Báo cáo Sáng kiến Một vài biện pháp giúp học sinh nâng cao hiệu quả hoạt động nhóm trong môn Vật Lí

docx 16 trang Chăm Nguyễn 21/03/2026 180
Bạn đang xem tài liệu "Báo cáo Sáng kiến Một vài biện pháp giúp học sinh nâng cao hiệu quả hoạt động nhóm trong môn Vật Lí", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docxbao_cao_sang_kien_mot_vai_bien_phap_giup_hoc_sinh_nang_cao_h.docx

Nội dung tài liệu: Báo cáo Sáng kiến Một vài biện pháp giúp học sinh nâng cao hiệu quả hoạt động nhóm trong môn Vật Lí

  1. 3 1.1.2. Nghiên cứu nội dung, yêu cầu cần đạt được của học sinh Bám sát chuẩn kiến thức kĩ năng, xác định đúng mục tiêu trọng tâm của bài. Tùy theo từng đối tượng của học sinh các lớp mà người giáo viên cần đưa ra nội dung, kiến thức chuẩn bị ở nhà cho phù hợp. Với những đối tượng học sinh không muốn tham gia chuẩn bị bài, giáo viên cần có biện pháp kiểm tra, nhắc nhở, động viên kịp thời để giúp học sinh hoàn thành nhiệm vụ được giao. Giáo viên cần giao cho học sinh chuẩn bị đồ dùng dạy học, các bài tập hay hệ thống các câu hỏi liên quan trong tiết sau để học sinh nắm rõ nội dung, yêu cầu cần đạt được. Khi đã chuẩn bị kĩ càng sẽ giúp người thầy xây dựng và hình thành kiến thức, nội dung bài học mới một cách sinh động, hấp dẫn. 1.1.3. Các bước hướng dẫn học sinh hoạt động theo nhóm a. Phân công nhiệm vụ cho các thành viên trong nhóm Các thành viên trong nhóm cần có nhiệm vụ, vai trò rõ ràng. Sau mỗi hoạt động nhóm, các thành viên cần thay đổi vai trò cho nhau, tránh tình trạng mỗi thành viên chỉ đóng một vai trò trong thời gian quá lâu. Vai trò của các thành viên trong một nhóm bao gồm: Nhóm trưởng: Là người nhận nhiệm vụ từ giáo viên, điều hành hoạt động của nhóm, giải thích rõ ràng nhiệm vụ hoạt động của nhóm, tóm tắt, kiểm tra sự hiểu biết vấn đề trao đổi, thống nhất ý kiến của nhóm, xây dựng bầu không khí ấm áp, giải quyết các mâu thuẫn trong quá trình hoạt động nhóm. Với vai trò này, học sinh cần có nhiều năng lực hơn, đặt biệt là năng lực quản lí, giám sát và hướng dẫn bạn. Nhóm trưởng hoạt động trong nhóm như là một thầy cô giáo của một lớp nhỏ. Báo cáo viên: Thay mặt các thành viên trong nhóm báo cáo kết quả làm việc của nhóm mình và giải trình ý kiến thắc mắc trước lớp, đồng thời cùng các thành viên trong nhóm trao đổi, đóng góp ý kiến về nhiệm vụ được giao qua từng hoạt động Các thành viên: Trao đổi, bàn bạc, chia sẽ, đóng góp, thống nhất chung ý kiến về nhiệm vụ được giao. Để thực hiện được việc đó thì giáo viên phải là người giao nhiệm vụ một cách chi tiết như: câu hỏi trọng tâm trong bài mới, cần chuẩn bị những dụng cụ thực hành nào? Những bài tập sẽ làm và hướng dẫn học sinh tự học ở nhà trong từng phần, nội dung cụ thể để học sinh tự nghiên cứu trước nội dung trong bài học mới. Khi giao nhiệm vụ về cho các nhóm học tập thì giáo viên cần lưu ý theo dõi sự phân công của các nhóm trưởng và các thành viên trong nhóm đều được tham gia chưa, đồng thời phải vừa sức với năng lực của các thành viên trong nhóm. b. Hướng dẫn tổ chức hoạt động nhóm Khi giao nhiệm vụ học tập cho học sinh, ngôn từ của giáo viên phải rõ ràng,
  2. 4 mạch lạc để đảm bảo cho học sinh hiểu, tránh thất bại trong việc giải quyết nhiệm vụ. Những câu hỏi phụ đảm bảo sự trao đổi hai chiều, đảm bảo giao nhiệm vụ thực hiện một cách có hiệu quả và đảm bảo học sinh sẵn sàng bắt tay vào hoàn thành nhiệm vụ đó. Các vấn đề đưa ra cho các nhóm được biên soạn trong phiếu học tập hoặc viết bảng phụ và chỉ giao một lần. Các phiếu được biên soạn đơn giản, rõ mục đích, có tính trực quan cao, không rườm rà, gây khó hiểu hoặc mất thời gian. Trong thời gian học sinh làm việc, giáo viên thường xuyên theo dõi để hướng dẫn, giúp đỡ các nhóm trao đổi thảo luận đúng yêu cầu bài học, tránh thảo luận tùy hứng dẫn đến nguy cơ đi lệch yêu cầu hoặc giáo viên gợi mở thêm nhằm mở rộng kiến thức và giáo dục kĩ năng sống cho các em. c. Theo dõi, can thiệp và điều chỉnh tiến trình hoạt động nhóm Trong quá trình theo dõi hoạt động của các nhóm, giáo viên đưa ra những gợi ý, thắc mắc và dạy các kỹ năng thực hiện nhiệm vụ khi cần thiết. Đối với những nhóm chưa thực hiện nhiệm vụ một cách tích cực, giáo viên đến gần và tham gia, làm mẫu cho học sinh. Khi học sinh gặp khó khăn, giáo viên đưa ra những gơi ý cần thiết như liên hệ những kiến thức đang trao đổi với những kiến thức học sinh đã được học, tạo ra mối quan hệ giữa kiến thức mới và những kiến thức học sinh đã biết, đã trãi nghiệm. Giáo viên cần chú ý quan tâm đến hoạt động của các học sinh yếu trong nhóm, đặt biệt là trong quá trình các em tự học, giúp các em hiểu bài để các em tự tin hơn khi trao đổi với các bạn cùng bàn và cùng nhóm. Đối với các học sinh có năng lực là đối tượng học sinh năng khiếu, giúp các em khắc sâu và mở rộng kiến thức bằng những câu hỏi phụ nhằm định hướng cho các em nâng cao kiến thức. Trong quá trình theo dõi các nhóm hoạt động, cố gắng quan tâm đến tất cả các nhóm ở mỗi phần công việc, vì ở mỗi nhóm nào cũng có đối tượng còn hạn chế cần giúp đỡ và các đối tượng năng khiếu cần được nâng cao kiến thức và cũng để nhắc nhỡ, động viên khích lệ các em làm việc tốt hơn. Khi gặp vấn đề khó, tất cả các nhóm đều vướng mắc, giáo viên tổ chức hoạt động chung của cả lớp giúp các em tháo gỡ kịp thời. Với từng bài học cụ thể, giáo viên cần dự kiến trước những khó khăn của đa số học sinh để quan sát và giúp đỡ các em. d. Tổ chức báo cáo và nhận xét tương tác nhóm Trước khi cho đại diện nhóm trình bày, giáo viên cần nêu lại vấn đề để cả lớp tập trung lắng nghe. Phải rèn cho học sinh có thói quen lắng nghe và khuyến khích các em đưa ra nhận xét cụ thể hoặc ý kiến bổ sung cho nội dung nhóm bạn vừa trình bày. Giáo viên hướng dẫn học sinh luân phiên thay đổi báo cáo viên trong nhóm.
  3. 5 Ban đầu, những học sinh có năng lực trình bày lưu loát sẽ báo cáo kết quả, sau đó luân chuyển để em nào cũng được trình bày, nhằm rèn cho các em năng lực trình bày trước đám đông, giúp các em mạnh dạn, tự tin hơn trong giao tiếp. Để báo cáo viên có thể trình bày rõ kết quả làm việc của nhóm. Giáo viên cần dự kiến trước các tình huống trả lời của học sinh để có thể xử lý tốt các kết luận. Sau khi báo cáo viên báo cáo xong, các nhóm khác sẽ đưa ra các câu hỏi hay tình huống liên quan đến nội dung, kiến thức vừa tiếp thu trong quá trình hoạt động để báo cáo viên trả lời. Nếu báo cáo viên trả lời chưa chính xác hay chưa được thì có thể đại diện các thành viên trong nhóm trả lời thay hay bổ sung. Do đó nhóm nào lên trình bày thì cần phải chuẩn bị đầy đủ các nội dung hay các phương án để tranh luận góp ý. Việc nhận xét quá trình làm việc của nhóm cũng không nên qua loa, đại khái. Càng đưa ra nhận định cụ thể càng giúp học sinh tích lũy nhiều kinh nghiệm cho những hoạt động sau. Những tiêu chí nhận xét cần phải có: Tinh thần, thái độ làm việc của các thành viên trong quá trình thảo luận. Kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao, kỹ năng trình bày kết quả hoặc giải thích chất vấn trước lớp. Các thành viên phải có sự luân phiên trong nhóm. Qua đó mới phát hiện tốt vai trò của người học làm trung tâm, giáo viên chỉ là người hướng dẫn tổ chức để các em học tập. e. Ví dụ minh họa Ví dụ 1: Bài “Dẫn nhiệt “ môn Vật lí 8 – tiết 24 – tuần 24 như sau: Trong bài dạy này học sinh cần thực hiện thí nghiệm nhóm để biết được sự dẫn nhiệt và tính dẫn nhiệt của các chất rắn yêu cầu học sinh thực hiện theo các bước như sau: Bước 1: Làm việc chung cả lớp, giao nhiệm vụ cho mỗi nhóm Giáo viên nêu vấn đề, xác định mục đích yêu cầu của thí nghiệm là biết được sự dẫn nhiệt, tính dẫn nhiệt của các chất rắn để từ đó cho được ví dụ về dẫn nhiệt. Giáo viên đưa ra phương án thí nghiệm, cho học sinh nêu dụng cụ thí nghiệm, cách bố trí và tiến hành thí nghiệm : đèn cồn, giá thí nghiệm, các đinh, 3 thanh gồm: đồng, nhôm và thủy tinh, đất nặng (dùng để đính các đinh trên các thanh) cho 1 nhóm. Tổ chức phân chia thành 8 nhóm, phân chia 3 bàn học thành 1 nhóm thí nghiệm (khoảng 5 – 6 học sinh). Bước 2: Làm việc theo nhóm Trong nhóm phân công nhiêm vụ cho từng thành thành viên của nhóm: Các nhóm tự phân trưởng nhóm, thư ký và báo cáo viên. Các nhóm thảo luận kế hoạch và cách thức làm việc của nhóm.
  4. 6 Tiến hành thực hiện nhiệm vụ: + Sắp xếp, bố trí thí nghiệm. + Tiến hành thí nghiệm. Giáo viên theo dõi và uốn nắn học sinh trong quá trình thí nghiệm. + Thảo luận, ghi kết quả thông tin cần báo cáo. Thu xếp đồ dùng thiết bị, chuẩn bị báo cáo kết quả làm việc trước lớp. Bước 3: Trình bày kết quả của mỗi nhóm và đánh giá kết quả Yêu cầu báo cáo viên đại diện một hoặc hai nhóm báo cáo thí nghiệm của mình. + Đồng dẫn nhiệt tốt nhất, thủy tinh dẫn nhiệt kém nhất. Các nhóm khác nhận xét và có thể đặt câu hỏi cho báo cáo viên như: 1/ Tại sao đồng dẫn nhiệt tốt còn thủy tinh dẫn nhiệt kém hơn? 2/ Tại sao trong thí nghiệm, khoảng cách 3 chiếc đinh đến đèn cồn phải bằng nhau? ......... Giáo viên đánh giá kết quả và rút ra kết luận Ví dụ 2: Bài: Trọng lực – Đơn vị lực - Vật lý 6. Bước 1: Làm việc chung cả lớp, giao nhiệm vụ cho mỗi nhóm Giáo viên nêu vấn đề, xác định mục đích yêu cầu của thí nghiệm là biết được là Trái Đất hút tất cả mọi vật. Vấn đề là phải làm thí nghiệm để khẳng định điều đó. Chia 8 nhóm, giao nhiệm vụ cho mỗi nhóm phân chia 3 bàn học thành 1 nhóm thí nghiệm (khoảng 5 – 6 học sinh ). Giáo viên đưa ra phương án thí nghiệm, cho học sinh nêu dụng cụ thí nghiệm, cách bố trí và tiến hành thí nghiệm: giá thí nghiệm, lò xo và quả nặng. Giáo viên chuẩn bị phiếu học tập để phát cho học sinh mỗi nhóm. PHIẾU HỌC TẬP Câu hỏi Trả lời Câu 1/ Lò xo có tác dụng lực vào quả nặng không? Câu 2/ Lực đó có phương như thế nào? Câu 3/ Lực đó có chiều như thế nào? Câu 4/ Tại sao quả nặng vẫn đứng yên? Bước 2: Làm việc theo nhóm Trong nhóm phân công nhiêm vụ cho từng thành thành viên của nhóm: Các nhóm tự phân trưởng nhóm, thư ký và báo cáo viên. Các nhóm thảo luận cách thức làm việc của nhóm.
  5. 7 Tiến hành thực hiện nhiệm vụ: + Sắp xếp, bố trí thí nghiệm. + Tiến hành thí nghiệm. Giáo viên theo dõi và uốn nắn học sinh trong quá trình thí nghiệm. + Thảo luận, ghi kết quả thông tin cần báo cáo vào phiếu học tập. Thu xếp đồ dùng thiết bị, chuẩn bị báo cáo kết quả làm việc trước lớp. Bước 3: Trình bày kết quả của mỗi nhóm và đánh giá kết quả Yêu cầu báo cáo viên đại diện một hoặc hai nhóm báo cáo thí nghiệm của mình. PHIẾU HỌC TẬP Câu hỏi Trả lời Câu 1/ Lò xo có tác dụng lực vào quả Có nặng không? Câu 2/ Lực đó có phương như thế nào? Lực đó có phương thẳng đứng Câu 3/ Lực đó có chiều như thế nào? Lực đó có chiều từ trên xuống dưới Câu 4/ Tại sao quả nặng vẫn đứng yên? Vì quả nặng chịu tác dụng của hai lực cân bằng Các nhóm khác nhận xét và có thể đặt câu hỏi cho báo cáo viên như: 1/ Tại sao bạn biết lò xo có lực tác dụng vào quả nặng? 2/ Hai lực cân bằng là hai lực nào tác dụng vào quả nặng? ...... Giáo viên đánh giá kết quả và rút ra kết luận đồng thời động viên, khuyến khích nhóm hoạt động tốt và cỗ vũ khích lệ nhóm nào chưa hoàn thành tốt. 1.1.4. Sử dụng trò chơi trong hoạt động nhóm Trò chơi là hoạt động tổ chức cho học sinh tham gia theo nhóm hoặc cá nhân thực hiện một số yêu cầu đặt ra từ trước theo luật chơi. Trò chơi được kích thích tính hấp dẫn bằng phần thưởng. Khi tham gia trò chơi sẽ phát triển kỹ năng giao tiếp, khả năng vận dụng kiến thức, sáng tạo và tăng cường khả năng hòa đồng với tập thể. Một trò chơi cần thiết phải có được sự chuẩn bị kỹ, mang tính giáo dục cao. Tuy nhiên để trò chơi được thành công thì mục tiêu và nội dung của nó phải được thể hiện một cách rõ ràng và khoa học. Bên cạnh đó thì vai trò của người điều khiển (thường là giáo viên) cũng rất quan trọng, phải nắm vững luật chơi và nhanh nhạy trong việc xử lý tình huống đồng thời thu hút sự chú ý của học sinh giúp các em nắm bắt nhanh chóng cũng như sự truyền đạt hay tổng hợp các kiến thức dễ dàng hơn. Theo tinh thần: “Học mà vui, vui mà học” thì hoạt động này được đánh giá là rất hấp dẫn học sinh ở mọi lứa tuổi và ở rất nhiều lĩnh vực chứ không riêng gì môn
  6. 8 vật lý. Để tổ chức trò chơi giáo viên cần chuẩn bị kỹ càng về nội dung và thiết bị, đồng thời cũng cần chú ý về mặt thời gian, Ví dụ: a. Trò chơi: Vượt chướng ngại vật: Phương tiện: Bảng phụ kẻ sẵn sơ đồ các ô chữ (hoặc xây dựng ô chữ trên Powerpoint), các định nghĩa, các khái niệm liên quan, các phần thưởng nhỏ. Hình thức tổ chức: Người dẫn chương trình thông báo số lượng ký tự trong ô chữ và các định nghĩa hoặc khái niệm có liên quan đến từ chứa trong ô chữ, người chơi đoán các từ đó. Tất cả các từ trong hàng ngang đều có chứa ký tự của từ hàng dọc và có ý nghĩa liên quan đến chương trình đã học hoặc sắp học (tuỳ sự định hướng của giáo viên). Lớp được chia thành 4 đội, mỗi đội tương ứng với mỗi tổ. Mỗi câu hàng ngang trả lời đúng 10 điểm, sau khi xong các ô hàng ngang, đội nào trả lời đúng ô hàng dọc thưởng 30 điểm. Đội nào nhiều điểm hơn sẽ thắng và nhận phần thưởng. Ví du : Khi dạy bài 18 :Tổng kết và ôn tập chương I : Cơ học (lớp 8). Có thể xây dựng trò chơi ô chữ có nội dung như sau: 1. Đây là một dạng của cơ năng? 2. Vận tốc của vật đang chuyển động mà chịu tác dụng của hai lực cân bằng thì sẽ như thế nào? 3. Gốc của một mũi tên dùng biểu diễn một lực gọi là ...... 4. Áp suất ở cùng một độ cào thì ............ 5. Lực ép có phương vuông góc với mặt bị ép gọi là ...... 6. Chuyển động và đứng yên có tính chất này. 7. Lớp không khí dày hàng nghìn km bao quanh Trái Đất. 8. Khi nhúng một vật vào một chất lỏng, vật sẽ như thế nào khi : dv < dl . 9. Đại lượng được xác định bằng độ lớn của áp lực trên một đơn vị diện tích bị ép. 10. Do tính chất này mà mọi vật không thể thay đổi vận tốc đột ngột được. 11. Khi một vật có khả năng sinh công, ta nói vật đó có 12. Đại lượng cho biết mức độ nhanh hay chậm của chuyển động là gì? Giáo viên chuẩn bị sẵn bảng về ô chữ Từ khóa: Đây là một phong trào được phát động trong học tập giúp nhau cùng tiến bộ? 1 Đ Ộ N G N Ă N G 8 ô
  7. 9 2 K H Ô N G Đ Ô I 8 ô 3 Đ I Ê M Đ Ă C 7 ô 4 B Ă N G N H A U 8 ô 5 T H Ê N Ă N G Đ A N H Ô I 13 ô 6 T Ư Ơ N G Đ Ô I 8 ô 7 K H I Q U Y Ê N 8 ô 8 N O I L Ê N 6 ô 9 V Â N T Ô C 6 ô 10 Q U A N T I N H 8 ô 11 C Ơ N A N G 6 ô 12 Á P S U Â T 6 ô b. Trò chơi: Thi đua tìm hiểu thực tế và vận dụng kiến thức đã học Phương tiện: Giáo viên cần chuẩn bị không nhiều nhưng khá phức tạp khi chọn một yêu cầu hoạt động trong đó nhiều em làm được, lại phải hoàn thành trong thời gian ngắn và đặc biệt là việc vận dụng kiến thức đã học. Hình thức tổ chức: Các học sinh chia làm hai nhóm, các học sinh trong mỗi nhóm sẽ lần lượt thực hiện yêu cầu của trò chơi. Sau một thời gian nhất định nhóm nào thực hiện được nhiều hơn, trình bày đúng hơn sẽ nhận được phần thưởng. Ví dụ Khi dạy bài 19 : “Dòng điện – Nguồn điện” (Vật lí 7) Yêu cầu đề ra là: Mỗi em của mỗi nhóm sẽ ghi một nguyên nhân mạch điện hở. Sau thời gian 3 phút cá nhân mỗi nhóm sẽ trình bày cách khắc phục để đảm bảo mạch kín, đèn sáng - ứng với mỗi nguyên nhân đã nêu. Khi dạy bài 6: Lực ma sát (Vật lí 8) - Phần II. Có thể yêu cầu như sau: Thực hiện nhóm 5 - 6 học sinh (Tổ 1, 2) Mỗi em nêu một tác hại của lực ma sát. Sau thời gian 3 phút tiếp tục trình bày biện pháp làm giảm ma sát. (Tổ 3, 4) Mỗi em nêu các ma sát có thể có ích. Sau đó nêu các cách làm tăng ma sát. c. Trò chơi lật hình Nguyên tắc: Khuất sau các câu hỏi là một bức tranh của nhà khoa học hoặc nội dung mà chúng ta cần truyền tải kiến thức tới học sinh. Chia bức tranh thành nhiều mảnh nhỏ tùy theo số câu hỏi, mỗi mảnh sẽ mang nội dung của một câu hỏi đố vui. Nếu học sinh trả lời đúng thì phần khuất sau câu hỏi đó sẽ hiện ra và các em có thể đoán nội dung của bức tranh. Khi đã đoán đúng nội dung bức ảnh thì trò
  8. 10 chơi kết thúc. Phương tiện tổ chức: Thiết kế trò chơi trên powerpoint và trình chiếu trên máy tính hoặc in trên giấy khổ lớn, hay có thể sử dụng bảng dính. Hình thức chơi: Chia đội, các đội chọn câu hỏi và trả lời theo lượt. Đội nào không trả lời được sẽ chuyển câu hỏi sang đội kế tiếp. Đội nào có nhiều câu trả lời đúng sẽ chiến thắng. Chú ý: Các câu hỏi ở các mảnh ghép nên có liên quan đến hình ảnh cần truyền tải để rèn cho học sinh sự liên hệ, xâu chuỗi các vấn đề. Trò chơi này được áp dụng giống một trong các lần chơi của trương trình đuổi hình bắt chữ rất nổi tiếng trên truyền hình. Ví dụ Trong bài Sự nóng chảy và sự đông đặc – Vật lí 6 Giáo viên xây dựng hình ảnh khuất sau câu hỏi là hình ảnh Băng tuyết ngày càng tan dần do tình trạng Trái Đất ngày càng nóng lên với 8 câu trong đó có 2 câu may mắn Giáo viên chia mỗi tổ thành 1 đội và chuẩn bị 6 câu hỏi như sau: 1. Dụng cụ nào dùng để đo nhiệt độ? 2. Nhiệt kế y tế dùng để làm gì? 3. Nhiệt độ nước đá đang tan là bao nhiêu? 4. Nhiệt kế hoạt động dựa trên sự nở vì nhiệt của chất nào là chủ yếu? 5. Nhiệt kế rượu dùng để làm gì? 6. Nhiệt độ hơi nước đang sôi là bao nhiêu? Sau khi các đội chơi xong hay đội nào đoán được hình ảnh trước sẽ chiến thắng. Từ đó giáo viên có thể vào bài đồng thời giáo dục bảo vệ môi trường giảm bớt sự nóng lên toàn cầu. Giáo viên có thể trao phần thưởng nhỏ khích lệ đội chiến thắng và tuyên dương các đội chơi. d. Trò chơi: Hoa thơm tặng thầy Nguyên tắc: Sử dụng một cây (hay nhánh cây) có nhiều cành, chuẩn bị một số bông hoa (số loại hoa phụ thuộc vào số đội tham gia trò chơi). Mỗi đội lần lượt lên hái hoa, ẩn dưới mỗi búp hoa là một câu hỏi, nếu trả lời đúng thì hoa sẽ nở và dùng để tặng thầy cô. Trả lời sai thì bỏ qua câu hỏi đó và nhường quyền hái hoa cho đội còn lại. Phương tiện tổ chức: Dùng cành cây trong tự nhiên với các bông hoa trên cây hoặc tự làm theo ý thích nhưng phải có thẩm mỹ. Hoặc có thể thiết kế trên powerpoint. Hình thức chơi: Chia đội, mỗi đội sẽ chọn một bông hoa mà giáo viên đưa ra. Đội nào trả lời nhiều câu hỏi nhất ứng với nhiều hoa đem về nhiều nhất sẽ chiến
  9. 11 thắng. Ví dụ Sau khi học xong nội dung kiến thức bài Công cơ học – Vật lí 8 Giáo viên chuẩn bị sẵn một cây có 8 bông hoa, trong mỗi bông hoa có một câu hỏi. Nếu nhóm nào trả lời đúng sẽ đem bông hoa mới hái được sẽ tặng thầy hoặc cô nào mà em yêu thích. Trong mỗi bông hoa có một câu hỏi như sau: 1. Khi nào có công cơ học? Đáp án: Chỉ có công cơ học khi có lực tác dụng vào vật và làm cho vật chuyển động theo phương không vuông góc với phương của lực. 2. Công thức tính công cơ học là gì? Đáp án: A = F.s 3. Quả dừa rơi từ trên cao xuông đất. Hỏi lực nào sinh công? Đáp án: Trọng lực 4. Trường hợp nào sau đây, ngọn gió không thực hiện công. Vì sao? A. Gió thổi làm tốc mái nhà lên. B. Gió thổi vào bức tường thành . C. Gió xoáy hút nước lên cao . D. Gió thổi mạnh làm tàu bè giạt vào bờ Đáp án: B. Vì gió đã tác dụng lực vào bức tường thành, nhưng tường thành không dịch chuyển . 5. Đơn vị của công cơ học là : A . J/s B. N C. J hoặc N.m. D. kg Đáp án: C 6. Một bạn nâng một vật có khối lượng 15 kg lên cao 1m . Khi đó công của bạn bằng bao nhiêu ? A. 100 J B. 200 J C. 150 J D. 1 500 J Đáp án: C 7. Một con ngựa kéo xe chuyển động với lực kéo 500N đi trong 100m. Khi đó công của trong lực bằng bao nhiêu ? Đáp án: bằng 0 8. Lực nào sau đây khi tác dụng vào vật mà không có công cơ học? A. Lực kéo của một con bò làm cho xe dịch chuyển. B. Lực kéo dây nối với thùng gỗ làm thùng trượt trên mặt sàn. C. Người lực sĩ đang đỡ quả tạ ở tư thế thằng đứng. D. Người lực sĩ đang nâng quả tạ từ thấp lên cao. Đáp án: C
  10. 12 Sau khi các đội chơi xong, giáo viên trao món quà nhỏ cho đội chiến thắng và động viên các đội còn lại. Qua trò chơi trên giúp giáo viên cũng cố bài học một cách đầy đủ đồng thời gây hứng thú cho học sinh, giúp các em ham thích môn học và nắm rõ kiến thức bài học. 1.1.5. Một số yêu cầu trong hoạt động nhóm a. Các thành viên trong nhóm hoạt động một cách tích cực Cá nhân thực hiện nhiệm vụ được giao. Đảm bảo các thành viên trong nhóm mình cùng hoàn thành nhiệm vụ được giao (Bạn nào xong trước thì cùng hỗ trợ cho bạn mình để nhiệm vụ của nhóm được hoàn thành). b. Tạo môi trường trao đổi, chia sẻ trong nhóm. Học nhóm đòi hỏi sự trao đổi qua lại tích cực giữa các học sinh độc lập trong nhóm. Tăng cường động cơ học tập, làm nảy sinh những hứng thú mới, tăng cường các kĩ năng tỏ thái độ, biểu đạt, phản hồi bằng các hình thức: lời nói, ánh mắt, cử chỉ, khích lệ mọi thành viên tham gia, phát triển mối quan hệ gắn bó, quan tâm đến nhau. c. Nâng cao trách nhiệm cá nhân: Nhóm được tổ chức sao cho từng thành viên trong nhóm không thể trốn tránh công việc, hoặc trách nhiệm học tập. Mọi thành viên đều phải học, đóng góp phần mình vào công việc chung và thành công của nhóm. Mỗi thành viên thực hiện một vai trò nhất định. Các vai trò ấy được luân phiên thường xuyên trong các nội dung hoạt động khác nhau (Nhóm trưởng, thư kí, báo cáo viên ...). Mỗi thành viên đều hiểu rằng không thể dựa vào công việc của người khác. d. Sử dụng kĩ năng giao tiếp và kĩ năng xã hội: Học sinh phải thể hiện được các kĩ năng làm việc trong nhóm nhỏ. Đó là các kĩ năng: + Kĩ năng giao tiếp. + Kỹ năng lắng nghe. + Kĩ năng xây dựng niềm tin như bày tỏ sự ủng hộ qua ánh mắt, nụ cười, yêu cầu giải thích, giúp đỡ và sẵn sàng giải thích + Kĩ năng giải quyết mối bất đồng như: kìm chế bức xúc, không làm xúc phạm bạn khi phản đối ý kiến ... e. Rút kinh nghiệm hoạt động nhóm: Sau mỗi hoạt động hợp tác, học sinh phải đánh giá quá trình hoạt động của mỗi thành viên nhóm như những mặt tốt trong hoạt động chung và những đóng góp cá nhân nổi bật cần được phát huy, những mặt cần thay đổi, cải thiện để hoạt động của nhóm có hiệu quả hơn. Điều này, giúp học sinh học được kĩ năng hợp tác với người khác một cách có hiệu quả.
  11. 13 1.1.6. Một số lưu ý trong quá trình hoạt động nhóm Trong quá trình tổ chức hoạt động nhóm cho học sinh, giáo viên cần lưu ý một số vấn đề sau: a. Thời gian phải hợp lý. Mỗi hoạt động nhóm cũng cần phải đảm bảo đủ thời gian cần thiết để các em phân công nhiệm vụ, tiến hành thí nghiệm hoặc thảo luận, thống nhất ý kiến. Nếu thời gian quá ngắn các em không thảo luận được (vấn đề quan trọng nhất của hoạt động nhóm) thì việc tổ chức hoạt động nhóm chỉ là hình thức còn nếu để quá dài thì lại lãng phí thời gian cho các hoạt động khác. b. Vai trò nhóm trưởng: Nhóm trưởng có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả hoạt động nhóm nên cần quan tâm bồi dưỡng cho nhóm trưởng một cách phù hợp, đến một trình độ nhất định nhóm trưởng có thể làm thay một phần việc cho giáo viên như: phân công nhiệm vụ cho từng người, bố trí chỗ ngồi hợp lý, điều động mọi thành viên tham gia tích cực bằng cách: lắng nghe, khuyến khích những người rụt rè, khéo ngăn chặn những người nói nhiều, theo dõi quan sát phản ứng của từng người, thống nhất các ý kiến của nhóm, c. Mỗi “kiểu” nhóm có những lợi thế riêng: Cần hiểu rõ lơị thế cũng như nhược điểm của từng kiểu nhóm để vận dụng vào từng tình huống cụ thể. Ví dụ: nhóm cố định có lợi thế về mặt nhận thức, dễ thành lập, mất ít thời gian còn nhóm ngẫu nhiên có lợi thế về mặt xã hội, khó thành lập mất nhiều thời gian, d. Cần tuân theo quy luật giảm dần sự hỗ trợ của thầy, tăng dần sự tự chủ của nhóm, Ví dụ ban đầu, có thể thầy nêu mục đích thí nghiệm, dụng cụ thí nghiệm, phương pháp tiến hành, cách thức quan sát, gợi ý phân công, về sau khi học sinh đã quen và hoạt động nhóm đã đi vào chiều sâu thì giáo viên chỉ nêu mục đích thí nghiệm rồi các nhóm sẽ đề xuất phương pháp tiến hành, e. Ưu điểm và hạn chế: Cần hiểu rõ ưu điểm và hạn chế của hình thức tổ chức dạy học thông qua hoạt động nhóm để phát huy hay có biện pháp khắc phục nó cũng như không lạm dụng nó. Cần khắc phục cả hai khuynh hướng: tẩy chay không sử dụng hay quá lạm dụng, coi hoạt động nhóm như là một phương pháp hữu hiệu nhất, là dấu hiệu cao nhất của đổi mới phương pháp dạy học. Cần coi nó bình đẳng với các phương pháp dạy học khác và sử dụng nó phối hợp với các phương pháp khác một cách hợp lý để đem lại hiệu quả cao trong giáo dục. Các ưu điểm và hạn chế chủ yếu của hoạt động nhóm là: Ưu điểm: Phát huy được tính tích cực chủ động sáng tạo của học sinh, tạo điều kiện và cơ hội cho các em phát triển kỹ năng giáo tiếp, ứng xử và các kỹ năng xã hội khác. Hạn chế: Việc chuẩn bị của giáo viên phải công phu hơn, tổ chức có thể mất nhiều thời gian và gây ồn trong lớp khó kiểm soát; trong nhóm có thể có một số