Báo cáo Sáng kiến Một số biện pháp rèn kỹ năng vận động cho trẻ 24-36 tháng trong Trường Mầm non

docx 22 trang Chăm Nguyễn 20/02/2026 80
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Báo cáo Sáng kiến Một số biện pháp rèn kỹ năng vận động cho trẻ 24-36 tháng trong Trường Mầm non", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docxbao_cao_sang_kien_mot_so_bien_phap_ren_ky_nang_van_dong_cho.docx

Nội dung tài liệu: Báo cáo Sáng kiến Một số biện pháp rèn kỹ năng vận động cho trẻ 24-36 tháng trong Trường Mầm non

  1. trong ao tù", "Nguyên nhân chậm phát triển của cơ thể hài nhi là do thiếu vận động". Ngày nay khoa học đã chứng minh được rằng: phần lớn những trẻ ít vận động thì các vận động phúc hợp và chức năng thần kinh thực vật thường kém phát triển, hoạt động hệ tuần hoàn và hệ hô hấp bị hạn chế, khả năng lao động chân tay giảm sút, trọng lượng cơ thể tăng nhanh. Các con được giáo dục thể chất đầy đủ và khoa học sẽ giúp cải thiện sức khỏe, giúp cơ thể phát triển cân đối cả về chiều cao và cân nặng. Ngoài ra vận động chăm chỉ sẽ giúp các bé tránh được các bệnh như: còi xương, suy dinh dưỡng, béo phì... Khi vận động thường xuyên cơ thể con người sẽ nâng cao sức đề kháng chống lại các bệnh do vi rút, vi khuẩn gây ra. Với một phương pháp phát triển vận động chuẩn các con cũng sẽ được phát triển hệ xương và hệ cơ từ đó có một cơ thể cân đối. Khi vận động tiêu hao năng lượng nên các con sẽ ăn ngon, ngủ tốt hơn tinh thần cũng vì vậy mà vui vẻ, đặc biệt nhờ có vận động các con sẽ trở nên năng động và hoạt bát hơn rất nhiều. Vận động có vai trò hết sức quan trọng đối với sự phát triển của cơ thể, ở mỗi một giai đoạn thì nhu cầu vận động của trẻ là khác nhau. Vì vậy khi lập chương trình giáo dục thể chất nhằm phát triển vận động cần dựa trên những cơ sở sau: + Các bài tập vận động phải phù hợp với từng độ tuổi làm sao gây được hứng thú cho trẻ + Các bài tập vận động có tác dụng chung đến toàn bộ cơ thể, kích thích được nhiều cơ bắp tham gia thúc đẩy sự hoạt động của toàn bộ các hệ cơ quan trong cơ thể. + Cùng với việc dạy trẻ các bài tập vận động chúng ta cũng phải chú ý đến việc phát triển các kỹ năng, tố chất vận động. + Cần tăng cường ưu tiên các nhóm cơ bắp còn yếu về mặt sinh lý và giáo dục tư thế đúng cho trẻ, giúp trẻ có một thân hình cân đối, các động tác nhẹ nhàng chính xác. + Sự phát triển vận động được thực hiện thông qua nhiều hình thức phong phú phù hợp với đặc điểm phát triển của trẻ mẫu giáo như trò chơi vận động, thể dục sáng, tiết học thể dục, dạo chơi, các trò chơi thể thao lao động. Do đó phát triển tính tích cực vận động trong giáo dục thể chất cho trẻ em cần được tiến hành một cách mạnh mẽ, toàn diện, cần được sự quan tâm ủng hộ của toàn xã hội, tạo điều kiện cho trẻ phát triển tốt nhất. a) Vai trò và ý nghĩa của giáo dục phát triển vận động đối với sự phát triển toàn diện của trẻ mầm non Giáo dục phát triển vận động là một trong những nhiệm vụ của giáo dục phát triển thể chất nhằm phát triển toàn diện cho trẻ mầm non. Dưới góc độ sinh lý học, vận động là sự chuyển động của cơ thể con người trong đó có sự tham gia của hệ cơ, hệ xương trong đó có sự phát triển cơ thể con người ở nhiều mặt khác nhau. Dưới tác động của giáo dục, các hoạt động nhằm phát triển vận động cho trẻ sẽ được nghiên cứu, sự lựa chọn và tổ chức một cách khoa học để đạt mục tiêu giáo dục đề ra. 3
  2. - Về mặt thể chất, giáo dục phát triển vận động góp phần tăng cường và bảo vệ sức khỏe: + Các bài tập vừa sức giúp cơ thể trẻ thoải mái, kích thích hoạt động của các hệ cơ quan bên trong như hệ tuần hoàn, hệ thần kinh, hệ tiêu hóa, hệ hô hấp...Đặc biệt khi trẻ luyện tập với các yếu tố tự nhiên như ánh nắng mặt trời, nước, không khí...không chỉ tăng cường hiệu quả luyện tập mà còn giúp trẻ thích nghi tốt hơn với môi trường sống bên ngoài tăng cường sức đề kháng của cơ thể trẻ. + Thực hiện các bài tập vận động một cách khoa học giúp phát triển hệ cơ, hệ xương, củng cố khớp, dây chằng, tạo khẳ năng phát triển đúng tỉ lệ giữa các bộ phận cơ thể. Từ đó phát triển tư thế thân người hợp lý hoặc uốn nắn những tư thế sai cho trẻ mầm non. - Về các kĩ năng vận động và tố chất vận động , giáo dục phát triển vận động giúp hình thành và rèn luyện các kỹ năng vận động, đồng thời phát triển các kỹ năng vận động: + Nhờ đặc điểm hoạt động của hệ thần kinh theo cơ chế phản xạ nên những bài tập được lặp đi lặp lại sẽ tạo ra các kỹ năng vận động và dần dần hình thành thói quen cho trẻ. Những thói quen vận động giúp trẻ thực hiện các vận động trong cuộc sống hàng ngày nhanh, chính xác, tiết kiệm được sức di chuyển trong không gian. Ví dụ: Đứng trước một vũng nước, trẻ biết nhảy bật qua chứ không giẫm vào để bị ướt; Để đến được đích nhanh hơn, trẻ chạy chứ không đi; Để lấy được một vật trong gạm giường, trẻ chọn trườn và bò. + Các tố chất vận động như nhanh, mạnh, khéo léo, bền bỉ được chú trọng vận động rèn luyện một cách đồng đều thông qua nhiều bài tập vận động khác nhau tạo nên sự hài hòa, cân bằng tương đối về tố chất cho mỗi cá nhân. Ngoài ra, việc luyện tập theo nguyên tắc phát triển: tăng dần yêu cầu luyện tập đối với từng trẻ trên cơ sở khả năng và điều kiện thực hiện của chúng sẽ giúp cơ thể trẻ thích nghi dần với lượng vận động. Sau một thời gian, các tố chất vận động của trẻ sẽ được cải thiện hơn. - Góp phần giáo dục toàn diện cho trẻ mầm non: Việc thực hiện các bài tập vận động góp phần tích cực vào giáo dục phát triển nhận thức( tăng cường hiểu biết; làm phong phú biểu tượng về bài tập vận động, Các bộ phận trên cơ thể và tác dụng của các bài tập vận động đến chúng; yêu cầu luyện tập...), giáo dục phát triển tình cảm và kĩ năng xã hội(tình cảm, thái độ phù hợp với việc luyện tập vận động ; có kĩ năng vệ sinh cá nhân, môi trường và dụng cụ luyện tập ; hình thành các phẩm chất nhân cách cần thiết của người lao động...), giáo dục phát triển thẩm mĩ( nhận thức đúng về cái đẹp trong trang phục luyện tập, các động tác vận động; có mong ước được tạo ra cái đẹp trong luyện tập vận động...) và giáo dục lao động cho trẻ mầm non (tham gia chuẩn bị địa bàn, các dụng cụ luyện tập; cất đặt đồ dùng, dụng cụ luyện tậpđúng chỗ quy định; quý trọng sức lao động của người khác...) b) Đặc điểm phát triển vận động của trẻ 24-36 tháng tuổi Sự phát triển vận động của trẻ 2 tuổi được diễn ra trên cơ sở của những vận 4
  3. động tự đi bộ. Một số trẻ có thể biết đi từ cuối năm thứ nhất. Nhưng hầu hết phairsang đầu năm thứ hai trẻ mới bắt đầu tập đi. Đặc điểm những bước đi đầu tiên của trẻ là khi đi hai chân dang rộng, tay đưa sang hai bên, phía trước hoặc lên cao, phối hợp được chân và tay, bước chân ngắn, không đều, dễ ngã, bàn chân đặt chua thẳng. Nên sử dụng bài tậpđi từ đơn giản đến phức tạp nhằm hoàn thiện bước đi cho trẻ. Cuối năm thứ hai, bước đi của trẻ đã giảm bớt sự dao động, độ dài của bước đi đã tăng lên. Cảm giác thăng bằng có tác dụng giữ cho cơ thể ở mọi vị trí trong không gian Cảm giác thăng bằng ở trẻ 2 tuổi bắt đầu phát triển nhờ có vận động đi, trẻ đã biết phối hợp giữa tay và chân khi đi chậm. Cần sử dụng các bài tập đi với các kiểu khác nhau như đi trên đường thẳng, đi trong đường hẹp ... để phát triển cảm giác thăng bằng cho trẻ. Vận động bò: Trẻ bắt đầu trườn từ tháng thứ 5 sang tháng thứ 7 trẻ biế bò. Cuối năm thứ nhất sang năm thứ hai trẻ đã biết bò thành thạo. Lúc này trẻ sử dụng vận động bò như một phương tiện di chuyển. Cần áp dụng bài tập ò khác nhau để phát triển cơ chân, cơ tay và sự phối hợp giữa chúng Vận động lăn và ném: Trẻ bắt đầu tập lăn và ném bóng, trẻ có thể lăn bóng bằng hai tay, ném bóng bằng một tay về phía trước. Nên cho trẻ tập lăn và ném với các dụng cụ như bóng, túi cát. Như vậy đa số những vận động cơ bản của trẻ lên 2 tuổi đã được hình thành, trừ vận động chạy, nhảy. Đến cuối năm thứ hai, trẻ có thể chơi trò chơi vận động. Vai trò chủ động vận độngtrong khi chơi của trẻ được hình thành và phát triển dần dần, giúp cho việc tiến tới hoàn thiện các động tác Quan sát lứa tuổi này cho thấy: Lúc đầu trẻ bắt chước hành động chơi của người lớn, nhất là trong trò chơi, sau đótrẻ nhớ lại vận động để thực hiện nhiều hơn là do người lớn cùng tham gia với trẻ. Dần dần trẻ tự thực hiện động tác và người lớn dùng lời nói để chỉ dẫn thêm. Khả năng phối hợp vận động của trẻ 2 tuổi cũng trở nên rõ rệt hơn. 7.1.2. Thực trạng về thuận lợi và khó khăn của trường lớp, về khả năng vận động của trẻ và giáo viên trường mầm non Thanh Vân a) Thực trạng vấn đề giáo dục phát triển vận động của trường mầm non Thanh Vân - Tam Dương - Vĩnh Phúc * Thuận lợi - Về cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ hoạt động giáo dục phát triển vận động Năm học 2018 - 2019 nhà trường có 2 khu một khu lẻ và một khu trung tâm với tổng diện tích là 14.000m2, tổng số phòng học cho cả hai khu là 18 phòng học, Trong đó có 3 lớp 2 tuổi. Khu lẻ các lớp học có nhà vệ sinh khép kín sạch sẽ, thoáng mát, có đủ diện tích cho trẻ hoạt động. Khuân viên rộng rãi có tường bao quanh, sân chơi được đổ bê tông và có mái che, hệ thống bồn hoa được bố trí đẹp mắt, sân trường được trang trí thành các khu các goc chơi rieng biệt đẹp mắt (khu vườn cổ tích, khu phát triển vận động, góc chợ quê, khu cát nước, khu trải nghiệm...) 5
  4. Hàng năm nhà trường được SGD&ĐT, PGD&ĐT cấp phát một số đồ dùng phục vụ cho các hoạt động của cô và trẻ. Ngoài ra nhà trường đôn đốc giáo viên làm bổ sung thêm rất nhiều đồ dùng đảm bảo đẹp mắt và bền nhằm phục vụ các hoạt động trong đó có đồ dùng phục vụ hoạt động PTTC. - Đối với đội ngũ giáo viên Nhà trường có tổng số 6 giáo viên dạy độ tuổi 2 tuổi trong đó + Trình độ đạt chuẩn 6 / 6=100%; trên chuẩn 4 / 6= 66% Đội ngũ giáo viên trẻ tuổi năng động nhiệt tình yêu nghề mến trẻ, tích cực học hỏi nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ. Nhà trường tạo điều kiện thuận lợi cho giáo viên đi học nâng cao trình độ chuyên môn. Vào các dịp hè được tham gia học bồi dưỡng chuyên môn của Sở GD&ĐT, phòng giáo dục và đào tạo và của trường mở. Dự và dạy các hoạt động chuyên môn của phòng, chuyên đề của trường, dự giờ đồng nghiệp tạo điều kiện cho giáo viên được học tập nâng cao kiến thức chuyên môn nghiệp vụ. Bản thân đã được bồi dưỡng về nội dung giáo dục phát triển kỹ năng vận động và nhiều năm liên tục xây dựng thực hiện chuyên đề phát triển vận động cho trẻ nên đã cơ bản có kiến thức để giáo dục trẻ. - Đối với phụ huynh Nhiều phụ huynh quan tâm đến việc tổ chức các hoạt động giáo dục phát triển kỹ năng sống của cô và trẻ, chủ động phối hợp với giáo viên cùng giáo dục trẻ. Đã có nhiều phụ huynh nhiệt tình ủng hộ nguyên vật liệu để cô giáo cùng trẻ làm đồ dùng phục vụ cho các hoạt động trên lớp, các đồ chơi phục vụ trẻ chơi ngoài trời - Đối với trẻ Trẻ được học cùng một độ tuổi, trẻ chăm chỉ đi học và biết vâng lời cô, ngoan ngoãn, chú ý học bài. * Khó khăn - Một số phụ huynh còn mải làm kinh tế nên không có nhiều thời gian quan tâm đến con và chưa hiểu tầm quan trọng của việc giáo dục phát triển vận động đối với trẻ. - Một số phụ huynh có quan điểm sai về giáo dục phát triển thể chất cho trẻ cho rằng nội dung đó là không cần thiết trong khi lại quá quan trọng việc học và cung cấp kiến thức. - Khả năng nhận thức của trẻ chưa đồng đều, hầu hết trẻ là con em nông thôn nên việc được tiếp cận với phát triển vận động qua nhiều hình thức là hạn chế. - Một số trẻ suy dinh dưỡng yếu về thể lực nên ít vận động không hòa đồng cùng các bạn. Ngược lại một số trẻ lại quá hiếu động, hay đùa nghịch, thường xuyên nói chuyện trong giờ học. - Trẻ nhà trẻ đôi khi còn quấy khóc, khả năng tập trung chú ý của trẻ độ tuổi 2 tuổi là chưa cao c) Nhận thức của trẻ 6
  5. Tôi tiến hành khảo sát 68 trẻ 2 tuổi trường mầm non Thanh Vân và khảo sát kĩ năng tổ chức hoạt động phát triển vận động của giáo viên đứng lớp 2 tuổi kết quả như sau: Biểu 1: Khảo sát giáo viên đứng lớp 2 tuổi Trường MN Thanh Vân lần 1 TSGV Tốt Khá TB Yếu T dạy 2 Nội dung khảo sát T Số Tỷ lệ Số Tỷ lệ Số Tỷ lệ Số Tỷ tuổi GV GV GV GV lệ Nhiệt tình có ý thức tự bồi dưỡng hoạt động 1 2 33% 3 50% 1 17% 0 giáo dục PT thể chất cho trẻ 6 Có kỹ năng tổ chức các hoạt động giáo 17 2 2 33% 2 33% 1 17% 1 dục PT thể chất cho % trẻ Biểu mẫu 2: Khảo sát trẻ 2 tuổi trường MN Thanh Vân lần 1 Tốt Khá TB Yếu Số TT Nội dung khảo sát trẻ Số Tỷ Số Tỷ Số Tỷ Số Tỷ trẻ lệ trẻ lệ trẻ lệ trẻ lệ Phát triển các nhóm 1 12 18% 22 32% 25 37% 9 13% cơ hô hấp 2 Đi và chạy 18 26% 19 28% 21 31% 10 15% 3 Bò, trườn, trèo 14 21% 19 28% 18 26% 17 25% 4 Tung, ném, bắt 8 12% 14 21% 20 29% 26 38% 5 Nhún, bật 27 40% 18 26% 17 25% 6 9% 68 Cử động bàn tay, 6 ngón tay,phối hợp 18 26% 16 24% 17 25% 17 25% tay mắt Nhận xét Qua khảo sát thực tế tôi nhận thấy tỷ lệ trẻ đạt khá tốt ở tất cả tiêu chí chưa cao. Nhất là các kỹ năng bò trườn, trèo, tung, ném, bắt tỷ lệ khá tốt lại không cao. Vẫn có trẻ xếp loại yếu ở hầu hết các nội dung, trong đó nội dung tung, ném, bắt có số trẻ xếp loại yếu cao nhất = 38%. * Nguyên nhân Thể lực của trẻ chưa đồng đều; 7
  6. Trẻ mới đến lớp đôi khi còn quấy khóc, khả năng tập trung chú ý ở độ tuổi này chưa cao; Đồ dùng dạy học cho hoạt động phát triển thể chất chưa phong phú; Giáo viên chưa hiểu về trẻ chưa biết cách tổ chức hoạt động giáo dục kỹ năng sống theo hướng sáng tạo. Hầu hết chỉ theo các hình thức đơn giản chưa thu hút được trẻ; 7.2. Khả năng áp dụng của sáng kiến Xuất phát từ thực tế trên, tôi nhận thấy một thực tế tỷ lệ trẻ đạt tốt, khá ở các nội dung chưa cao, vì vậy tôi đã tìm tòi nghiên cứu và quyết định tiến hành áp dụng sáng kiến thông qua các biện pháp sau. 7.2.1. Thực hiện tốt các hoạt động phát triển vận động cho trẻ * Thực hiện tốt các bài tập phát triển nhóm cơ và hô hấp (Thể dục sáng) Tập thể dục sáng rất có lợi cho sức khỏe con người đặc biệt là cho các bé ở trường mầm non. Nhưng hầu như các bé ít có hoạt động thể dục buổi sáng vì các gia đình chưa có thói quen tập thể dục vì cha mẹ quá bận rộn. Hầu hết các bé đến trường mầm non mà còn trong cơn buồn ngủ, đầu óc chưa tỉnh táo đặc biệt là trẻ độ tuổi 2 tuổi. Tạm biệt ba mẹ bé được các cô đón vào lớp, bé sẽ theo các bạn xuống sân trường xếp hàng tập thể dục, những động tác vận động vui nhộn sẽ khiến cơ thể giải phóng endorphins và hormone khác có tác dụng tăng cường sức lực cho cơ thể tạo ra nguồn năng lượng để cơ thể hoạt động cho một ngày dài. Bé hết buồn ngủ, tinh thần tỉnh táo, bắt đầu một ngày với nhiều năng lượng tích cực hơn. Thể dục sáng được tiến hành vào sáng sớm khi đón trẻ tót nhất là cho trẻ tập ngoài trời nơi có không khí thoáng mát. Tập thể dục thường xuyên giúp trẻ hít thở sâu, điều hòa nhịp thở, tăng cường quá trình trao đổi chất và tuần hoàn trong cơ thể; Giúp các khớp dây chằng được mền dẻo, linh hoạt; đồng thời hỗ trợ cho những hoạt động trong ngày của trẻ thêm nhịp nhàng nhanh nhẹn, giảm động tác thừa và tạo cho trẻ tâm trạng sảng khoái, vui tươi đón ngày hoạt động mới Các động tác trong bài tập được sắp xếp theo trình tự: động tác thở, động tác phát triển cơ tay,cơ bả vai, cơ lưng bụng và động tác phát triển cơ chân, mỗi bài tập có 4 đến 5 động tác, mỗi động tác tập 2- 3 lần Để trẻ hứng thú tập luyện và thực hiện chính xác các động tác, bài tập được xây dựng dưới hình thức trò chơi có chủ đề và có sự kết hợp với đồ dùng dụng cụ thể dục (gậy, vòng,dây nơ, bóng...) đồ dùng dụng cụ cần chuẩn bị trước và sắp xếp sao cho cô và trẻ dễ lấy không để mất thời gian tập luyện. Ví dụ: Bài tập thể dục sáng mang tên trò chơi thổi bóng - Động tác 1: Thổi bóng - Động tác 2: Đưa bóng lên cao: - Động tác 3: Cầm bóng lên - Động tác 4: Bóng nhẩy 8
  7. Bài tập thể dục sáng mang tên Chú gà trống - Động tác 1: Gà gáy - Động tác 2: Gà vỗ cánh - Động tác 3: Gà mổ thóc - Động tác 4: Gà bới đất Dưới hình thức tên gọi trò chơi như vậy trẻ hứng thú chú ý tới hành động động tác của cô để từ đó trẻ bắt chước giống cô và thực hiện được các động tác như cô Nơi tập luyện sạch sẽ thoáng mát, cho trẻ mặc quần áo gọn gàng để không hạn chế vận động của trẻ khi tập Bài tập được kết hợp với nhạc để làm tăng tính nhịp điệu, bài tập sinh động hơn và kích thích trẻ hào hứng tập luyện Trước và sau khi thực hiện bài tập tôi cho trẻ vận động đi lại nhẹ nhàng một vài phút. giáo viên làm mẫu cho trẻ tập theo, khi hướng dẫn giáo viên nói ngắn gọn kèm theo làm động tác mẫu chính xác, thời gian cho trẻ trẻ tập khoảng 5 - 7 phút Thể dục sáng đòi hỏi giáo viên phải chọn lọc những bài tập vận động và phương pháp tiến hành phù hợp với lứa tuổi 2 tuổi. Ngoài ra giáo viên cần chú ý hướng đến việc giáo dục trí tuệ, cảm xúc, điều khiển hành vi vận động ở trẻ, giúp trẻ hiểu được ý nghĩa của nhiệm vụ do giáo viên đề ra và tích cực vượt qua khó khăn xuất hiện trong hoạt động của mình. * Thực hiện tốt các vận động cơ bản và phát triển tố chất vận động ban đầu cho trẻ (hoạt động học) Hoạt động Phát triển thể chất là một hoạt động vô cùng quan trọng đối với trẻ nó yêu cầu tính khoa học và phù hợp lứa tuổi Giờ học phát triển thể chất đồi hỏi giáo viên phải có các bước tiến hành theo quy định và nôi dung phải phù hợp với chương trình độ tuổi phù hợp với khả năng vận động của trẻ lớp mình Đối với trẻ 24 - 36 tháng tuổi giờ PTTC được kéo dài 15 - 20 phút và tuân thủ theo các bước - Khởi động: Đi chạy nhẹ nhàng 1 - 2 phút, sau đó đứng tự do thành vòng tròn vòng cung hoặc hàng thẳng để tập - Trọng động: + Khoảng 12 - 14 phút + Tập bài tập phát triển chung theo trình tự: Tay-vai, lưng - bụng - lườn, chân + Tập hai vận động cơ bản: một vận động mới và một vận động ôn luyện dưới hình thức trò chơi. Lưu ý 2 vận động không cùng một dạng vận động Ví dụ: Một vận động đi, một vận động bò, hoặc một vận động chạy, một vận động tung hoặc ném. Hồi tĩnh: 1- 2 phút, cho trẻ đi nhẹ nhàng đi thường một hai vòng quanh chỗ tập rồi nghỉ, chuyển sang hoạt động khác. 9
  8. Tùy vào từng nội dung dạy giáo viên có thể linh hoạt lồng ghép với các nội dung và lĩnh vực khác cho phù hợp. Và đảm bảo thu hút được trẻ hứng thú tham gia hoạt động. Một hoạt động chơi - tập có chủ định của trẻ 24 - 36 tháng tuổi có 2 vận động cơ bản, một vận động mới (vận động trẻ chưa thành thạo cần tập luyện) và một vận động ôn luyện được thực hiện dưới hình thức trò chơi Cần hướng dẫn trẻ thực hiện bài tập vận động nhằm thực hành vận động mới, vận động trẻ chưa thành thạo trong hoạt động chơi tập có chủ định. Cô làm mẫu chính xác, vừa làm vừa giải thích ngắn gọn, trẻ tập theo cô. Tổ chức cho trẻ được luyện tập củng cố vận động trong các hoạt động chơi, chơi tự do ở trong lớp, ngoài trời, thứ tự và số lần tập phụ thuộc vào thể trạng, mức độ phát triển và khả năng hoạt động của trẻ. Ở độ tuổi này không yêu cầu trẻ tập chính xác động tác mà động viên khích lệ trẻ thực hiện động tác đúng hơn * Thực hiện tốt các bài tập phát triển cử động bàn tay, ngón tay và phối hợp tay mắt Các cử động của bàn tay, ngón tay như co, duỗi các ngón tay, các động tác xâu, xỏ, luồn dây, cài – mở cúc, xếp chồng và sử dụng đồ dùng đồ chơi. Mỗi lần tập luyện cho trẻ lựa chọn nội dung phù hợp với sự phát triển của trẻ, kết hợp 2 – 3 nội dung trong một hoạt động Ví dụ: Sử dụng chiếc áo của trẻ cho trẻ tập các động tác cài, mở cúc áo, gập áo, tập vò... Kết hợp các động tác cử động trẻ đã thành thạo với cử động trẻ chưa làm được của độ tuổi tiếp theo. Khi tổ chức cho trẻ thực hiện cô làm mẫu các động tác và vừa làm vừa hướng dẫn trẻ làm theo. Nếu cần thiết cô cầm tay trẻ và giúp trẻ thực hiện động tác. Khi chỉ dẫn cách thực hiện động tác, cô kết hợp dạy trẻ cách phát âm và tập nói Ví dụ: Cô vừa làm các động tác vừa nói gập, cài cúc, vò... Cô chuẩn bị điều kiện phù hợp và mở rộng phạm vi hoạt động (thời gian, địa điểm, nguyên vật liệu, trang thiết bị) sau đó quan sát trẻ hoạt động, khuyến khích, giúp đỡ, và hướng dẫn trẻ khi cần thiết, để tạo cơ hội cho trẻ có nhiều cơ hội được thực hành các kĩ năng, thao tác tay Hình thức tiến hành các hoạt động thao tác tay thường xuyên, lien tục dưới hình thức chơi, tập hoặc chơi tự do một cách linh hoạt. Có thể tập từng trẻ hay theo nhóm 3 - 5 trẻ khoảng 5 - 15 phút khi trẻ chơi vui vẻ Chỗ tập có thể là trên phản, bàn ghế, thảm hay trên sàn Sử dụng đồ dùng, đồ chơi cho trẻ tập luyện chuẩn bị những vật đơn giản, dễ kiếm như: cát, nước, đát sét, sỏi, đá, đồ dùng sinh hoạt hàng ngày như phấn, cặp quần áo, bút...; các đồ chơi khác nhau vừa tay cầm của trẻ: bộ cài khuy vào khuyết, bộ chơi nấu ăn, bộ gắn nút... Dụng cụ đồ dùng đồ chơi lựa chọn phải an toàn đảm bảo vệ sinh khi cho trẻ sử dụng, chọn đồ chơi bền, không dễ vỡ, không sắc nhọn, không sơn bằng chất độc hại, có thể cọ rửa và phơi nắng 10
  9. Xếp đồ dùng trong tầm với của trẻ, ở vị trẻ có thể tự lấy, cất một cách dễ dàng Có thể cho trẻ chơi với các ngón tay Ví dụ: Trò chơi ngón tay nhúc nhích, mỗi ngón tay ứng với ứng với các thành viên trong gia đình như anh cả béo trục béo tròn (ngón tay cái), anh hai chỉ đường (ngón tay trỏ), anh ba cao nhất (ngón giữa), anh tư hơi thấp (ngón tay áp út), bé nhất là ú tem (ngón út). Trẻ vừa đọc và vừa làm động tác co duỗi ngón tay. 7.2.2. Tạo môi trường phát triển vận động cho trẻ Ngay từ đầu năm học tôi đã tiến hành lên ý tưởng và xây dựng góc Phát triển vận động cho lớp với những đồ dùng đồ chơi được cấp phát ngoài ra tôi còn tích cực tìm tòi tự làm một số đồ dùng như túi cát, vòng, gậy, cổng chui để phục vụ công việc giảng dạy nhằm thu hút được sự tham gia của trẻ. Tôi sắp xếp đồ dùng một cách hợp lý đẹp mắt và thuận tiện cho việc lấy cất hàng ngày. Tôi tiến hành trang trí góc với những hình ảnh đẹp mắt sinh động và thu hút được trẻ tham gia tại góc này đồng thời thấy được sự qua tâm tìm hiểu của phụ huynh Sau khi xây dựng góc PTVĐ tôi tuyên truyền với phụ huynh đầu tư thêm đồ dùng dụng cụ cho góc vận động thêm phong phú như làm những chiếc cổng chui từ lốp xe, làm bập bênh đơn bập bênh đôiSau khi hoàn thiện góc PTVĐ của lớp mình tôi tuyên truyền với các giáo viên khác và tư vấn cho các cô làm góc PTVĐ cho các lớp, từ việc bố trí khu vực đặt góc cho hợp lý, sắp đặt đồ dùng, trang trí tranh ảnh. Sau khi xây dựng góc PTVĐ tôi tuyên truyền với phụ huynh đầu tư thêm đồ dùng dụng cụ cho góc vận động thêm phong phú như làm những chiếc cổng chui từ lốp xe, làm bập bênh đơn bập bênh đôi. Ngoài ra tôi trang trí hành lang,lối đi vào lớp những hình dán ngộ nghĩnh ứng với các bài tập như trẻ đi theo đường ngoằn nghoèo, đi theo đường dích dắc, bặt về phía trước nhằm tạo môi trường vận động cho trẻ. Hình ảnh: Góc vận động của lớp 11
  10. Sau khi hoàn thiện góc PTVĐ của lớp mình tôi tuyên truyền với các giáo viên khác và tư vấn cho các cô làm góc PTVĐ cho các lớp, từ việc bố trí khu vực đặt góc cho hợp lý, sắp đặt đồ dùng, trang trí tranh ảnh. 7.2.3. Rèn kĩ năng phát triển vận động cho trẻ thông qua trò chơi Đối với trẻ thơ hoạt động vận động thông qua các trò chơi là một biện pháp hữu hiệu nhất. Trò chơi đã trở thành phương tiện để đem đến cho trẻ các yếu tố diễn tả của nghệ thuật sinh động , nó có tác dụng mạnh mẽ nhưng lại đến với trẻ một cách nhẹ nhàng, thoải mái. Trong một chừng mực nào đó trò chơi còn là phương tiện, biện pháp và là hình thức tổ chức dạy học cho trẻ, chơi được sử dụng trong quá trình dạy học nhằm tích cực hoá hoạt động nhận thức của trẻ. Do đó phải sử dụng nhiều biện pháp thủ thuật trong giờ học để gây thú và thu hút sự tập trung vốn rất ngắn của trẻ. Nếu trong quá trình dạy trẻ phát triển vận động mà giáo viên sử dụng linh hoạt một số biện pháp chơi giúp cho trẻ có sự thi đua, thêm hứng thú kích thích quá trình học tập của trẻ, sẽ không mất nhiều thời gian mà kết quả sẽ tốt hơn. Trò chơi ở đây không phải là một phần trong bố cục bài dạy mà nó chỉ có vai trò là yếu tố chơi trong quá trình dạy trẻ vận động. Nhằm mục đích giúp trẻ hứng thú tham gia hoạt động, không bị căng thẳng, mệt mỏi, nhàm chán, thời gian để đáp ứng yêu cầu của bài học không bị kéo dài. Trò chơi vận động là một hình thức trong giáo dục phát triển vận động, nó có vị trí quan trọng trong cuộc sống, và hoạt động hàng ngày của trẻ, trò chơi vận động có thể tổ chức vào nhiều thời điểm trong ngày ở trường MN (Sau khi đón trẻ và trước khi trả trẻ, trong giờ học thể dục, giữa các hoạt động trong hoạt động ngoài trời hoạt động chiều .) Hay ngoài thơi gian ở trường mầm non. Nó có thể tổ chức ở bất kì đâu ( trong lớp, ngoài sân trường) không giới hạn số trẻ chơi, và dụng cụ chơi. Cho dù là trò chơi quen thuộc nhưng mỗi lần chơi đều đem lại cho trẻ những cảm xúc mới mãnh liệt bởi chính khả năng sang tạo to lớn của chúng trong trò chơi - đưa vào trò chơi những yếu tố mới, tùy thuộc vào khả năng và nhu cầu của nhóm trẻ tha gia chơi. Vì thế, có thể cùng một chủ đề nhưng thường trò chơi này khác với trò chơi kia, lần chơi này khác với lần chơi trước, nhóm chơi này khác với nhóm chơi kia. 7.2.4. Tham mưu với ban giám hiệu tổ chức hoạt động ngoại khóa chủ đề phát triển vận động cho trẻ. Tổ chức “Tuần lễ sức khỏe” cho trẻ 2 lần /năm, nhằm tạo kiện cho trẻ được vui chơi thoải mái ngoài trời, bổ sung thêm nhiều trò chơi, bài tập vận động khác nhau trong các hoạt động của trẻ. Hình thành cho trẻ những hiểu biết cơ bản về đặc điểm cấu tạo và chức năng của cơ thể mình. Từ đó có sự chuẩn bị tâm lí cần thiết cho hoạt động về sức khỏe. Ở tuần lễ sức khỏe tôi lựa chọn nội dung, phương pháp để hướng dẫn trẻ vận động. Ví dụ: Chọn các bài tập phát triển cơ hô hấp, cơ tay, cơ chân, bàn chân và rèn luyện tư thế đúng. Đưa thêm các bài tập để rèn luyện thị giác như: “Sóc nâu nhảy từ cành nọ sang cành kia” Cô có thể trò chuyện với trẻ về các đề tài khác nhau như: Cách giữ gìn vệ sinh thân thể, ăn uống hợp lí, cách tập luyện, cấu tạo từng phần trong cơ thể 12
  11. Tuần lễ sức khỏe là hình thức nghỉ ngơi tích cực dành cho trẻ trong suốt 1 tuần tổ chức tuần lễ sức khỏe nhằm mục đích: Tạo điều kiện cho trẻ được vui chơi thoải mái ngoài trời, bổ xung thêm nhiều trò chơi, bài tập vạn động khác nhau trong các hoạt động của trẻ Hình thành cho trẻ những hiểu biết cơ bản về đặc điểm cấu tạo và chức năng của cơ thể mình, từ đó, có sự chuẩn bị tâm lí cần thiết cho hoạt động bảo vệ sức khỏe. Tổ chức “Ngày hội thể dục thể thao” cho trẻ 1 lần /năm vào khoảng tháng 4. Trong ngày hội cô chuẩn bị địa điểm, dụng cụ tập luyện, trang trí băng cờ, khẩu hiệu có thể thông báo cho phụ huynh biết và cùng tham gia với lớp. Khi vào ngày hội, cô đưa ra yêu cầu trò chơi, khẩu lệnh bắt đầu và kết thúc trò chơi, bài tập vận động, đưa ra kết luận, làm trọng tài chính của cuộc thi, bao quát và thúc đẩy trẻ, kịp thời nhắc nhở và tác động đến không khí chung của ngày hội. Các trò chơi bắt đầu từ đơn giản sau đó phức tạp hóa và đưa ra yêu cầu vận động cao hơn. Qua ngày hội nhằm rèn luyện cơ thể trẻ, khích lệ lòng yêu thích thể dục, thể thao, góp phần củng cố và hoàn thiện kĩ năng vận động ở trẻ Ngày hội thể dục thể thao chếm một vị trí đặc biệt quan trọng trong trường mầm non Nói chung và trong lĩnh vực phát triển vận động nói riêng. Tổ chức ngày hội thể dục thể thao nhằm rèn luyện cơ thể trẻ, khích lệ lòng yêu thích thể dục thể thao, góp phần củng cố và hoàn thiện kỹ năng vận động của trẻ. Nó xác định kết quả giáo dục của cô giáo và sự tập luyện của trẻ, tạo ra không khí thi đua, rèn luyện thể dục giữ các trẻ trong một lớp. Để có thể tổ chức các hình thức trên, chúng ta không chỉ áp dụng theo một khuân mẫu mà có thay đổi hình thức thông qua các hội thi, hội khỏe như hội thi Giáo viên dạy giỏi, hội khỏe măng non 7.2.5. Dạy trẻ vận động phối hợp các hình thức khác nhau. Để tránh sự nhàm chán, vậy khi tổ chức các vận động cho trẻ, giáo viên cần phải biết phối hợp, lồng ghép nhiều hình thức khác nhau nhằm giúp trẻ hứng thú, lôi cuốn trẻ tham gia tích cực vào vận động một cách chủ động, điều đó làm cho trẻ phát triển theo đúng khả năng và nhu cầu của bản thân trẻ. Ví dụ: Khi dạy vận động cơ bản: “Đi trong đường hẹp”. Trò chơi:“Tung bong lên cao”. Với bài tập này cô hướng cho trẻ đến tham gia hội thi “Điền kinh”. Vào hội thi cô cho trẻ giới thiệu các đội chơi, cho trẻ khởi động để bước vào hội thi (Trẻ đi các kiểu đi). Cô cho trẻ biết có 3 phần thi: Phần thi “Đồng diễn” (Bài tập phát triển chung); Phần thi “Thử tài của bé” (Vận động cơ bản); Phần thi “Chung sức” ( Trò chơi vận động), sau mỗi phần thi cô tổ chức nhận xét, động viên, khuyến khích các đội chơi.... Ví dụ: Khi dạy vận động: Bò thấp – chui qua cổng. Giáo viên chỉ cần chọn nhạc và điều chỉnh nhanh hay chậm theo nhạc to – nhỏ rồi cho trẻ thi đua vận động theo nhạc. Khi bản nhạc kết thúc bạn nào về trước không làm đổ cổng là thắng cuộc. Hoặc: Vẫn là bài “Bò thấp – chui qua cổng” Chủ điểm: “Thế giới thực vật”, giáo viên sử dụng các biện pháp như: dạy trẻ vận động kết hợp với âm 13