trong giao tiếp. Chính vì thế, trong quá trình tổ chức dạy học, giáo viên cần chú ý đến việc tổ chức hoạt động nói và nghe, cần linh hoạt các hình thức tổ chức dạy học để nhằm phát triển năng lực ngôn ngữ, năng lực văn học và các năng lực chung của học sinh. 2. Mục tiêu Chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ văn (Ban hành kèm theo Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT ngày 26 tháng 12 năm 2018 của Bộ trưởng Bộ giáo dục và Đào tạo) xác định mục tiêu chung của chương trình Ngữ văn: Góp phần giúp học sinh phát triển các năng lực chung: năng lực tự chủ và tự học, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo. Đặc biệt, môn Ngữ văn giúp học sinh phát triển năng lực ngôn ngữ và năng lực văn học: rèn luyện các kĩ năng đọc, viết, nói và nghe; có hệ thống kiến thức phổ thông nền tảng về tiếng Việt và văn học, phát triển tư duy hình tượng và tư duy logic, góp phần hình thành học vấn căn bản của một người có văn hoá; biết tạo lập các văn bản thông dụng; biết tiếp nhận, đánh giá các văn bản văn học nói riêng, các sản phẩm giao tiếp và các giá trị thẩm mĩ nói chung trong cuộc sống. 5
  4. Để đạt được mục tiêu môn học, việc dạy học phải thông qua những kiến thức phổ thông cơ bản về tiếng Việt, văn học bằng các hoạt động đọc, viết, nói, nghe các kiểu loại văn bản. Trong đó mục đích của việc tổ chức tiết dạy học nói và nghe là để giúp học sinh có khả năng diễn đạt, trình bày bằng ngôn ngữ nói một cách rõ ràng, tự tin; có khả năng hiểu đúng; biết tôn trọng người nói, người nghe; có thái độ phù hợp trong trao đổi, thảo luận. Dạy nói và nghe không chỉ phát triển năng lực giao tiếp mà còn giáo dục phẩm chất và nhân cách học sinh. Vì vậy, với biện pháp nâng cao hiệu quả tiết dạy học nói và nghe, tôi muốn được chia sẻ phần nào những biện pháp dạy học mà bản thân tôi đã nghiên cứu, thực nghiệm và thấy hiệu quả khi áp dụng với tiết dạy học nói và nghe của chương trình sách giáo khoa mới 2018 để các thầy cô tham khảo. 3. Đối tượng và phương pháp thực hiện - Đối tượng: Học sinh lớp 6 Trường THCS Thị Trấn Tiên Lãng, huyện Tiên Lãng. - Phương pháp thực hiện: Kết hợp linh hoạt, hiệu quả các phương pháp dạy học bao gồm: Phát huy tính tích cực của người học, dạy học tích hợp và phân hóa; đa dạng hóa các phương pháp, hình thức tổ chức và phương tiện dạy học. II. NỘI DUNG 1. Cơ sở lý luận: Chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ văn (Ban hành kèm theo Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT ngày 26 tháng 12 năm 2018 của Bộ trưởng Bộ giáo dục và Đào tạo) xác định: - Về đặc điểm môn học: Thông qua các văn bản ngôn từ và những hình tượng nghệ thuật sinh động trong các tác phẩm văn học, bằng hoạt động đọc, viết, nói và nghe, môn Ngữ văn có vai trò to lớn trong việc giúp học sinh hình thành và phát triển những phẩm chất tốt đẹp cũng như các năng lực cốt lõi để sống và làm việc hiệu quả, để học suốt đời. -Về quan điểm xây dựng chương trình Ngữ văn 2018: Chương trình lấy việc rèn luyện các kĩ năng giao tiếp (đọc, viết, nói và nghe) làm trục chính xuyên suốt cả ba cấp học nhằm đáp ứng yêu cầu của chương trình theo định hướng năng lực và bảo đảm tính chỉnh thể, sự nhất quán liên tục trong tất cả các cấp học, lớp học. Các kiến thức phổ thông cơ bản, nền tảng về tiếng Việt và văn học được hình thành qua hoạt động dạy học tiếp nhận và tạo lập văn bản; phục vụ trực tiếp cho yêu cầu rèn luyện các kĩ năng đọc, viết, nói và nghe. 6
  5. - Về nội dung giáo dục môn Ngữ văn: * Yêu cầu cần đạt về các kĩ năng nói và nghe + Kĩ năng nói: Gồm các yêu cầu về âm lượng, tốc độ, sự liên tục, cách diễn đạt, trình bày, thái độ, sự kết hợp các cử chỉ, điệu bộ, phương tiện hỗ trợ khi nói ... + Kĩ năng nghe: Gồm các yêu cầu về cách nghe, cách ghi chép, hỏi đáp, thái độ, sự kết hợp các cử chỉ, điệu bộ khi nghe, nghe qua các phương tiện kĩ thuật + Kĩ năng nói và nghe có tính tương tác: Gồm các yêu cầu về thái độ, sự tôn trọng nguyên tắc hội thoại và các quy định trong thảo luận, phỏng vấn * Yêu cầu cụ thể đối với lớp 6: - Nói + Kể được một trải nghiệm đáng nhớ đối với bản thân, thể hiện cảm xúc và suy nghĩ về trải nghiệm đó. + Kể được một truyền thuyết hoặc cổ tích một cách sinh động, biết sử dụng các yếu tố hoang đường, kì ảo để tăng tính hấp dẫn trong khi kể. + Trình bày được ý kiến về một vấn đề trong đời sống. - Nghe + Tóm tắt được nội dung trình bày của người khác. - Nói nghe tương tác + Biết tham gia thảo luận trong nhóm nhỏ về một vấn đề cần có giải pháp thống nhất, biết đặt câu hỏi và trả lời, biết nêu một vài đề xuất dựa trên các ý tưởng được trình bày trong quá trình thảo luận. 2. Thực trạng Trên thực tế việc dạy nói và nghe đã được thực hiện từ chương trình 2006 ở các tiết luyện nói. Nhưng trong việc tổ chức các tiết luyện nói đó, nhiều giáo viên vẫn còn mang tính áp đặt đối với học sinh. Đó là giáo viên thường cho học sinh học thuộc lòng và trình bày lại nội dung nói một cách máy móc. Do giáo viên vẫn ảnh hưởng của phương pháp dạy cũ, tức là vẫn chú trọng dạy theo chuẩn kiến thức kĩ năng mà chưa chú trọng dạy học theo hướng phát triển năng lực phẩm chất. Các tiết dạy chưa chú trọng tới phương pháp tổ chức, các năng lực cần hướng tới và đạt được của học sinh dẫn đến tình trạng học sinh sợ học môn Ngữ văn, sợ thuộc lòng các bài văn. 7
  6. Chương trình SGK phổ thông 2018 mặc dù đưa vào thực hiện đến nay được bốn năm, nhưng nhiều giáo viên mới vừa được tiếp nhận dạy nên kinh nghiệm tổ chức chưa có nhiều, còn lúng túng trong cách thức thể hiện. Số lượng tiết dạy nói và nghe trong chương trình chiếm tỉ lệ không nhiều (10%). Tuy nhiên, với thời lượng như vậy nhưng người dạy vẫn phải đảm bảo được mục tiêu giáo dục, nội dung giáo dục của chương trình Ngữ văn 2018. Vậy tổ chức như thế nào để với thời lượng ít như vậy nhưng vẫn đảm bảo được mục tiêu và nội dung yêu cầu của chương trình? Đó là điều trăn trở của các thày cô khi dạy các tiết học nói và nghe đối với học sinh lớp 6 chương trình giáo dục phổ thông 2018. Trải qua 3 năm học với thời lượng học trực tuyến nhiều, việc học trực tiếp ở trường bị hạn chế đã ít nhiều ảnh hưởng tới quá trình phát triển các kĩ năng, năng lực của học sinh, nhất là kĩ năng nói và nghe. Thực trạng đó đặt ra yêu cầu là cần phải có biện pháp để giúp các em bổ sung những năng lực, kĩ năng còn chưa được thực hiện tốt. Lớp học tôi được phân công nhiệm vụ dạy học môn Ngữ văn, kĩ năng nói và nghe của nhiều em còn yếu. Nhiều em còn rụt rè, ngại nói, nói chưa tốt, chưa tự tin. Nhiều em có tâm lí không thích học môn Ngữ văn, sợ học các tiết luyện nói. Điều đó thôi thúc tôi cần phải tìm tòi, đổi mới cách tổ chức dạy học để tạo được hứng thú giúp học sinh yêu thích và chủ động học tập, nâng cao kĩ năng nói và nghe. 3. Các biện pháp thực hiện * Việc tổ chức hoạt động nói và nghe cần đảm bảo các nguyên tắc sau: - Dạy học nói và nghe theo nguyên tắc giao tiếp: Khi triển khai dạy học phần nói và nghe GV cần chú ý những nhân tố sau: + Đối tượng giao tiếp: HS cần xác định được những đề tài, nội dung nói và nghe cụ thể xuất phát từ chính những trải nghiệm, vốn sống của các em. GV cần định hướng đề tài, nội dung giao tiếp được lựa chọn thực sự gây hứng thú cho HS đồng thời phù hợp với các yêu cầu cần đạt của bài học. + Nhân vật giao tiếp: HS cần xác định vai trò và các hoạt động phù hợp khi tham gia nói (trình bày vấn đề) hoặc khi nghe (tiếp nhận và phản hồi thích hợp trong khi nghe người khác trình bày). + Mục đich giao tiếp: Trong mỗi bài học, HS đều được hướng dẫn để xác định rõ mục đích nói. Tuy nhiên, GV cần gợi ý để HS có thể chủ động trình bày mục đích nói và nghe một cách rõ ràng hơn khi thực hiện hoạt động nói và nghe 8
  7. với một đề tài, nội dung xác định: (Muốn làm rõ vấn đề gì nhất? Cần chia sẻ điều gì quan trọng? Mong muốn người nghe nắm bắt được điều gì? + Phương tiện giao tiếp: Cùng với khả năng sử dụng ngôn ngữ để trình bày, trao đổi, thảo luận, tranh luận, HS cần được hướng dẫn để sử dụng thành thạo các phương tiện ngoài ngôn ngữ hoặc phương tiện đi kèm ngôn ngữ khi nói và nghe như sơ đồ, hình ảnh, băng hình - Dạy học nói và nghe gắn kết với đọc, viết: + GV cần chú ý mối quan hệ tích hợp, kết nối chặt chẽ giữa các hoạt động đọc, viết với hoạt động nói và nghe trong cách tổ chức bài học Ngữ văn 6. Mối quan hệ này thể hiện trên cả phương diện thể loại văn bản lẫn chủ đề. + GV cần chú ý đến việc tổ chức hoạt động nói và nghe bám sát yêu cầu cần đạt của bài học nhằm phát triển năng lực ngôn ngữ, năng lực văn học, và các năng lực chung của học sinh. 3.1. Tổ chức dạy học nói: a. Trước khi nói (Chuẩn bị bài nói) Bước 1: Giới thiệu kiểu bài và yêu cầu: GV giúp HS nắm được kiểu bài mà các em sẽ nói, nghe gắn kết với chủ đề đã học ở phần đọc, viết, nắm được cách thức trình bày cụ thể của kiểu yêu cầu. GV có thể lựa chọn, sử dụng linh hoạt các hình thức tổ chức dạy học như tổ chức trò chơi, HS báo cáo nội dung đã được giao nhiệm vụ tìm hiểu (bằng sơ đồ tư duy, bảng phụ, hoặc các hoạt động trình chiếu, tiểu phẩm ngắn ) hoặc GV cho HS quan sát mẫu (một bài nói của HS hoặc một đoạn video có nội dung hoạt động nói) để từ đó làm toát lên kiểu bài các em sẽ nói, nghe và các yêu cầu cụ thể của kiểu bài đó. Bước 2: Tổ chức, hướng dẫn HS chuẩn bị bài nói và tập luyện - GV hướng dẫn, phân tích cho học sinh nội dung nói, cách thức nói, lời giới thiệu, lời chào, động tác, cử chỉ khi nói, lời chốt khi kết thúc phần nói. - GV hướng dẫn HS quy trình chuẩn bị: Chuẩn bị kĩ dàn ý nội dung nói bao gồm các phần, các mục, các ý rõ ràng, mạch lạc. Học sinh nói lần lượt từng phần theo trình tự dàn ý đã chuẩn bị. Nội dung bài nói cần tùy theo từng đối tượng học sinh để đưa ra yêu cầu cụ thể giúp các em dễ dàng và tự tin khi trình bày hoạt động học tập nói và nghe. VD đối với đối tượng học sinh khối đại trà, nội dung bài nói cần chọn dung lượng vừa phải, bố cục đơn giản, nhẹ nhàng phù hợp với đối tượng. Đối với đối tượng học sinh khá giỏi cần tùy vào khả năng của các em để mở rộng, nâng cao thêm nội 9
  8. dung bài nói. Đặc biệt khuyến khích các em khi nói có thể phát triển mở rộng nội dung nói so với dàn ý đã chuẩn bị, mở rộng lời nói theo dàn ý đã chuẩn bị một cách hợp lí, đúng chủ đề và làm rõ thêm nội dung cần trình bày. b. Tổ chức, hướng dẫn học sinh trình bày bài nói: Giáo viên nên đa dạng về cách thức tổ chức dạy nói cho học sinh. - Tổ chức hợp tác nhóm: + Đối với học sinh đại trà: Thường các em hay nhút nhát, không tự tin trước đám đông, khả năng ghi nhớ chậm, thường chưa có khả năng phát triển mở rộng thêm nội dung nói trên cơ sở dàn ý chuẩn bị trước. Giáo viên nên cho các em nói cho nhau nghe trong nhóm nhỏ, rồi dần nói trong nhóm lớn, trong tổ trước khi các em nói trước lớp. Giáo viên sử dụng phương pháp tổ chức dạy học hợp tác nhóm nhỏ để tổ chức cho các em luyện nói. Nên cho các em nói theo khả năng của mình. (có thể nói một đoạn ngắn trước, rồi dần đến đoạn dài, có thể nói 1 hoặc vài đoạn thay vì nói liền lúc cả bài ) + Giáo viên có thể đa dạng hóa cách thức học sinh nói: Sử dụng hình thức tổ chức dạy học hợp tác nhóm nhỏ: cho các em chia nhiệm vụ nói. Một vấn đề có thể từ 3 đến 5 hoặc 6 em nói tùy theo nội dung, mỗi em nói một phần (hoặc một nội dung) và nhận xét đánh giá năng lực các em theo nhóm. VD khi dạy tiết nói và nghe bài 1, chủ đề Tôi đi học của sách giáo khoa Ngữ văn 6 bộ sách Kết nối tri thức với cuộc sống, với nội dung nói và nghe là kể lại một trải nghiệm của em, giáo viên sau khi hướng dẫn học sinh lập dàn ý chi tiết để chuẩn bị cho hoạt động dạy học nói và nghe. Trong phần chia nhóm thực hiện, giáo viên có thể định hướng các em chia nhỏ phần nội dung nói. Một em sẽ giới thiệu đội của mình, giới thiệu câu chuyện được kể. Một em nói sự việc mở đầu của câu chuyện. Một em nói sự việc phát triển của câu chuyện. Một em nói sự việc cao trào của câu chuyện, Một em nói sự việc kết thúc và ý nghĩa của câu chuyện. Như vậy trong khoảng thời gian của một lượt trình bày bài văn sẽ có 5 em được nói. Cách tổ chức hoạt động như vậy vừa tiết kiệm thời gian, vừa luyện được nhiều em nói, vừa tạo nên tính hấp dẫn gây hứng thú cho người nghe. - Sân khấu hóa: + Giáo viên có thể sân khấu hóa hình thức dạy học nói của các em tùy theo nội dung bài nói. VD nếu nói phần tập làm văn kể chuyện, giáo viên có thể hướng dẫn các em nói bằng hình thức diễn xướng sân khấu (đóng kịch). 10
  9. + Khuyến khích học sinh có cách trình bày bài nói sáng tạo, có sử dụng phối hợp trang phục, đạo cụ, tranh minh họa cần thiết trong quá trình thực hiện bài nói cho sinh động. + Khuyến khích các em bằng cách chụp ảnh, quay video cho các em xem lại, hoặc gửi về cho phụ huynh cùng khen ngợi động viên các em. + Định hướng cho các em biết sử dụng các đạo cụ, các phương tiện nghe nhìn để minh họa thêm cho bài nói của mình. VD khi nói nội dung biểu cảm về đoạn trích hoặc tác phẩm thơ, học sinh có thể có các hình ảnh minh họa về tác giả, tác phẩm, tranh ảnh phù hợp với nội dung nói Học sinh có thể kết hợp cách thức nói thuyết trình và nói bộc lộ cảm xúc trong một hoạt động nói. Hoặc trong nhóm các em có thể chia mỗi bạn sẽ nói một phần: VD một bạn giới thiệu về tác giả, một bạn giới thiệu về tác phẩm, một bạn biểu lộ cảm xúc về nội dung. - Tổ chức hội thi: Giáo viên có thể tổ chức hoạt động nói - nghe dưới hình thức một hội thi để tạo hứng thú cho học sinh Cách tổ chức này tạo sự hấp dẫn, gây hứng thú cho học sinh. Tuy nhiên giáo viên cần làm tốt bước chuẩn bị của cả thầy và trò bao gồm: kịch bản, tập luyện, thể lệ cuộc thi, bảng kiểm, phần thưởng c. Tổ chức, hướng dẫn HS nhận xét, trao đổi về bài nói (Sau khi nói, nghe) - GV hướng dẫn học sinh trao đổi về bài nói - GV hướng dẫn HS đánh gia bài nói / phần trình bày của bạn bằng phiếu đánh giá theo tiêu chí. VD: Phiếu đánh giá theo tiêu chí hoạt động nói khi Nói và nghe : Kể về một trải nghiệm. Tiêu chí Mức độ Chưa đạt Đạt Tốt (0 điểm) (1 điểm) (2 điểm) 1. Nội dung câu Nội dung sơ sài, Có đủ chi tiết để người Nội dung câu chuyện chưa có đủ chi tiết nghe hiểu được nội chuyện phong để người nghe hiểu dung câu chuyện phú, hấp dẫn, ấn câu chuyện nhưng chưa hay. tượng. 2. Diễn đạt Nói nhỏ, khó nghe, Nói to nhưng còn lặp Nói to, truyền nói lắp, ngập ngừng lại, ngập ngừng ở môt cảm, ngắt nghỉ vài câu. nhịp nhàng 11
  10. 3. Sử dụng yếu tố Điệu bộ thiếu tự tin, Điệu bộ tự tin, ánh mắt Điệu bộ rất tự phi ngôn ngữ mắt chưa nhìn vào hướng về người nghe, tin, ánh mắt (điệu bộ, ánh mắt, người nghe, nét mặt nét mặt biểu cảm phù hướng về người cử chỉ, nét mặt ) chưa biểu cảm hoặc hợp với nội dung câu nghe, nét mặt biểu cảm không chuyện sinh động phù hợp 4. Mở đầu và kết Không có chào hỏi Có chào hỏi và kết thức Chào hỏi và kết thúc hợp lý và không có kết bài nói thức một cách thúc bài nói hấp dẫn 5. Sáng tạo trong Không có, chuẩn bị Có sự chuẩn bị, có Sáng taọ hình cách kể, chu đáo sơ sài phương tiện song chưa thức, chuẩn bị trong chuẩn bị các chu đáo chu đáo phương tiện hỗ trợ Tổng điểm: ./10 3.2. Tổ chức dạy học hoạt động nghe và tương tác a. Hoạt động nghe - Ở hoạt động nghe, chương trình tổng thể Ngữ văn 2018 yêu cầu cụ thể đối với học sinh Lớp 6 gồm: Nghe hiểu các thông báo, hướng dẫn, yêu cầu, nội quy trong lớp học. Nghe một câu chuyện và trả lời được các câu hỏi: Ai? Cái gì? Khi nào? Ở đâu? Bước 1: Lựa chọn hình thức tổ chức và phương tiện: Để giúp các em có kĩ năng nghe, GV cũng cần đa dạng các hình thức tổ chức dạy học và hướng dẫn các em có kĩ năng nghe. GV cho HS nghe đoạn mẫu (nghe trực tiếp từ người thuyết trình, nghe qua vi deo ). Bước 2: Hướng dẫn cách nghe: (sử dụng bảng kiểm) Trong dạy nghe, giáo viên cần hướng dẫn học sinh cách nắm bắt nội dung nghe, cách hiểu và cách đánh giá quan điểm, ý định của người nói; cách kiểm tra những thông tin chưa rõ; có thái độ nghe tích cực và tôn trọng người nói, tôn trọng những ý kiến khác biệt; cách hợp tác, giải quyết vấn đề với thái độ tích cực. Bước 3: Kiểm tra đánh giá hoạt động nghe: GV hướng dẫn HS tự kiểm tra đánh giá hoạt động nghe của mình hoặc của bạn bằng việc trả lời các câu hỏi: (VD: Người nói đã nói về chủ đề gì? Nội dụng cụ thể của chủ đề đó? Nội dung 12
  11. nào là trọng tâm? Em tâm đắc nhất với nội dung nào? Vì sao?). Hoặc GV hướng dẫn HS sử dụng bảng kiểm để HS tự đánh giá. VD: Tiêu chí Mức độ Chưa đạt Đạt Tốt (0 điểm) (1 điểm) (2 điểm) 1. Chủ đề bài nói Chưa xác định Xác định chủ đề / đề tài Xác định được được chủ đề / đề tài bài nói nhưng diễn đạt chủ đề / đề tài bài nói bằng lời còn chưa bài nói chính xác 2.Các nội dung Chưa xác định Xác định được chưa Xác định được chính thể hiện được các ý chính đầy đủ các ý chính các ý chính trong bài nói trong bài nói trong bài nói trong bài nói 3.Nội dung trọng Chưa xác định Xác định được nội Xác định được tâm được nội dung dung trọng tâm của bài nội dung trọng trọng tâm của bài nói nhưng diễn đạt tâm của bài nói nói thành lời còn chưa được rõ ràng 4.Nội dung nào Chưa xác định Xác định được nội Xác định được quan trọng nhất? được nội dung quan dung quan trọng nhất nội dung quan Vì sao? trọng nhất của bài của bài nói, chưa giải trọng nhất của nói thích được hoặc giải bài nói, hiểu thích chưa rõ được vì sao nội dung đó quan trọng Hình thức trình Chưa đánh giá Đánh giá được hình Đánh giá được bày được hình thức thức trình bày nhưng hình thức trình trình bày: rõ ràng còn chưa đầy đủ bày: rõ ràng chưa, diễn cảm chưa, diễn cảm chưa chưa Tổng điểm: ./10 b. Hoạt động nói nghe tương tác 13