Báo cáo Sáng kiến Một số biện pháp phòng, chống bạo lực học đường góp phần giáo dục toàn diện học sinh trường THPT Nguyễn Quang Diêu

docx 63 trang Chăm Nguyễn 03/12/2025 310
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Báo cáo Sáng kiến Một số biện pháp phòng, chống bạo lực học đường góp phần giáo dục toàn diện học sinh trường THPT Nguyễn Quang Diêu", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docxbao_cao_sang_kien_mot_so_bien_phap_phong_chong_bao_luc_hoc_d.docx
  • pdfBáo cáo Sáng kiến Một số biện pháp phòng, chống bạo lực học đường góp phần giáo dục toàn diện học si.pdf

Nội dung tài liệu: Báo cáo Sáng kiến Một số biện pháp phòng, chống bạo lực học đường góp phần giáo dục toàn diện học sinh trường THPT Nguyễn Quang Diêu

  1. 8. Thời gian, địa điểm, công việc áp dụng sáng kiến: - Đề tài sáng kiến này chính thức được thực hiện từ năm học 2015 – 2016 đến 2018 – 2019. Hiện nay vẫn tiếp tục thực hiện. - Công việc áp dụng: Biện pháp phòng chống bạo lực học đường góp phần giáo dục toàn diện học sinh. 9. Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến: - Sự quan tâm của các cấp lãnh đạo trong ngành giáo dục; được sự chỉ đạo và hướng dẫn sâu sát từ Bộ Giáo dục đến Sở Giáo dục trong công tác phòng chống bạo lực học đường. - Sự quyết tâm phòng chống bạo lực học đường của cả hệ thống chính trị trong nhà trường. - Sự phối hợp đồng bộ giữa nhà trường - gia đình - xã hội, các ban ngành, đoàn thể trong công tác phòng chống bạo lực học đường và TNXH. - Sự mẫu mực, quyết tâm thể hiện vai trò nêu gương của tập thể lãnh đạo cùng toàn thể CB, GV, NV trước học sinh. - Xây dựng môi trường học tập xanh, sạch, đẹp, an toàn, lành mạnh, thầy cô mẫu mực. 10. Đơn vị áp dụng sáng kiến: Trường THPT Nguyễn Quang Diêu. 11. Kết quả đạt được: Từ năm 2014, cũng chính là năm học trường đạt chuẩn quốc gia mức độ 1, từ niềm vui và kết quả đạt được, tập thể nhà trường quyết tâm phòng, chống bạo lực học đường, chú trọng việc giáo dục đạo đức học sinh đặt lên hàng đầu theo lời Bác dạy “Tiên học lễ, hậu học văn” hay “Người có tài mà không có đức ắt vô dụng”, từ đó việc giáo dục đạo đức học sinh đã trở thành thương hiệu của nhà trường. Với sự đoàn kết, đồng lòng của tập thể nhà trường, BGH phối hợp cùng các tổ chức đoàn thể trong và ngoài nhà trường quyết tâm thực hiện ngăn chặn, phòng, chống bạo lực học đường, TNXH xâm nhập vào nhà trường trong nhiều năm qua. Từ đó, tập thể nhà trường luôn đạt tiêu chí “Trường học văn hóa” hàng năm; luôn đảm bảo trường học an toàn về an ninh trật tự theo Thông tư số 23/2012/TT-BCA ngày 27/04/2012; đảm bảo cảnh quan nhà trường luôn xanh – sạch – đẹp, an toàn; trường học thân thiên học sinh tích cực thông qua những mô hình sinh hoạt CLB vui chơi, giải trí. Với truyền thống giáo dục đạo đức của nhà trường, sự quyết tâm của quý thầy cô giáo trong giảng dạy, phòng, chống bạo lực học đường, sự động viên, quan tâm chia sẻ của thầy cô đã tạo nên sự chuyển biến về tâm lý mạnh mẽ theo hướng tích cực, học tập tiến bộ hơn, những học sinh được giải tỏa tâm tư, tình cảm cảm thấy phấn chấn, lạc quan, vui vẽ hơn trong học tập và giao tiếp với bạn bè, tình trạng vi phạm đạo đức lối sống của học sinh dần được chấn chỉnh, có nhiều chuyển biến tốt, từ đó đã mang lại kết quả giáo dục toàn diện cho nhà trường, uy tín của trường dần được nâng lên, tạo được lòng tin của các cấp chính quyền địa phương, phụ huynh học sinh, nhân dân và của ngành. Kết quả công tác giáo dục đạo đức học sinh thông qua việc làm cụ thể của trường - Học sinh có ý thức tốt trong việc bảo quản cơ sở vật chất, trang thiết bị của nhà trường; có ý thức tốt về việc giữ gìn vệ sinh chung. 2
  2. - Ý thức bảo quản, chăm sóc cây xanh, cây cảnh trong trường tốt, ý thức giữ gìn cảnh quan sư phạm xanh – sạch – đẹp. - Học sinh có biểu hiện tốt hành vi lễ phép như chào hỏi thầy cô, người lớn tuổi, khách đến trường liên hệ công tác - Hạn chế rất nhiều hành vi vi phạm an toàn giao thông khi sử dụng xe máy, xe đạp điện khi tham gia giao thông. - Hạn chế tình trạng học sinh có hiện tượng trốn học tụ tập hàng quán, đánh nhau trong và ngoài trường, đặc biệt không xảy ra trường hợp bạo lực học đường nghiêm trọng. - Trong thi cử, kiểm tra học sinh luôn nghiêm túc, tình trạng gian lận, quay cóp, sử dụng tài liệu chỉ còn vài trường hợp vi phạm trong một học kỳ, từ đó chất lượng học tập của học sinh được phản ánh đúng thực chất. - Hiện tượng HS chữi thề, văng tục đã giảm đáng kể, chỉ còn phát hiện ở một số ít học sinh, không phát hiện học sinh hút thuốc trong trường, không còn HS nhuộm tóc, sơn móng tay, chân, son phấn lòe lẹt gây phản cảm trong môi trường giáo dục. - Kết quả xếp loại hạnh kiểm của học sinh được cải thiện tốt hơn, học sinh xếp loại hạnh kiểm tốt được nâng cao, tỉ lệ học sinh xếp loại hạnh kiểm yếu được cải thiện. - Nề nếp học tập của học sinh: Từ kết quả đạt được trong công tác giáo dục đạo đức học sinh, đã có ảnh hưởng tích cực đến việc xây dựng và duy trì nề nếp học tập của học sinh; qua đó chất lượng học tập và mọi mặt hoạt động của nhà trường cũng dần được nâng lên, uy tín của nhà trường được nâng lên, phụ huynh học sinh tin tưởng vào sự giáo dục của nhà trường hơn. Đăc biệt không xãy trường hợp bạo lực học đường nghiệm trọng trong nhà trường * Tỷ lệ học sinh bỏ học đã giảm so với trước Năm học 2015 - 2016 2016 - 2017 2017 - 2018 2018 - 2019 SL TL SL TL SL TL SL TL Trong năm 6 1.19% 11 0.71 6 0.98% 7 0.88% % Trong hè 11 1.9% 17 1.3% 11 0.5% 18 2.06% Cả năm 17 3.09% 28 2.01% 17 1.48% 25 2.86% * Hiệu quả đào tạo được nâng lên Năm học 2015 - 2016 2016 - 2017 2017 - 2018 2018 - 2019 Tỷ lệ % 87.7% 91.2% 88.4% 94.1% * Kết quả hoạt động phong trào văn hóa, văn nghệ, TDTT, HSG cấp tỉnh...cũng được nâng lên vượt bậc. 3
  3. Hùng Tin Năm Văn THT MTC biện Văn học NCKH IOE TDTT học hóa N T Tiếng nghệ trẻ Anh 2015- Nhất toàn 19 0 0 02 01 01 01 QG 2016 đoàn 2016- 16 0 01 01 0 0 0 0 0 2017 2017- Hạng 7 17 0 01 02 01 01 0 0 2018 toàn đoàn Nhất 2018- 11 0 05 0 0 01 0 toàn 0 2019 đoàn - Bên cạnh đó tỷ lệ học sinh giỏi, khá cũng được nâng lên và học sinh yếu, kém giảm nhiều: Năm học Năm học Năm học Năm học 2015-2016 2016-2017 2017-2018 2018-2019 HS HS HS HS HS HS HS HS Giỏi, khá yếu, kém Giỏi, khá yếu, kém Giỏi, khá yếu, kém Giỏi, khá yếu, kém 83.8% 0.98% 85.4% 0% 83.8% 0.98% 85.4% 0% Từ kết quả đạt được toàn diện trên tất cả các lĩnh vực giáo dục trong nhà trường góp phần rất tích cực vào kết quả chung của nhà trường trong những năm qua: Năm học Kết quả đạt được - Chủ tịch UBND tỉnh tặng Bằng khen tổng kết 15 năm phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư và 20 năm thực hiện 2015-2016 phòng trào toàn dân xây dựng đời sống văn hóa. - Bộ Giáo dục và Đào tạo tặng Bằng khen có thành tích xuất sắc trong phong trào giáo dục thể chất trong nhà trường (GĐ 2012-2016) Chủ tịch UBND tỉnh An Giang tặng Bằng khen đơn vị đạt thành tích xuất 2016-2017 sắc nhiệm vụ năm học 2016-2017. - Chủ tịch UBND tỉnh An Giang tặng Bằng khen đơn vị đạt thành tích xuất sắc sơ kết 02 năm thực hiện Chỉ thị 05 của Bộ Chính trị về việc học tập và làm theo tư tưởng đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. 2017-2018 - Bộ Giáo dục và Đào tạo tặng Bằng khen có thành tích xuất sắc trong phong trào thi đua “Đổi mới sáng tạo trong dạy và học” năm học 2017- 2018. Chủ tịch UBND tỉnh An Giang tặng Bằng khen đơn vị đạt thành tích xuất 2018-2019 sắc nhiệm vụ năm học 2018-2019. 4
  4. Thông qua những giải pháp phòng, chống bạo lực học đường nêu trên đã góp phần xây dựng nề nếp nhà trường qui cũ, xây dựng nhà trường đạt chuẩn văn hóa, đảm bảo được ngôi trường thân thiện, an toàn, lành mạnh, học sinh tích cực, kết quả xếp loại hạnh kiểm học sinh theo đúng thực chất và ngày càng được nâng cao, góp phần hạn chế tình trạng học sinh vi phạm nội quy nhà trường, thực hiện tốt phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” theo Chỉ thị số 40/2008/CT-BGDĐT ngày 22/07/2008 của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Nghị định số 80/2017/NĐ-CP ngày 17/7/2017; Chỉ thị số 993/CT-BGDĐT ngày 12/4/2019; kế hoạch số 588/KH-BGDĐT ngày 10/7/2019 của Bộ Giáo dục đào tạo về công tác phòng, chống bạo lực học đường. Nói tóm lại, công tác phòng, chống bạo lực học đường góp phần giáo dục đạo đức học sinh, giúp học sinh phát triển toàn diện, đây không còn là chuyện của riêng ai, mà phải là sự nỗ lực phấn đấu của toàn thể các lực lượng trong và ngoài nhà trường, trong đó các thầy cô giáo thực hiện với ý thức trách nhiệm, lương tâm đạo đức nhà giáo cao nhất. Tuy nhiên, hiệu quả giáo dục đạo đức học sinh tùy thuộc sự phối hợp đồng bộ các giải pháp đã nêu. Trong việc giáo dục đạo đức, lối sống cho học sinh không phải chỉ là những biện pháp xử lý kỷ luật, những giáo điều cứng nhắc mà phải xuất phát từ cái tâm của người thầy, biết thương yêu, tôn trọng nhân cách của học sinh; phải chú trọng đến quá trình tự rèn luyện, tự chuyển hóa nhân cách, bằng cách khuyên nhũ, phân tích những gì nên làm, những gì không nên làm, để tự bản thân học sinh xây dựng, hình thành và hoàn thiện tốt nhất nhân cách; loại bỏ đi những suy nghĩ tiêu cực, khi học sinh vi phạm cần phân tích sự ảnh hưởng xấu đến học sinh như thế nào, đồng thời đưa ra định hướng cho học sinh khắc phục; từ đó học sinh sẽ biết được trách nhiệm của bản thân để chủ động sửa chữa và hoàn thiện bản thân hơn, hạn chế tình trạng bạo lực học đường xảy ra. Tân Châu, ngày 25 tháng 12 năm 2019 Tác giả Nguyễn Thị Ánh Hồng 5
  5. MỤC LỤC I. Sơ lược lý lịch tác giả ..........................................................................................Trang 1 II. Sơ lược đặc điểm tình hình đơn vị......................................................................Trang 1 III. Mục đích yêu cầu của đề tài, sáng kiến.............................................................Trang 2 1. Thực trạng ban đầu trước khi áp dụng sáng kiến ................................................Trang 2 2. Sự cần thiết áp dụng sáng kiến............................................................................Trang 5 3. Nội dung sáng kiến..............................................................................................Trang 7 3.1. Tiến trình thực hiện ...................................................................................... Trang 7 3.2. Thời gian thực hiện ........................................................................................Trang 8 3.3. Biện pháp tổ chức...........................................................................................Trang 8 3.3.1. Công tác tuyên truyền mục đích, ý nghĩa của việc phòng, chống bạo lực học đường. .......................................................................................Trang 8 3.3.2. Nhà trường phải xây dựng nội quy, quy chế hoạt động, quy tắc ứng xử văn hóa và chuẩn mực đạo đức trong nhà trường. .........................Trang 8 3.3.3. Xây dựng môi trường giáo dục an toàn, lành mạnh, thân thiện, thầy cô mẫu mực. ..................................................................................Trang 9 3.3.4. Tăng cường phát huy hiệu quả hoạt động tư vấn học đường nhằm giáo dục đạo đức học sinh. ..........................................................................Trang 12 3.3.5. Tăng cường sự phối hợp chặt chẽ, đồng bộ giữa Nhà trường - Gia đình - Xã hội trong công tác giáo dục toàn diện học sinh.........Trang 13 3.3.6. Tạo điều kiện cho CB, GV, NV tham gia các lớp bồi dưỡng, tập huấn nhằm nâng cao năng lực nhận biết, ứng phó, phòng, chống BLHĐ .......Trang 14 3.3.7. Thường xuyên tổ chức kiểm tra, sâu sát các hoạt động của HS góp phần phòng, chống bạo lực học đường. .........................................................Trang 15 3.3.8. Giải pháp cảm hóa từ trái tim..................................................................Trang 15 IV. Hiệu quả đạt được ...........................................................................................Trang 17 1. Những điểm khác biệt giữa trước và sau khi áp dụng sáng kiến.......................Trang 17 1.1. Trước khi áp dụng sáng kiến........................................................................Trang 17 1.2. Sau khi áp dụng sáng kiến............................................................................Trang 17 2. Lợi ích thu được khi sáng kiến áp dụng ............................................................Trang 18 V. Mức độ ảnh hưởng ...........................................................................................Trang 20 VI. Kết luận...........................................................................................................Trang 21
  6. DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT CB : Cán bộ GV : Giáo viên NV : Nhân viên HS : Học sinh PHHS : Phụ huynh học sinh CSVC : Cơ sở vật chất TNXH : Tệ nạn xã hội BLHĐ: Bạo lực học đường SHDC : Sinh hoạt dưới cờ BGH : Ban giám hiệu ĐTN: Đoàn thanh niên GDHN : Giáo dục Hướng nghiệp NGLL : Ngoài giờ lên lớp TDTT : Thể dục thể thao CLB : Câu lạc bộ BĐD : Ban đại diện
  7. SỞ GD VÀ ĐT AN GIANG CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TRƯỜNG THPT Độc lập - Tự do - Hạnh phúc NGUYỄN QUANG DIÊU Tân Châu, ngày 12 tháng 12 năm 2019 BÁO CÁO KẾT QUẢ THỰC HIỆN SÁNG KIẾN I. Sơ lược lý lịch tác giả - Họ và tên: Nguyễn Thị Ánh Hồng, Nam, nữ: Nữ - Ngày tháng năm sinh: 25 /10 /1979 - Nơi thường trú: ấp Vĩnh Thạnh B – xã Vĩnh Hòa – Tân Châu – An Giang - Đơn vị công tác: THPT Nguyễn Quang Diêu - Chức vụ hiện nay: Phó Hiệu trưởng - Lĩnh vực công tác: Quản lý II. Sơ lược về đặc điểm tình hình tại đơn vị Trường THPT Nguyễn Quang Diêu được thành lập theo quyết định số 1516/QĐ- UBND ngày 08/08/2006 của UBND tỉnh An Giang lấy tên trường THPT Nguyễn Quang Diêu có chức năng giáo học sinh bậc THPT hệ công lập. Địa điểm ban đầu đặt tại trường THCS Tân An, tọa lạc tại Ấp Tân Phú B, xã Tân An, Huyện Tân Châu (nay là Thị xã Tân Châu), tỉnh An Giang. Trong những năm đầu thành lập trường, từ năm 2006-2009,trường gặp rất nhiều khó khăn, cơ sở vật chất chưa có, tạm mượn của trường THCS Tân An, trường Tiểu học “A” Tân An và Trung tâm dạy nghề Tân Châu. Đến năm 2009-2010 trường chuyển về cơ sở vật chất mới xây dựng tại Ấp Tân Hòa C, xã Tân An, Thị xã Tân Châu. Về đội ngũ giáo viên phần lớn trẻ, mới ra trường, kinh nghiệm giảng dạy và quản lý học sinh chưa nhiều. Chất lượng học tập của học sinh rất hạn chế, đầu vào thấp, ý thức học tập không cao. Đời sống kinh tế của nhân dân địa phương còn nhiều khó khăn, chủ yếu sống bằng nghề nông, ít quan tâm nhiều đến tình hình học tập cũng như việc phát triển toàn diện của con em. Đến nay Trường THPT Nguyễn Quang Diêu thật sự có cơ sở riêng, tương đối khang trang đảm bảo đầy đủ các phòng chức năng phục vụ tốt cho hoạt động dạy và học, cảnh quan sư phạm đảm bảo xanh – sạch – đẹp, thoáng mát với đầy đủ trang thiết bị dạy học hiện đại hướng phát triển theo quy mô một trường đạt chuẩn quốc gia. Trường cũng trang bị riêng một phòng tư vấn học đường nhằm tìm hiểu, động viên, chia sẽ những tâm tư, tình cảm, những khó khăn vướng mắc trong học tập cũng như đời sống của các em. 1. Thuận lợi - Được sự quan tâm chỉ đạo của Sở GD-ĐT An Giang, của Thị Ủy, UBND Thị Xã Tân Châu. Đặc biệt là sự quan tâm hỗ trợ, tạo điều kiện hoạt động của Đảng ủy, UBND xã Tân An và các địa phương lân cận. - Cơ sở vật chất khang trang, cảnh quan sư phạm xanh - sạch - đẹp. Khuôn viên nhà trường rộng rãi, CSVC đầy đủ các khối công trình phục vụ giảng dạy và học tập. Trang 1
  8. - Tập thể đa số trẻ, nhiệt tình, dần được trưởng thành qua quá trình công tác, có ý thức trách nhiệm cao; đăc biệt là tinh thần đoàn kết nội bộ, ý thức chấp hành tổ chức kỷ luật trong nhà trường được thực hiện rất tốt. - HS đạo đức tốt, có tinh thần ham học, có ý thức chấp hành nội quy và có ý chí vươn lên trong học tập. - Kết quả học tập và giáo dục đạo đức học sinh ngày càng được nâng cao, từ đó tạo được lòng tự tin trong đội ngũ CBGV, HS và sự tin tưởng của nhân dân địa phương. - Tập thể nhà trường quyết tâm xây dựng nhà trường trong sạch, vững mạnh. Chọn tiêu chí “Giáo dục đạo đức học sinh làm thương hiệu hàng đầu” trong hoạt động dạy và học. Quyết tâm phòng chống bạo lực học đường và cam kết 100 % CB, GV, NV và HS không vi phạm tệ nạn xã hội. 2. Khó khăn - Đội ngũ vẫn còn ít kinh nghiệm trong giảng dạy, công tác quản lý HS, cũng như phối hợp với gia đình HS và địa phương trong việc giáo dục đạo đức, rèn luyện các kỹ năng sống, giá trị sống cho HS. - HS phân bố ở nhiều địa bàn khác nhau, đa phần thuộc vùng nông thôn, một bộ phận không nhỏ gia đình vẫn còn khó khăn, chi phối trực tiếp đến việc đầu tư giáo dục cho con em. Chất lượng HS đầu vào tương đối thấp, không đồng đều. - Kinh tế địa phương còn nhiều khó khăn, ảnh hưởng không nhỏ tới công tác XHH giáo dục của nhà trường, môi trường xã hội xung quanh trường hàng quán còn nhiều phức tạp, ảnh hưởng tới việc giáo dục đạo đức HS cũng như việc ngăn chặn, phòng, chống TNXH xâm nhập vào học đường.. - Đời sống của CBGV còn nhiều khó khăn, từ đó một bộ phận giáo viên chưa thật sự toàn tâm trong công việc, ảnh hưởng tới chất lượng giảng dạy và công tác. 3. Tên sáng kiến: Một số biện pháp phòng, chống bạo lực học đường góp phần giáo dục toàn diện học sinh trường THPT Nguyễn Quang Diêu 4. Lĩnh vực: Giáo dục III. Mục đích yêu cầu của đề tài, sáng kiến, giải pháp cải tiến kỹ thuật 1. Thực trạng ban đầu trước khi áp dụng sáng kiến 1.1. Chất lượng học sinh đầu vào Trong những ngày đầu trường mới thành lập, tỉ lệ học sinh đầu vào rất thấp, phần lớn là học sinh trung bình, tỉ lệ học sinh yếu và học sinh có hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn rất đông, học sinh không có điều kiện đi học xa mới xin vào học tại trường. Vì thế chất lượng học tập không cao, không đồng đều, học sinh bỏ học nhiều, nhiều học sinh có biểu hiện chưa vâng lời thầy cô, học sinh chưa ngoan, cá tính, tính tình bốc đồng, hay lầm lì ít nói... Chất lượng giảng dạy và giáo dục ở những năm đầu tiên vẫn còn hạn chế, tỉ lệ học sinh giỏi, khá thấp và học sinh yếu, kém cao Trang 2
  9. Năm học Năm học Năm học 2012-2013 2013-2014 2014-2015 HS HS HS HS HS HS Giỏi, khá yếu, kém Giỏi, khá yếu, kém Giỏi, khá yếu, kém 55.9% 2.9% 70.2% 2.6% 74.1% 2.6% Hiệu quả đào tạo ở những năm đầu không cao: Năm học Năm học 2012-2013 Năm học 2013 - 2014 Năm học 2014-2015 Tỷ lệ % 81.29% 89.5% 87% 1.2. Tình hình học sinh vi phạm nền nếp, đạo đức Ở những năm này, tình hình học sinh có hành vi vi phạm đạo đức còn rất phổ biến: nói tục, chửi thề, vi phạm an toàn giao thông, cúp tiết, trốn học, tụ tập hành quán, bốc đồng quan điểm, bản tính muốn tự khẳng định, muốn thể hiện, gây gổ, đánh nhau, nói dối cha mẹ, thầy cô, trộm cắp trang thiết bị của trường, điện thoại của thầy, cô, nghiện game, lấy trộm đồ dùng của bạn, vô lễ với người lớn tuổi, thầy cô, có những hành vi ứng xử còn chưa văn minh, lịch sự... chưa có ý thức giữ gìn vệ sinh chung, còn vứt rác bừa bãi, vẽ bậy trên tường, trên bàn, trong nhà vệ sinh, sử dụng mạng thông tin không đúng mục đích cho việc học tập ý thức học tập kém, hành vi thiếu văn minh lịch sự...Từ đó dẫn đến hành vi bức xúc, mâu thuẩn, khiêu khích, tụ tập, đánh nhau. Thậm chí có dấu hiệu học sinh tỏ thái độ bất cần, dễ kích động (dấu hiệu tự kỷ)... 1.3. Công tác quản lý, giáo dục đạo đức học sinh trước đây - Đa số đội ngũ giáo viên của trường có tuổi đời và tuổi nghề thấp, mới ra trường vài năm, chưa có nhiều kinh nghiệm trong giảng dạy, cũng như trong công tác quản lý, giáo dục đạo đức học sinh, cũng như chưa nắm bắt được tâm lý, chưa có nhiều kinh nghiệm trong xử lý tình huống học sinh tụ tập, bất đồng quan điểm, gây gổ, đánh nhau... - Phần lớn giáo viên chỉ quan tâm công tác chuyên môn là chính, chưa có sự quan tâm nhiều đến việc giáo dục đạo đức học sinh, thậm chí có một số giáo viên chưa quan tâm nhiều đến tâm tư, tình cảm, cuộc sống, hoàn cảnh sống của các em, phần lớn giáo viên tham gia giảng dạy hết tiết rồi về, chưa thể hiện được vai trò của người Thầy/Cô giống như người Cha/Mẹ (Cô giáo như mẹ hiền). - Chưa quan tâm nhiều đến việc giáo dục đạo đức cho học sinh, giáo dục học sinh có ý thức bảo vệ môi trường, giáo dục để học sinh có ý thức giữ gìn của công, giáo dục học sinh biết chào hỏi lễ phép thầy cô, người lớn tuổi, biết kiềm chế cảm xúc, kiềm chế tính nóng nải khi xảy bất đồng quan điểm... Chưa hướng dẫn học sinh cách xử lý tình huống khi xảy ra gặp chuyện bất hòa một cách khéo léo, văn minh, lịch sự nhằm cảm hóa, xoa dịu vấn đề. - Mặt khác, giáo viên vẫn còn chú trọng và nghiên nặng về việc xử lý kỷ luật học sinh sau khi các em vi phạm ít tìm hiểu nguyên nhân, phần lớn xử phạt theo “Lý” mà thiếu hẳn chữ “Tình”. Thậm chí, thầy/cô còn mang nặng cách xử lý truyền thống ngày Trang 3
  10. xưa “Thương cho roi cho vọt”. Thiếu hẳn sự quan tâm đến suy nghĩ hay cảm xúc của các em, cũng không cần biết có rất nhiều sự tác động từ bên ngoài tác động và ảnh hưởng đến tâm trạng của những đứa trẻ mới lớn. Thầy/Cô chỉ biết “Đúng thì khen, sai thì chê trách và xử phạt”, nói rõ hơn đôi khi sự lãnh đạm, vô tình, thờ ơ, thiếu sự thấu hiểu của người lớn dẫn đến một đứa trẻ muốn vùn lên, muốn thể hiện, muốn gây sự chú ý, muốn tự khẳng định mình bằng mọi cách, từ đó có sự bốc đồng quan điểm, có thái độ thách thức, hành vi hung hăn, ngôn phong kém văn minh, lịch sự dẫn đến hành vi sai phạm: đã kích, đánh nhau (kể cả đánh nhau theo băng nhóm có dùng vũ khí), từ đó ảnh hưởng đến nhân cách, đạo đức của bản thân học sinh và kết quả giáo dục của nhà trường. Cụ thể tình hình học sinh bỏ học trong những năm học qua: Năm học Năm học Năm học Năm học 2012 - 2013 2013 - 2014 2014 - 2015 Số % % Số lượng Số lượng % lượng Trong năm 6.1% 18 13 1.52% 11 1.3% Trong hè 2.9% 10 21 2.47% 17 2.06% Cả năm 8.6% 28 34 3.99% 28 3.36% Kết quả đánh giá, xếp loại hạnh kiểm học sinh ở những năm học qua: Năm học 2012 - 2013 2013 - 2014 2014 - 2015 Tốt 80.4% 78.52% 87.41% Khá 15% 14.92% 9.75% TB 4.6% 46.21% 2.84% Yếu 0% 0.36% 0% Học sinh tham gia các hoạt động phong trào văn hóa, văn nghệ, TDTT, HSG cấp vẫn còn rất hạn chế: Hùng Tin Năm Văn biện Văn THTN MTCT học NCKH IOE TDTT học hóa Tiếng nghệ trẻ Anh 2012- 09 02 08 01 0 0 0 0 2013 0 2013- Hạng 3 04 01 0 01 0 0 0 0 2014 toàn đoàn 2014- 08 0 0 03 01 0 0 0 0 2015 Trang 4
  11. Qua số liệu thống kê trên cho chúng ta thấy đa phần học sinh chưa ngoan, có kết quả học tập chưa tốt, chưa có ước mơ, hoài bão, chưa cảm nhận được môi trường thân thiện, chưa tìm thấy được sự động viên, an ủi, hơi ấm của thầy/cô, các em cảm thấy vô cùng lạc lỏng và rất bị áp lực khi bị làm sai một điều gì đó, các em càng ngày càng thu mình lại, không tự tin, thiếu bản lĩnh, tính tình hay bốc đồng, nóng nải, thiếu sự kiềm chế.. dẫn đến gây gổ, đánh nhau hay sa vào các tệ nạn xã hội... Hơn nữa, gần đây liên tiếp xảy ra một số vụ bạo lực học đường ở một số cơ sở giáo dục với tính chất và mức độ phức tạp, nghiêm trọng, làm ảnh hưởng đến thể chất, tinh thần học sinh, ảnh hưởng đến môi trường giáo dục và gây lo lắng trong PHHS, bức xúc trong dư luận xã hội. Đó cũng là một trong những biểu hiện, dấu hiệu cho thấy tình trạng đạo đức của học sinh đang xuống cấp. Trước tình hình thực tế đó khiến những người làm công tác giáo dục như chúng tôi không khỏi trăn trở về sự tác động của tệ nạn xã hội từ môi trường bên ngoài đến những đứa trẻ ngây thơ, những em học sinh khờ dại vốn chưa đủ kiến thức, nghị lực và bản lĩnh chống lại. Từ đó chúng tôi luôn suy nghĩ đến những cách làm, giải pháp phòng, chống và dập tắt kịp thời các vụ việc mang mầm móng của bạo lực học đường, bảo đảm an ninh trật tự, an toàn trong nhà trường, góp phần giáo dục đạo đức học sinh nói riêng, giáo dục toàn diện học sinh nói chung. 2. Sự cần thiết phải áp dụng sáng kiến Thực tế cuộc sống với muôn vàng thử thách khiến đời sống tâm lý của học sinh chịu nhiều áp lực. Phần lớn học sinh có đạo đức tốt, lối sống lành mạnh, biết yêu thương ông bà cha mẹ, có ý chí vươn lên. Tuy nhiên, một bộ phận không nhỏ học sinh hiện đang chịu sự ảnh hưởng và tác động của xã hội, trong thời đại thế giới phẳng, sự tác động của các trang mạng xã hội vào học sinh cực nhanh, hơn nữa việc tiếp cận thông tin của học sinh quá dễ dàng, các em vốn rất vô tư, không có sự cảnh giác, đề phòng, không đủ khả năng để phân biệt được thông tin chính thống hay không chính thống, đặc biệt với sự diễn biết tâm sinh lý, lứa tuổi trong giai đoạn giao thời học sinh cuối cấp II, bước đầu cấp 3 chính là giai đoạn mạnh mẽ nhất các em muốn tự khẳng định mình, thích thể hiện, làm nổi hay gây sự chú ý (kể cả của cộng đồng mạng), từ đó dẫn đến các em có những hành động và biểu hiện bất thường: gây gổ, đánh nhau, hay tụ tập tham gia vào các tệ nạn xã hội... Thời gian qua, tình trạng bạo lực học đường xảy ra càng nghiêm trọng, tình trạng học sinh vi phạm nội quy nhà trường: cúp cua, trốn học, nói tục, chửi thề, ứng xử thiếu văn hóa, hành vi thiếu văn minh, lịch sự, thường hay có thái độ thờ ơ thiếu sự cảm thông chia sẽ trước những khó khăn, vất vả của những người xung quanh, đặc biệt là thái độ vô cảm đối với cha, mẹ mình. Thích thể hiện mình bằng những hành vi khác lạ (kể cả dùng thử những loại thuốc gây ảo giác, gây nghiện, ảnh hưởng không tốt đến tâm lý và sức khỏe nhằm gây sự chú ý của đám đông, có những học sinh gây chuyện đánh nhau vì những lý do hết sức đơn giản: nhìn mặt thấy ghét; một ánh mắt nhìn đầy hoài nghi; một sự ganh tị rất vụn vặt; ỷ học giỏi, nhìn mặt chảnh chảnh... Hành vi vi phạm pháp luật ngày càng tăng: vi phạm an toàn giao thông, hút thuốc, uống rượu, bia, đánh bài; tụ tập băng nhóm, đánh nhau hội đồng trong nhà trường và quay clip tung lên mạng xã hội để câu like từ đó gây ảnh hưởng không tốt đối với quá trình học tập và rèn luyện phẩm chất đạo đức học sinh; gây hoan mang dư luận xã hội, gây sự bất an trong lòng cha mẹ, thầy, cô... Thậm chí làm ảnh hưởng đến lòng tin của xã hội đối với môi trường giáo dục. Đặc biệt là dấu hiệu tình trạng đạo đức học sinh đang xuống cấp. Trang 5