Báo cáo Sáng kiến Một số biện pháp rèn luyện năng lực giao tiếp cho học sinh qua hoạt động nói - Nghe trong chương trình Ngữ Văn 10
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Báo cáo Sáng kiến Một số biện pháp rèn luyện năng lực giao tiếp cho học sinh qua hoạt động nói - Nghe trong chương trình Ngữ Văn 10", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
bao_cao_sang_kien_mot_so_bien_phap_ren_luyen_nang_luc_giao_t.docx
Nội dung tài liệu: Báo cáo Sáng kiến Một số biện pháp rèn luyện năng lực giao tiếp cho học sinh qua hoạt động nói - Nghe trong chương trình Ngữ Văn 10
- trong nhiều ngữ cảnh khác nhau. Folse miêu tả như là một quá trình “liên hợp”, “bao gồm ba giai đoạn chính: Sản xuất, tiếp nhận và xử lí thông tin”. Kĩ năng nói (KNN) được đánh giá giá là phần quan trọng trong việc hình thành và phát triển năng lực giao tiếp bằng một ngôn ngữ của mỗi người. Cùng với kĩ năng nghe, kĩ năng nói được xác định là một trong những KN cơ bản của thế kỉ XXI. Erik Palmer đã thống kê cách chúng ta sử dụng thời gian giao tiếp: Đọc: 16%, Viết: 9%, Nói: 30%, Nghe: 45%. Như vậy, chúng ta sử dụng 3/4 thời gian giao tiếp cho việc nghe và nói. Việc thiếu hụt kĩ năng nói trong các hoạt động giao tiếp sẽ là một cản trở rất lớn đối với mỗi người trong xã hội. Nói là khả năng diễn đạt lời nói dưới dạng âm thanh, thể hiện ở việc người nói dùng khẩu ngữ để truyền đạt thông tin, biểu đạt tư tưởng, tình cảm một cách chính xác, sinh động, có sức thuyết phục. Làm chủ được KNN sẽ giúp người nói tạo ra mối quan hệ tốt đẹp trong giao tiếp, tự khẳng định mình và là công cụ tạo ảnh hưởng với người khác. 1.2. Nghe Hoạt động nói bao giờ cũng hướng đến đối tượng tương tác, đó là người nghe. Nghe là một quá trình thụ động, chỉ việc con người tiếp nhận mọi loại âm thanh. Nhưng trước một vấn đề của người nói, con người lại thường chuyển nghe sang trạng thái chủ động là lắng nghe. Ở trạng thái lắng nghe, người nghe tập trung và mong muốn thấu hiểu những nội dung thông tin mà người nói muốn truyền đạt. Bên cạnh mục đích của lắng nghe, người nghe có thể tương tác, phản hồi để đi đến thống nhất về quan điểm, hiểu đúng vấn đề trao đổi và đó chính là kĩ năng nghe của con người. Mặc dù nghe là một phản xạ của con người, nhưng lắng nghe là một kỹ năng cần phải rèn luyện trong thời gian dài mới có khả năng thành thục. Kỹ năng lắng nghe không chỉ ứng dụng vào môi trường thực hiện công việc mà còn áp dụng vào đời sống gia đình, bạn bè, xã hội. Và kỹ năng lắng nghe cũng là điều cơ bản mà một đơn vị, lớp học, trường học đòi hỏi ở mỗi cá nhân tham gia hoạt động giao tiếp, hợp tác. Tầm quan trọng của kỹ năng lắng nghe. Lắng nghe là kĩ năng cơ bản và bí quyết giúp thành công trong giao tiếp, nếu có kĩ năng lắng nghe HS sẽ đặt được mình vào vị thế kẻ mạnh, trở thành người dễ gần, dễ mến.
- Vì lắng nghe, khác với nghe ở chỗ, nghe là một quá trình thụ động, trong đó chúng ta đón nhận tất cả các âm thanh đến tai mình còn lắng nghe là một quá trình chủ động; lắng nghe bao gồm việc sử dụng các kiến thức và kinh nghiệm hiện có để hiểu thông tin mới. Lắng nghe giúp ta thu thập được nhiều thông tin để hiểu và giải quyết vấn đề; giúp ta hiểu người khác và ứng xử phù hơp. Biết lắng nghe các ý tưởng sáng tạo sẽ nảy sinh nhiều hơn khi các cuộc giao tiếp cởi mở. Nhưng đây là một kĩ năng khó và rất nhiều người chưa biết lắng nghe. Lắng nghe có tầm quan trọng trong giao tiếp như sau: - Lắng nghe là kỹ năng cần thiết, nó nắm giữ tới 90% sự thành công của cuộc tiếp cận bên cạnh kỹ năng nói. Dù nghe là phản xạ của con người, tuy nhiên biết lắng nghe lại là kỹ năng cần rèn luyện & học tập thì mới có thể thành thục. - Biết nghe người khác nói cũng là cách để giao tiếp thành công ích lợi của việc hiểu được cách lắng nghe: Lắng nghe là cách để rèn luyện năng lực tập trung và nâng cao kỹ năng trong tiếp xúc của bản thân Việc lắng nghe đối phương nói có thể giúp bạn thu thập thông tin và nắm bắt vấn đề 1 cách phong phú. Nhờ đấy, nâng cao năng lực tương tác giữa bạn và đối phương và việc đàm phán/ giải quyết vấn đề cũng đơn giản hơn. Lắng nghe thể hiện sự tôn trọng với đối phương. từ đó, tạo cảm tình với họ trong buổi trò chuyện, & giải quyết mối xung đột hiệu quả. Đây cũng là cơ hội để tạo được các mối quan hệ tốt trong cuộc sống cũng giống như công việc. 2. Năng lực giao tiếp 2.1. Khái niệm Theo Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên (2000) định nghĩa năng lực là: “1. Khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó. 2. Phẩm chất tâm lí và sinh lí tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao” . Theo Tài liệu tập huấn của Bộ giáo dục và Đào tạo về Dạy học và kiểm tra, đánh giá kết quả học tập theo định hướng phát triển năng lực HS môn Ngữ văn cấp THPT do Bộ GD và ĐT phát hành năm 2014 đã đưa ra khái niệm năng lực: “Đó là sự kết hợp một cách linh hoạt và có tổ
- chức kiến thức, kỹ năng với thái độ, tình cảm, giá trị, động cơ cá nhân, nhằm đáp ứng hiệu quả một yêu cầu phức hợp của hoạt động trong bối cảnh nhất định. Năng lực thể hiện sự vận dụng tổng hợp nhiều yếu tố (phẩm chất của người lao động, kiến thức và kỹ năng) được thể hiện thông qua các hoạt động cá nhân nhằm thực hiện một loại công việc nào đó” . Năng lực giao tiếp là khả năng giao tiếp có liên quan đến những người khác với độ chính xác, rõ ràng, dễ hiểu, chặt chẽ, chuyên môn, hiệu quả và phù hợp. Đó là một thước đo để xác định mức độ các mục tiêu nào của sự tương tác đang đạt được. 2.2. Cấu trúc của năng lực giao tiếp Việc phân định các thành phần khác nhau của năng lực giao tiếp cũng rất đa dạng ở các tác giả khác nhau. Theo Daniel Coste, năng lực giao tiếp bao gồm bốn thành phần: - Thành phần làm chủ ngôn ngữ gồm các kiến thức ngôn ngữ, các kỹ năng liên quan đến sự vận hành của ngôn ngữ với tư cách là một hệ thống cho phép thực hiện các phát ngôn; - Thành phần làm chủ văn bản gồm các kiến thức ngôn ngữ, kỹ năng liên quan đến diễn ngôn, các thông điệp với tư cách là một chuỗi tổ chức phát ngôn; - Thành phần làm chủ các yếu tố về phong tục gồm các kiến thức, kỹ năng liên quan đến tập quán, chiến lược, cách điều chỉnh trong trao đổi liên nhân theo đúng địa vị, vai vế và ý định của những người tham gia giao tiếp; - Thành phần làm chủ tình huống bao gồm các kiến thức và kỹ năng liên quan đến các yếu tố khác nhau có thể ảnh hưởng đến cộng đồng và sự lựa chọn của người sử dụng ngôn ngữ trong một hoàn cảnh cụ thể. Tuy nhiên, thiên về góc độ nội lực cá nhân cần vận dụng trong giao tiếp, A. Abbou đã đề xuất cấu trúc năm yếu tố của năng lực giao tiếp, bao gồm: năng lực ngôn ngữ, năng lực văn hóa-xã hội, năng lực logic, năng lực lập luận và ký hiệu học. Cụ thể như sau (A. Abbou, 1980: 15):
- - Năng lực ngôn ngữ, Abbou cho rằng nó bao gồm các năng lực bẩm sinh và khả năng sử dụng ngôn ngữ mà chủ thể người nói có được để tiếp nhận và diễn đạt các phát ngôn của người khác và đưa ra các phát ngôn để người khác có thể tiếp nhận và diễn đạt lại được. Như vậy, năng lực này bao gồm các mặt thuần túy ngôn ngữ, diễn ngôn (chuyển từ câu sang lời nói) và các tình thái (tu từ). Năng lực này được thể hiện dưới nhiều cấp độ, tức là theo số lượng và sự phức tạp của các phát ngôn và các mẫu được tiếp nhận và phát ra. - Năng lực văn hóa-xã hội bao gồm các năng lực bẩm sinh và khả năng sử dụng ngôn ngữ mà chủ thể người nói có được để kết nối các tình huống, sự kiện, hành vi, ứng xử với các mã hóa xã hội và hệ quy chiếu (hệ thống các quan niệm điều chỉnh việc tổ chức các tập quán về khoa học và xã hội). Giống như năng lực ngôn ngữ, năng lực này cũng được hình thành theo từng cấp độ. - Năng lực logic chỉ các năng lực bẩm sinh và khả năng để tạo ra tập hợp các diễn ngôn có thể diễn đạt được, liên kết với các biểu trưng và phạm trù thực tế và phân biệt các cơ sở khái niệm, các phương thức nối kết và bước cụ thể để đảm bảo diễn ngôn được thống nhất, tiến triển và có hiệu lực. - Năng lực lập luận bao gồm các năng lực bẩm sinh và khả năng cho phép tạo ra các thao tác diễn ngôn theo mối quan hệ giữa cá nhân với tổ chức, với tình huống, với nhu cầu, với dự định mang tính chiến lược và chiến thuật. - Cuối cùng là năng lực tín hiệu học bao gồm các năng lực bẩm sinh và khả năng giúp cá nhân có được các phương tiện tiếp nhận các đặc tính võ đoán, đa hệ thống và nhất là dễ thay đổi của tín hiệu diễn tả mang tính xã hội và các diễn đạt bằng ngôn ngữ. Đặc biệt, năng lực này được cụ thể hóa bằng việc hiểu và thực hành các thao tác diễn đạt, giữ và tái hiện nghĩa hoặc là để phù hợp với thực tế hoặc là khi tưởng tượng có sử dụng ngôn ngữ để thể hiện được các dấu hiệu ảo ảnh hoặc ý muốn. 2.3. Tiêu chuẩn đánh giá năng lực giao tiếp - Khả năng thích ứng: là khả năng đánh giá tình hình và khi cần thiết thay đổi hành vi, mục tiêu để đáp ứng nhu cầu của sự tương tác. Nó là tín hiệu cao nhận thức về quan
- điểm, lợi ích, mục tiêu và phương pháp giao tiếp của người khác, luôn sẵn sàng để sửa đổi những hành vi và mục tiêu của chính mình để thích ứng với các tình huống tương tác. - Tham gia đàm thoại (giao tiếp): tương tác trong giao tiếp là một yếu tố xác định mức độ mà các cá nhân tham gia vào đàm thoại (giao tiếp) với người khác. Cụ thể là những người tham gia trong giao tiếp không giống nhau về sự chăm chú và khả năng nhận thức, khả năng cảm thụ. - Quản lý đàm thoại: là cách điều chỉnh về sự tương tác của những người tham gia đàm thoại. Đây là một vấn đề hiểu biết về các quy tắc giao tiếp, trao đổi với nhau. Các quy tắc giao tiếp cũng giống như hành vi xã hội khác có điều kiện và đạt được theo cùng một cách. - Đồng cảm: là khả năng để minh chứng sự hiểu biết và sự chia sẻ các ý kiến trong bất kỳ hoàn cảnh nào. Đó là một khả năng bẩm sinh của con người cho rằng khả năng để hiểu được những kinh nghiệm độc đáo của người khác. Nó kết nối mọi người với nhau trên một mức độ có ý nghĩa và hoàn thành. Nó chứng tỏ thái độ chăm sóc của một người hướng về người khác. Nó giúp mọi người hiểu nhau tốt hơn. Nó thường dẫn đến hội thoại hướng tới các vấn đề tình cảm. Nó xây dựng một mối quan hệ cá nhân với những người khác. Nó giúp giảm bớt những phản ứng với người khác về thái độ hoặc hành vi. Nó giúp giảm bớt những thành kiến hoặc giả định tiêu cực về người khác. Nó mang đến nhiều ý nghĩa, hữu nghị hơn, gần gũi hơn về tình bạn. - Hiệu quả: hiệu quả đề cập đến mức độ mà những người giao tiếp chia sẻ cùng có ý nghĩa và mục tiêu thích hợp liên quan đến kết quả. Mã hóa hiệu quả và quy trình giải mã dẫn đến ý nghĩa đôi bên cùng chia sẻ. Cùng nhau chia sẻ sẽ dẫn đến sự lĩnh hội hiểu biết lẫn nhau về nhận thức. - Phù hợp: là một tiêu chí cơ bản để xác định năng lực giao tiếp, phù hợp là khả năng duy trì sự mong đợi của một tình huống. Các cá nhân điển hình sử dụng những kỳ vọng và kịch bản của họ tiếp cận với một hoàn cảnh tương tác. Họ cũng xây dựng ấn tượng của mình về một năng lực giao tiếp trên cơ sở nhận thức của họ về các hành vi khác của lời nói và không phải lời nói có liên quan đến sự tương tác thiết lập.
- II. THỰC TRẠNG NĂNG LỰC NÓI – NGHE CỦA HỌC SINH LỚP 10 Để tìm hiểu nhận thức của HS về tầm quan trọng của hoạt động nói – nghe trong học tập và sinh hoạt, chúng tôi đã tiến hành điều tra, khảo sát 95 HS tại Trường THPT X. Số liệu xử lí như sau: Bảng. Nhận thức của HS về vai trò của hoạt động nói – nghe: TT Mức độ Số lượng Tỉ lệ 1 Rất quan trọng 32 33,7% 2 Quan trọng 40 42,1% 3 Bình thường 23 24,2% 4 Không quan trọng 0 0% Qua khảo sát cho thấy: Có 32 ý kiến (33,7%) cho rằng hoạt động nói - nghe là rất quan trọng; có 40 ý kiến (42,1%) cho rằng hoạt động nói - nghe quan trọng; có 23 ý kiến (24,2%) cho rằng hoạt động cũng bình thường như những hoạt động khác; không có HS cho là không quan trọng. Từ kết quả trên, có thể thấy, về cơ bản, đa số HS (75,8%) cho rằng hoạt động nói - nghe có vai trò quan trọng và rất quan trọng trong học tập và sinh hoạt. Nhưng vẫn còn một số HS (24,2%) chưa coi trọng vai trò của hoạt động nói - nghe. Để tìm hiểu năng lực nói – nghe, chúng tôi tiếp tục tiến hành khảo sát 95 HS, kết quả thu được như sau: Bảng 2. Đánh giá năng lực nói - nghe Ý kiến TT Nội dung khảo sát Đồng Không Tỷ lệ Tỷ lệ ý đồng ý Cần phải chủ động nâng cao hiệu quả hoạt động nói bằng cách: chuẩn bị nội 1 dung nói, Tìm ý, sắp xếp ý nói; Xác 91 95,8% 04 4,2% định từ ngữ then chốt trong bài nói; Chuẩn bị phương tiện hỗ trợ
- Cần phải chủ động nâng cao hiệu quả hoạt động nghe bằng cách: Tìm hiểu 2 trước về vấn đề người nói sẽ trình bày; 85 89,5% 10 10,5% Chuẩn bị tâm thế lắng nghe; Xác định các vẫn đề cần đối thoại với người nói. Trình bày rõ ràng, mạch lạc các nội 3 dung nói 81 85,3% 14 14,7% 4 Có thái độ tôn trọng người nói 56 58,9% 39 41,1% Cần có sự tương tác giữa người nói và 5 53 55,8% 42 44,2% người nghe 6 Ý kiến khác... Như vậy, kết quả khảo sát cho thấy vẫn còn khá nhiều HS chưa chủ động tham gia vào các hoạt động nói – nghe trên lớp cũng như trong cuộc sống; vẫn còn khá nhiều HS thiếu vốn ngôn ngữ, chưa linh hoạt trong diễn đạt, năng lực giao tiếp còn hạn chế. Vẫn còn HS chưa quan tâm đến thái độ nghe, chưa có sự tương tác với người nói trong quá trình nghe. Nói – nghe là cặp hoạt động mang đặc tính của việc tạo lập lời nói lẫn việc tiếp nhận lời nói. Cả hai hoạt động này thường luân phiên thay thế nhau trong giao tiếp của con người, nếu không có phương pháp rèn luyện HS sẽ gặp nhiều lúng túng khi giao tiếp. Vì vậy, việc nghiên cứu tìm ra những nội dung cũng như các giải pháp rèn luyện năng lực nói, nghe cho HS một cách có hiệu quả là rất cần thiết. Hiện nay, một bộ phận học sinh (HS) trung học còn yếu về KNN. Nguyên nhân dẫn đến thực trạng này là: - HS ngại nói trong giờ học, có tâm lí ngượng ngùng, dè dặt vì sợ nói sai, không có đủ thông tin để diễn đạt... - Sự hạn chế về vốn sống, vốn hiểu biết và kinh nghiệm giao tiếp, ít giao lưu trong gia đình, tập thể dẫn đến việc HS không chủ động, linh hoạt trong việc thực hiện các chủ đề, hình thức nói. - Các hoạt động tập thể cần đến việc trao đổi, thảo luận, diễn thuyết, hùng biện,... ít và khó được tổ chức nên HS không có nhiều điều kiện để rèn luyện KNN.
- - Số lượng HS ở mỗi lớp học khá đông nên việc rèn luyện KNN cho từng HS còn hạn chế. - Một bộ phận giáo viên (GV) chú trọng rèn luyện KN viết, chưa có phương pháp phù hợp, sáng tạo để khuyến khích, tạo điều kiện và phát triển NL nói cho HS. Chương trình giáo dục phổ thông mới thể hiện sự quan tâm nhất định đến việc phát triển toàn diện các KN hoạt động lời nói cho người học, trong đó có KNN. Bởi vậy, cần thiết có một sự nhìn nhận thỏa đáng và có những nghiên cứu thiết thực để tìm ra những cách thức dạy học kĩ năng nói hiệu quả cho HS. III. CÁC BIỆN PHÁP RÈN LUYỆN NĂNG LỰC GIAO TIẾP CHO HỌC SINH QUA HOẠT ĐỘNG NÓI - NGHE (NGỮ VĂN 10) 1. Rèn luyện năng lực giao tiếp cho học sinh qua hoạt động nói - nghe 1.1. Rèn luyện năng lực giao tiếp cho học sinh qua hoạt động NÓI Tạo môi trường để phát huy hoạt động nói: Trong mỗi giờ học Ngữ văn, GV cần đa dạng các hình thức, loại hình hoạt động thúc đẩy việc nói cho HS, GV nên lưu ý một số điểm sau để giúp HS luyện nói tốt hơn. KNN phải luôn được đặt trong hoạt động giao tiếp và việc luyện nói một cách nghiêm túc và thường xuyên. Cần phải thực hiện các yêu cầu chuẩn bị nói: Xác định nội dung nói, Mục đích nói; Xây dựng đề cuqwowng (Dàn ý) của bài nói; Chuẩn bị các thiết bị hỗ trợ; ước tính thời gian và chỉnh sửa những chỗ cần thiết về nội dung và cách thể hiện. Luyện nói để giúp người nói ghi nhớ các dữ liệu và trình tự thuyết trình một cách hiệu quả, giúp việc trình bày vấn đề được thông suốt hơn; giúp người nói nhận ra được những khó khăn và hạn chế của mình trong lúc phát biểu. Theo đó, cách tốt nhất là mỗi HS nên ghi hình lại quá trình luyện nói của mình, tự xem lại để rút kinh nghiệm và nhờ người khác góp ý. Phối hợp sử dụng thường xuyên các hình thức luyện tập nói theo cặp hoặc theo nhóm để HS có nhiều cơ hội luyện KNN trong lớp, từ đó giúp HS cảm thấy tự tin và mạnh dạn hơn trong giao tiếp. - Ngữ cảnh cần được giới thiệu rõ ràng, sử dụng thêm các giáo cụ trực quan đa phương tiện để gợi ý hay tạo tình huống giao tiếp.
- - Có thể mở rộng tình huống khai thác các tình huống có liên quan đến chính hoàn cảnh của địa phương, khuyến khích liên hệ đến tình hình cụ thể của chính cuộc sống thật của HS. - Sử dụng công nghệ thông tin vào việc minh họa, hỗ trợ cho phần trình bày bằng lời nói cũng ảnh hưởng rõ rệt đến hiệu quả và chất lượng nói. Việc sử dụng các công cụ trình chiếu, các hình ảnh minh họa cho bài phát biểu sẽ giúp người nghe hiểu rõ hơn về nội dung đang được nói đến và người nói sẽ dễ dàng tương tác với người nghe. 1.2. Rèn luyện năng lực giao tiếp cho học sinh qua hoạt động NGHE - Có những nguyên nhân chủ quan thuộc về người nghe như: Sự xao nhãng, nghe qua loa, phân tán chú ý; Cảm nhận tiêu cực về đề tài; chỉ nghĩ về mình; Cảm nhận tiêu cực về người nói. Cũng có thể nguyên nhân là do phía nguời nói mức độ quan tâm thấp đối với người nghe. Hay nguyên nhân xuất phát từ sự khác nhau về tốc độ truyền và nhận tin (Trung bình nói 125 – 150 từ/phút; đọc nhanh gấp 2-3 lần nói; người nghe xử lý thông tin nhanh gấp 2 -3 lần người đọc; con người suy nghĩ nhanh hơn từ 10-20 lần họ nói). - Để có được kĩ năng lắng nghe, HS phải: tập trung chú ý vào nguời nói; tự gợi mở hiểu biết cho mình khi nghe; lắng nghe gắn với quan sát cách ứng xử. Cần phải chú ý tới những thông điệp thông qua cách ứng xử của đối phương, vì nó có thể thống nhất hoặc không thống nhất với lời nói của đối phương. Cần phải lưu ý rằng, sử dụng kĩ năng lắng nghe là nhằm để thực hiện các mục đích: lắng nghe để thu thập thông tin; lắng nghe để giải quyết vấn đề; lắng nghe để thấu cảm. Nguyên tắc “vàng” cần biết để có kỹ năng lắng nghe hiệu quả, đó là: Nghe với mục đích để hiểu; Tránh việc chen ngang; Phản hồi người nói. Nhờ những kĩ năng này mà HS nhận ra: NÓI thế nào để người NGHE thấy dễ hiểu nhất, tìm cách thuyết phục họ bằng ngôn từ. Chính tư duy kiểu ấy thúc đẩy khả năng ngôn ngữ của các em lên một tầm mới, giao tiếp sẽ thuần thục và khả năng tương tác vì thế cũng tốt hơn. 2. Rèn luyện năng lực giao tiếp cho học sinh qua hoạt động NÓI – NGHE trong chương trình Ngữ văn 10. 2.1 Xác định mục tiêu của chủ đề nói – nghe
- Mục đích của giải pháp là GV giúp HS xác định và nắm rõ mục tiêu chính của chủ đề cần luyện nói, nghe là gì? Ở giải pháp này, tôi sử dụng kỉ thuật dạy học “Động não”. Động não là một kỹ thuật nhằm huy động những tư tưởng mới mẻ, độc đáo về một chủ đề của các thành viên trong thảo luận. Các thành viên được cổ vũ tham gia một cách tích cực, không hạn chế ý tưởng nhưng tập trung làm rõ chủ đề của nhóm. Chủ đề là điểm tựa, gợi ý cho phần luyện nói, luyện nghe. Gợi ý sao để tất cả HS đều được nói, được nghe không đi quá xa với chủ đề. Chẳng hạn như: Chủ đề “Nói lời cảm ơn”, “Những người bạn tốt” nếu đi quá sâu vào chủ đề sẽ dễ lẫn sang dạy đạo đức. Vì thế, để khắc phục điều này GV chỉ định hướng cho các em mấy lưu ý: CHUẨN BỊ NÓI CHUẨN BỊ NGHE - Lựa chọn đề tài - Tìm hiểu trước về bài nói - Tìm ý và sắp xếp ý - Ghi lại thông tin trong quá trình nghe - Xác định từ ngữ then chốt KHI THỰC HÀNH NÓI VÀ NGHE: Người nói Người nghe - Nêu đề tài bài nói, trình bày lí do lựa - Chú ý lắng nghe bài nói chọn bài nói - Nghe trên tinh thần xây dựng - Trình bày các ý theo đề cương - Đặt câu hỏi - Tóm tắt bài nói và mở rộng nâng cao - Trao đổi với người nói một số quan điểm của mình Hình ảnh minh họa (Phụ lục 4) Chính những định hướng ngắn gọn này mà các em tương tác tốt với giáo viên, có những em không ngần ngại nhờ GV hướng dẫn chọn đề tài; tìm ý và sắp xếp ý; mở rộng nâng cao vấn đề khi nói đồng thời, biết cách đặt câu hỏi khi nghe. Việc trao đổi qua lại này, khiến năng lực giao tiếp của HS được nâng cao bởi sự mạnh dạn, dám bày tỏ những trăn trở của bản thân, những bỡ ngỡ ban đầu được giải tỏa. 2.2. Hướng dẫn HS biết tận dụng hiệu quả của giao tiếp phi ngôn ngữ Nếu lời nói và chữ viết (ngôn ngữ) là phương tiện giao tiếp cực kì quan trọng trong
- đời sống xã hội thì giao tiếp phi ngôn ngữ cũng có ý nghĩa quan trọng không kém. Mỗi ánh mắt, nụ cười, cử chỉ, hành động,v.v. đều có ý nghĩa của nó và là phương tiện giúp những người tiến hành giao tiếp hiểu được nhau. Một nghiên cứu cho thấy rằng, trong giao tiếp thông qua hình thức nói, thì tác động của từ ngữ chỉ chiếm 30 – 40%, phần còn lại là tác động của giao tiếp phi ngôn ngữ, bao gồm: nét mặt, nụ cười, ánh mắt, cử chỉ, hành động, trang phục, không gian giao tiếp, Giao tiếp phi ngôn ngữ phản ánh chân thật và đầy đủ các mối quan hệ, do đó, HS cần tuân thủ các nguyên tắc sau đây để tận dụng hiệu quả của giao tiếp phi ngôn ngữ, nhằm không chỉ giúp người ta hiểu được nhau, mà còn giúp hoàn thiện các mối quan hệ, giúp con người sống đẹp hơn, có ý nghĩa hơn: - Phát huy việc tiếp xúc bằng mắt một cách thích hợp để cho mọi người biết mình thực sự thích thú khi giao tiếp với họ; - Luôn nở nụ cười làm cho cuộc đời đẹp hơn, mọi người cảm thấy ấm áp thân thiện, gần gũi với nhau hơn; đừng vô tình có những cử chỉ thái độ dễ gây hiểu lầm; - Hãy làm cho cuộc giao tiếp bằng ngôn ngữ hiệu quả hơn bằng cách sử dụng kèm theo những điệu bộ, cử chỉ khi nói; - Luôn thể hiện sự thích thú lắng nghe người khác khi giao tiếp và điều đặc biệt nên nhớ là đứng hay ngồi cũng phải ngay ngắn, chững chạc, trông thoải mái tự tin, nhưng cũng đừng quá cứng nhắc, căng thẳng và trịnh trọng. Định hướng này khích lệ HS chỉn chu hơn trong giao tiếp, nhận ra sức mạnh của những điều tưởng như rất nhỏ mà không hề nhỏ. 2.3. Rèn luyện kĩ năng trình bày cho HS Việc trình bày cho HS cơ hội tốt nhất để tạo ra một ấn tượng mạnh mẽ. Vì vậy HS phải đầu tư nhiều thời gian và công sức để chuẩn bị thật tốt để có thể trình bày hấp dẫn. Để trình bày tốt cần xác định mục tiêu của chúng ta khi chuẩn bị bài phát biểu; làm cho những điểm chính của bài trình bày dễ nhớ hơn; đừng kết thúc bài trình bày bằng phần đặt câu hỏi và trả lời; khi trình bày cần tránh sự lúng túng bằng cách giấu đi nỗi lo lắng của bạn, biết khi nào bắt đầu, trả lời câu hỏi ngay lập tức. Các nguyên tắc cần phải rèn luyện là:

