Báo cáo Sáng kiến Một số giải pháp góp phần xây dựng giờ học hạnh phúc trong chương trình Ngữ văn Lớp 8, Lớp 9 THCS
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Báo cáo Sáng kiến Một số giải pháp góp phần xây dựng giờ học hạnh phúc trong chương trình Ngữ văn Lớp 8, Lớp 9 THCS", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
bao_cao_sang_kien_mot_so_giai_phap_gop_phan_xay_dung_gio_hoc.docx
Báo cáo Sáng kiến Một số giải pháp góp phần xây dựng giờ học hạnh phúc trong chương trình Ngữ văn Lớ.pdf
Nội dung tài liệu: Báo cáo Sáng kiến Một số giải pháp góp phần xây dựng giờ học hạnh phúc trong chương trình Ngữ văn Lớp 8, Lớp 9 THCS
- 5 - Giúp cho mục tiêu xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực thành công. Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh các khối học, đặc biệt là học sinh lớp 8,9. b. Đối tượng và thời gian nghiên cứu: - Đề tài nghiên cứu thực trạng tâm lý học sinh và giáo viên khi đến trường và giải pháp nhằm xây dựng lớp học hạnh phúc tại trường THCS Trần Đăng Ninh. - Thời gian nghiên cứu đề tài từ năm học: 2021 – 2022 đến năm học 2022 – 2023. c. Phương pháp nghiên cứu: Để thực hiện đề tài này, tôi đã thực hiện các nhóm phương pháp sau: - Nhóm phương pháp nghiên cứu lí thuyết: Nghiên cứu các văn bản, tài liệu, kế hoạch có liên quan đến đề tài. - Nhóm phương pháp điều tra khảo sát thực tế: Quá trình làm công tác chủ nhiệm và giảng dạy của bản thân và tình hình giáo dục tại nhà trường, đặc điểm của học sinh lớp 8,9 trong các giờ học Ngữ văn. - Phương pháp điều tra xã hội học: thực hiện phiếu lấy ý kiến từ giáo viên và học sinh trong trường. - Phương pháp sử dụng toán thống kê. - Phương pháp so sánh. II.2. Mô tả giải pháp kỹ thuật sau khi có sáng kiến: CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG 1. Cơ sở lí luận 1.1. Khái niệm "hạnh phúc" - "Hạnh phúc" là cảm xúc vui sướng, hài lòng của con người trong cuộc sống khi được đáp ứng, thỏa mãn các nhu cầu vật chất và tinh thần. Hạnh phúc của mỗi cá nhân gắn liền với hạnh phúc của gia đình, nhà trường, xã hội. - “Hạnh phúc” của học sinh thường được biểu hiện cụ thể ở các khía cạnh như:
- 6 + Đạt được kết quả cao trong học tập, hoạt động đoàn thể... + Được đón nhận sự động viên, khen ngợi, khích lệ của gia đình, thầy cô, bạn bè + Được sống và học tập trong môi trường thân thiện, được chăm sóc về cả vật chất và tinh thần. + Được tiếp thu tri thức và hiểu được ý nghĩa sâu sắc của quá trình học tập, rèn luyện. Từ đó, đem tri thức, kĩ năng và các bài học giáo dục nhân cách làm hành trang cho bản thân trong tương lai. + Được chia sẻ thông tin, được chia sẻ tâm trạng, cảm xúc, suy nghĩ cùng mọi người. + Được khẳng định bản thân và thấy được vị trí của mình trong tập thể, - Hạnh phúc của mỗi cá nhân gắn liền với hạnh phúc xã hội. 1.2. Khái niệm “giờ học hạnh phúc” - "Giờ học hạnh phúc" là giờ học mà cả giáo viên và học sinh hình thành và duy trì các trạng thái cảm xúc tích cực. Mỗi giờ học hạnh phúc sẽ tạo nên một lớp học hạnh phúc. Các lớp học hạnh phúc sẽ tạo nên trường học hạnh phúc. Các em học sinh được thiết lập các tình cảm lành mạnh, góp phần phát triển nhân cách tốt đẹp. - Lớp học hạnh phúc là lớp học có sự tương tác, chủ động, tích cực từ cả hai phía: giáo viên và học sinh. Lớp học hạnh phúc khiến mỗi cá nhân đều có được hứng thú, niềm vui, mong chờ Lớp học hạnh phúc là nơi có thể cảm nhận được sự an toàn, sự nâng đỡ hay sự thú vị khi có nhiều điều nằm trong nhu cầu bản thân được thỏa mãn. - Học sinh hạnh phúc trong giờ học khi có thể chủ động, tích cực lĩnh hội tri thức, có niềm tin tươi sáng, rung cảm sâu, động lực mạnh mẽ khi đến lớp và cả nỗi nhớ nhung nếu không được tới trường, 2. Thực trạng vấn đề 2.1. Về phía giáo viên Trường THCS Trần Đăng Ninh có đội ngũ giáo viên có trình độ chuyên môn nghiệp vụ vững vàng được đào tạo bài bản, tâm huyết, trách nhiệm, nhiệt
- 7 tình trong giảng dạy và giáo dục học sinh. Tuy nhiên, đội ngũ giáo viên hằng năm luôn biến động. Hai năm gần đây, dưới ảnh hưởng nặng nề của đại dịch Co- vid 19, việc dạy và học trực tuyến gặp nhiều khó khăn thử thách mới. Nhiều thầy cô giáo tập trung nghiên cứu các phần mềm, ứng dụng dạy học trực tuyến mới. Việc soạn một giờ dạy trực tuyến cũng cần nhiều thời gian và công phu hơn trước, đặc biệt là về phần công nghệ, nhất là đối với các giáo viên nhiều tuổi lại càng khó khăn trong cách thức tiếp cận. Những yếu tố trên đã tạo thành áp lực không nhỏ cho các thầy cô. Trong cuộc khảo sát đầu năm nhằm tham khảo ý kiến của giáo viên trong trường và tìm hiểu thêm một số trường lân cận, tôi đã thực hiện câu hỏi phỏng vấn: “Thầy cô có hạnh phúc khi đến trường không? Hãy kể tên các áp lực mà thầy cô đang trăn trở khi đứng lớp”. Kết quả đa số các thầy cô cảm thấy hạnh phúc với nghề, yêu nghề, yêu học trò. Tuy nhiên, các thầy cô nhận thấy một số áp lực sau: + Áp lực đến từ nội dung, chương trình. Đặc biệt là hướng tới thay sách giáo khoa, đổi mới chương trình dạy học. + Áp lực trước các kì thi, thành tích trong giáo dục. Đặc biệt là hai kì thi lớn: Thi học sinh giỏi khối 8,9 và thi vào lớp 10 THPT hệ chuyên và không chuyên. + Áp lực đến từ các phụ huynh học sinh, đặc biệt là trong các trường hợp phụ huynh quá kì vọng vào con em mình, yêu cầu cao với các thầy cô giáo hoặc trường hợp phụ huynh hoàn toàn “phó thác” việc giáo dục con cho giáo viên và nhà trường. + Áp lực đến từ xã hội khi ngày càng có nhiều các câu chuyện về giáo dục thu hút sự quan tâm đông đảo của cộng đồng. Nhiều tồn tại rất nhỏ của một vài giáo viên, hoặc một số sơ suất không đáng có của các thầy cô cũng được truyền thông, báo chí “thổi phồng”, đưa lên với các tiêu đề giật gân, dẫn đến cộng đồng có cái nhìn đôi khi còn chưa thoả đáng. + Áp lực đến từ bản thân mỗi giáo viên luôn muốn làm “tròn vai” nhiệm vụ cao cả của mình. Do đó, nhiều thầy cô đã tự đưa bản thân và học trò vào những
- 8 khuôn khổ, những đích do chúng ta tự đặt ra mà đôi khi không phù hợp với người học. Giáo viên nào cũng mong muốn học sinh học tốt bộ môn của mình, học đều các môn, ngoan ngoãn lễ phép Nhưng trên thực tế, không phải học sinh nào cũng học đều các môn. Không phải mong mỏi nào của thầy cô, học sinh cũng đáp ứng được. Khi học trò không đạt được như kì vọng, thành tích thấp hoặc thái độ không chuẩn mực, nhiều giáo viên sinh ra chán nản, mệt mỏi, giảm đi nhiệt huyết đam mê, thậm chí có người có ý nghĩ bỏ nghề. Thêm nữa, đại dịch Co-vid 19 đem lại quá nhiều hệ quả buồn cho từng gia đình học trò, kể cả gia đình riêng của các thầy cô. Nhiều thầy cô còn chịu áp lực của gánh nặng kinh tế, tinh thần, sức khỏe dẫn đến chất lượng giờ dạy ít nhiều bị ảnh hưởng. 2.2. Về phía học sinh Trường THCS Trần Đăng Ninh có 1165 học sinh (tính đến tháng 5/2023), tỉ lệ học sinh nữ chiếm: 590 em. Trường thuộc khu vực trung tâm của thành phố rất phát triển. Là trung tâm giáo dục chất lượng cao của thành phố, của tỉnh. Học sinh được tuyển chọn, do đó các em có nhận thức tốt và tương đối đồng đều, có ý thức phấn đấu và có khát vọng chinh phục các giải thưởng trong các kì thi. Bên cạnh đó, gia đình các em cơ bản thuộc các gia đình có thu nhập cao, ổn định, có điều kiện chăm sóc tốt; cha mẹ thường là cán bộ, công chức, doanh nhân, buôn bán nhỏ, công nhân, khá cao. Tuy nhiên, vẫn có một số học sinh chưa thực sự cố gắng trong học tập và rèn luyện. Một số học sinh do nhiều hoàn cảnh gia đình khác nhau nên còn chểnh mảng học tập. Nhiều bố mẹ do mải làm ăn nên chưa chú tâm đúng mức đến việc giáo dục con cái, phó thác hoàn toàn việc học của con cho nhà trường. Tôi đã tiến hành khảo sát tâm lí của học sinh 4 lớp 9A4, 9A7 (năm học 2021-2022) 8A2, 8A8 (năm học 2022- 2023) với câu hỏi: “Các em có hạnh phúc khi đến trường không?” qua bảng sau:
- 9 Mức độ 9A4 9A7 8A2 8A8 Chưa bao giờ hạnh phúc 5,9 % 3,5% 6,3% 6,9% Có lúc cảm thấy hạnh phúc nhưng 33,1% 29,7% 30% 28% hiếm Thỉnh thoảng cảm thấy hạnh phúc 43,8% 46,1% 45% 48% Thường xuyên cảm thấy hạnh phúc 17,2% 20,7% 18,7% 17,1% Từ kết quả trên cho thấy: Vẫn có học sinh thường xuyên cảm thấy hạnh phúc nhưng tỉ lệ thấp. Tỉ lệ học sinh hiếm khi hạnh phúc và thỉnh thoảng cảm thấy hạnh phúc khi đến trường còn rất cao. Cá biệt còn có học sinh hoàn toàn không cảm thấy hạnh phúc. Trong một cuộc khảo sát khác hướng vào 200 học sinh trong một nhóm trên mạng xã hội hướng về điều học sinh mong muốn từ giáo viên, kết quả thống kê như sau: - 93,3% học sinh mong giáo viên cười nhiều hơn. - 84,7% mong giáo viên nhẹ nhàng hơn khi học sinh làm sai. - 85,1% học sinh mong giáo viên đừng phê bình mình trước mặt bạn bè. - 75,2% học sinh mong giáo viên đừng bắt học thuộc lòng quá nhiều. - 89% học sinh mong giáo viên đừng nhắc đi nhắc lại là môn học này đặc biệt quan trọng. - 70,2% học sinh mong giáo viên khen thưởng nhiều hơn trách móc. - 66,5% học sinh mong giáo viên giảm bớt các bài tập về nhà. - 89,3% học sinh mong giáo viên tăng cường thực tế, liên hệ bài học với thực tiễn của tuổi các em. - 69,8% mong giáo viên công nhận suy nghĩ và hành vi của các em dù nó khác thường và không được như mong đợi. Như vậy những mong muốn của các em càng củng cố cho việc trong mỗi giờ học, các em có hạnh phúc hay không phụ thuộc khá nhiều vào cách thức tác động từ phía người giáo viên khi lên lớp, ứng xử,
- 10 CHƯƠNG 2 MỘT SỐ GIẢI PHÁP GÓP PHẦN XÂY DỰNG GIỜ HỌC HẠNH PHÚC TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN LỚP 8, LỚP 9 THCS 2.1. Giáo viên mạnh dạn thay đổi bản thân để xây dựng lớp học hạnh phúc Qua số liệu điều tra nêu trên, ta thấy rằng học sinh có hạnh phúc không phụ thuộc rất lớn vào giáo viên. Vì vậy mỗi thầy cô cần phải là người tiên phong cho việc mạnh dạn thay đổi những lối mòn cũ trong lời nói, hành động, tư duy để hướng tới phương pháp dạy học tích cực, phù hợp với nhu cầu và đặc điểm của học sinh. Thầy cô thay đổi, thầy cô hạnh phúc; học sinh hạnh phúc, trường học cũng sẽ hạnh phúc. Cụ thể: - Giáo viên nên cười nhiều hơn với học sinh để tạo bầu không khí thân thiện, vui vẻ trong giờ học. Dân gian ta có câu: “Một nụ cười bằng mười thang thuốc bổ”. Khoa học cũng đã chứng minh nụ cười giúp giảm các hooc-mon gây căng thẳng, tăng tuần hoàn máu, cải thiện thái độ tiêu cực, thay đổi quan điểm của con người theo hướng tích cực Trong mỗi giờ học, những nụ cười hạnh phúc được ví như ánh sáng hoa thơm, có sức lan tỏa mạnh mẽ.
- 11 Trong bối cảnh giáo dục hiện nay, vì rất nhiều lý do mà HS không còn thực sự tha thiết với môn Văn, các em học đối phó, học để lấy điểm mà không thực sự hào hứng với môn học, không tìm thấy niềm vui khi học tập. Điều đó đang trở thành nỗi trăn trở của mỗi người thầy dạy văn. Để các em không rơi vào “buồn ngủ” hay “chán ngấy” trong mỗi tiết học, thiết nghĩ người giáo viên cần biết tạo cảm hứng và động lực học tập. Đây là một yêu cầu, một nhiệm vụ tối cần thiết. Vì khi không có cảm hứng và động lực thì làm bất cứ việc gì cũng không xong, và mọi việc sẽ trở nên thành gánh nặng đeo đẳng mỗi người. Bởi vậy, để có được một giờ học văn lắng đọng, đầy xúc cảm, tâm hồn được thăng hoa, các giá trị của lòng bao dung từ ái được thắp sáng, để học sinh đồng điệu với những tâm tình của thầy cô sẽ phụ thuộc rất nhiều vào vai trò của người thầy, phụ thuộc vào cái cách mà người thầy truyền thụ và gieo đến tâm hồn, nhận thức của các em. Bởi vì, kiến thức là vô tận, học bao nhiêu cũng là không đủ, và rồi theo thời gian có thể hoặc là bị bào mòn, hoặc là thay đổi, lỗi thời, nhưng kĩ năng và cảm xúc là thứ tồn tại mãi mãi với con người, giúp con người nuôi dưỡng và thắp sáng những giá trị tinh thần cao đẹp. Tuy nhiên, nhiều giáo viên chưa thực sự thấy được vai trò của nụ cười trong lớp học. Vì một lí do nào đó, vụ việc cô giáo Trần Thị Minh Châu - giáo viên trường THPT Long Thới, huyện Nhà Bè, TP HCM năm 2019 suốt ba tháng lên lớp không giảng bài, chỉ ghi bài, không nở một nụ cười với học sinh là một ví dụ hi hữu, đau xót, không hiểu rồi HS sẽ ra sao. Một số giáo viên chưa biết cách quản trị cảm xúc của mình, đặc biệt là trước những thái độ chưa đúng của học sinh. Cá biệt còn có giáo viên đem những bực tức, giận dữ ở bên ngoài vào trong lớp học, khiến các em rất căng thẳng, áp lực theo. Để có thể đem lại tiếng cười hạnh phúc cho cả bản thân và học sinh trong mỗi giờ Ngữ văn: - Thứ nhất, giáo viên cần đa dạng hoá các hình thức dạy học, có thể thay đổi cách khởi động bài học bằng những câu ca dao, tục ngữ, đố vui có thưởng, một vài động tác thể dục, một bài hát, một mẩu chuyện cười, một đoạn video ngắn, thậm chí là tình huống ngẫu hứng
- 12 GV cần chuẩn bị kĩ lưỡng từ khâu vào bài, cho HS chơi trò chơi, xem video, trải nghiệm thực tế ảo, nghe nhạc, ngâm thơ, Tích cực làm mới bài giảng của mình bằng những câu chuyện, những tình huống từ thực tiễn. Từ đó, kích thích trí tưởng tượng và khả năng tư duy của học sinh. Không cố “nhồi nhét” kiến thức mà quên đi HS đang muốn gì ở thầy cô. Vận dụng linh hoạt, hiệu quả các PPDH tích cực, tránh tuyệt đối việc đọc chép một văn bản dài lê thê và yêu cầu HS học thuộc rồi đọc lại những điều đã thuộc mà không hiểu, không thực sự có xúc cảm văn chương Ví dụ: Khi dạy bài Tức nước vỡ bờ, Ngữ văn 8, tập 1: Tôi cho học sinh xem video về hiện tượng đê vỡ, (địa chỉ có đường link sau:) Gv: Tại sao đê lại vỡ? Hs: Nước dâng cao quá, đê yếu không chịu nổi sức mạnh của nước... Gv: Đúng vậy, khi nước dâng lên cao quá, vượt quá khả năng chứa thì một điều đương nhiên xảy ra là sẽ bị vỡ bờ. Nhà văn Ngô Tất Tố đã mượn hiện tượng tự nhiên này để nói về hiện thực xã hội Việt Nam ở những năm 1930-1945 khi những người nông dân bị bóc lột, chà đạp một cách dã man. Vậy phản ứng của họ ra sao khi bị dồn vào đường cùng? Chúng ta cùng tìm hiểu đoạn trích Tức nước vỡ bờ, trích trong Tắt đèn của Ngô Tất Tố. Trong các phương pháp dạy học tích cực, đóng vai là phương pháp phù hợp với đặc trưng dạy - học của môn Ngữ văn. Đây là phương pháp tổ chức cho học sinh thực hành để trình bày những suy nghĩ, cảm nhận và ứng xử theo một vai giả định. Từ đó giúp học sinh suy nghĩ sâu sắc về một vấn đề bằng cách đứng từ chỗ đứng, góc nhìn của người trong cuộc, tập trung vào một sự kiện cụ thể mà các em quan sát được từ vai của mình. (Lưu ý, muốn học sinh thực hiện tốt, giáo viên cần giao nhiệm vụ cho học sinh chuẩn bị ở nhà từ tiết học trước). Ví dụ: Khi dạy bài “Bài toán dân số”, Ngữ văn 8, tập 1, tôi cho học sinh thể hiện tiểu phẩm đã được chuẩn bị ở nhà "Chuyện nhà Minh" - Hai gia đình sống trong hai hoàn cảnh khác nhau: nhà Sơn có hai anh em, có điều kiện, đi học cả hai anh em được đưa đón bằng ô tô, xe máy.
- 13 - Nhà Minh 5 anh em, bố mẹ làm công nhân. Bố mẹ sinh nhiều con vì suy nghĩ "Trời sinh voi, trời sinh cỏ"; "Đời cua cua máy, đời cáy cáy đào". Gia cảnh nghèo khó nên anh em Minh ăn mặc nhếch nhác, đi học bằng xe đạp cũ, không được chăm sóc, có nguy cơ phải bỏ học. - Cô giáo đến nhà vận động bố mẹ Minh cho con đến trường, xin nhà trường hỗ trợ học phí, tặng quà của các bạn cho → bố mẹ nhận ra việc sinh nhiều con nên không đủ điều kiện cho con ăn học, có điều kiện sống như mọi người. Học sinh dưới lớp quan sát, tham gia nhận xét một cách hào hứng, sau đó Gv đánh giá: Từ giữa thế kỉ XX cho đến nay, dân số thế giới, nhất là dân số các nước kém phát triển tăng lên một cách chóng mặt. Làm thế nào để hạn chế sự bùng nổ và gia tăng dân số nhằm tránh hiểm họa và nâng cao cuộc sống con người? Đây chính là vấn đề được tác giả Thái An đề cập đến trong bài “Bài toán dân số”. Khởi động bằng cách kể chuyện cũng là một cách tuyệt vời để thay đổi “khẩu vị” bài giảng. Vì sao học sinh thường rất thích nghe kể chuyện? Đơn giản vì điều đó làm giải tỏa những căng thẳng trong quá trình học tập. Chúng được phép tưởng tượng theo những gì thầy cô kể thay vì nhìn chằm chằm vào sách, vào vở hay chiếc bảng đen, những thứ đôi khi khiến chúng nhàm chán. Nhưng phải kể gì và phải kể như thế nào? Điều này phụ thuộc vào cách linh hoạt của mỗi thầy cô khi lồng ghép chuyện kể vào bài giảng của mình. Ví dụ: Khi dạy bài “Từ địa phương và biệt ngữ xã hội”, Ngữ văn 8, tập 1, tôi kể câu chuyện cười: Có một chàng trai về nhà người yêu ở Huế ra mắt. Vừa về tới cổng, con chó thấy người lạ chạy ra sủa inh ỏi. Mẹ của cô gái vội chạy ra quát con chó và nói với chàng rể tương lai: - Nó không có răng mô con. Chàng rể nghĩ thầm trong bụng (nhe răng như răng cọp thế kia mà lại bảo không có răng). Gv: Răng ở đây nghĩa là gì? Ý của mẹ cô gái muốn nói là: Nó không có cắn đâu con, không sao đâu con. Còn chàng rể tương lai lại hiểu là con chó không có cái răng nào. Gv: Vậy tại sao chàng rể tương lai lại hiểu sai lời của bác gái?
- 14 Hs: Đó là vì từ “răng” chỉ dùng ở một số địa phương miền Trung chứ không phải là từ toàn dân. Gv dẫn dắt vào bài: Trong ngôn ngữ tiếng Việt, bên cạnh những từ ngữ toàn dân còn có những từ ngữ chỉ dùng trong một địa phương, một vùng nhất định như những từ ta vừa giải nghĩa ở trên. Và một số từ ngữ chỉ có trong hoàn cảnh giao tiếp của một vài đối tượng. Hôm nay chúng ta sẽ tìm hiểu về những từ ngữ đó qua bài: Từ ngữ địa phương và biệt ngữ xã hội. Ví dụ như khi chuẩn bị vào tiết dạy bài thơ “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” của Phạm Tiến Duật năm học trước, không may trong quá trình di chuyển từ phòng Hội đồng lên lớp, một chiếc giày của tôi bị bục gót. Không kịp để về nhà thay, không thể mượn ai, tôi vẫn bước lên lớp với một bên giày bị hỏng. Thay vào việc xấu hổ và cố giấu giếm hay ngồi im ở bục giảng, tôi cố tình xòe cái giày vừa hỏng cho học sinh nhìn và hào hứng chia sẻ: - Các em biết không, ngay cách đây một phút, chiếc giày của cô hết hạn sử dụng rồi. (Cả lớp cười ồ). Nhưng chẳng sao cả, ông cha ta ngày xưa còn “chân không giày, áo rách vai, quần vài mảnh vá” vẫn có thể ung dung chờ giặc tới trong tư thế của những vị thần ánh sáng “Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới/Đầu súng trăng treo”. Vậy thì các điều kiện vật chất có là gì, nếu trong trái tim ta rực lửa? (Hs bắt đầu chăm chú lắng nghe, thích thú). Kể cả “chân không giày”, cô
- 15 trò ta vẫn rực sáng trong từng tiết học văn của chúng ta. Còn hôm nay, cô trò ta lại được đến với những người lính trên những chiếc xe mất hết hệ số an toàn, không đèn, không kính, không mui nhưng vẫn chạy bằng động lực trái tim vì miền Nam ruột thịt. Đó là “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” của Phạm Tiến Duật – bức tượng đài về tuổi trẻ Trường Sơn những năm chống Mĩ.” Vậy là tiết học hôm đó đã bắt đầu với tràng cười vui vẻ hào hứng và sự đồng tình, tán thưởng. Các em học sinh được kích thích những cảm xúc tích cực và từ đó thu nhận kiến thức dễ dàng hơn. - Thứ hai là giáo viên có thể lồng ghép sự hài hước của mình qua lời nói, cử chỉ, biểu cảm: Ví dụ khi học sinh mắc lỗi khi đang nói, thay vì cắt ngang hay sửa lại, tôi thường làm gương mặt khôi hài, giả bộ cực kì sốc đối với điều kì lạ, sau đó là một nụ cười. Điều đó khiến học sinh nhìn ra được lỗi của mình những sẽ giảm bớt áp lực để học sinh sửa sai. Đôi khi, giáo viên có thể nhận xét và đưa ra những lời bình luận vui vẻ để học sinh có tâm lý thoải mái, không che giấu những lỗ hổng kiến thức của mình. - Giáo viên hướng dẫn nhẹ nhàng khi học sinh làm bài sai, giữ bình tĩnh khi học sinh mắc lỗi và không phê bình nặng lời, gay gắt trước mặt người khác; biết khích lệ, khen thưởng các em nhiều hơn. Thường xuyên tuyên dương khen thưởng kịp thời, trân trọng những thành quả, dù là nhỏ nhất của HS, nhận xét đánh giá cần thận trọng, tránh những câu từ mang năng lượng tiêu cực, hoặc có khả năng gây mất hứng thú ở HS, khích lệ sự trao đổi cởi mở chân thành và với cá nhân tôi, trách phạt HS cũng là một nghệ thuật, một sự tinh tế khéo léo, phạt thế nào, đủ để sau khi trách phạt, các em không chỉ nhận ra lỗi, sửa lỗi và không bao giờ tái phạm mà còn thực sự cảm phục thầy cô, biến được lời dạy khuyên bảo, trách phạt ấy thành một bài học nhân sinh sâu sắc đi suốt cuộc đời.

