Báo cáo Sáng kiến Một số biện pháp nâng cao hiệu quả giảng dạy môn GDCD Khối 6, Khối 7 ở trường THCS

docx 140 trang Chăm Nguyễn 18/01/2026 330
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Báo cáo Sáng kiến Một số biện pháp nâng cao hiệu quả giảng dạy môn GDCD Khối 6, Khối 7 ở trường THCS", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docxbao_cao_sang_kien_mot_so_bien_phap_nang_cao_hieu_qua_giang_d.docx
  • pdfBáo cáo Sáng kiến Một số biện pháp nâng cao hiệu quả giảng dạy môn GDCD Khối 6, Khối 7 ở trường THCS.pdf

Nội dung tài liệu: Báo cáo Sáng kiến Một số biện pháp nâng cao hiệu quả giảng dạy môn GDCD Khối 6, Khối 7 ở trường THCS

  1. 3 được bản báo cáo về sáng kiến, tôi đã tiến hành khảo sát và kiểm tra kết quả học tập của học sinh trên lớp bằng cách hướng dẫn cho học sinh làm bài tập, trả lời các câu hỏi tình huống. Kết quả cho thấy việc áp dụng sáng kiến đã có ảnh hưởng rõ rệt, phát huy được tính tích cực tự giác sáng tạo, phát triển phẩm chất, năng lực cho học sinh. Trong thực tế giảng dạy môn GDCD những năm vừa qua tôi luôn trăn trở làm thế nào để giáo dục học sinh các chuẩn mực đạo đức quy định của pháp luật, qua đó hình thành nhân cách con người, từng bước phát huy tính tích cực chủ động, sáng tạo, giúp học sinh tham gia tích cực học tập để tự phát hiện và chiếm lĩnh tri thức, hình thành kĩ năng và thái độ cho bản thân trở thành người có ích cho xã hội. Học sinh nhận thức được: “Học phải đi đôi với hành” ; “Lí luận phải đi đôi với thực tiễn” tạo hứng thú trong học tập môn GDCD nói chung, GDCD lớp 6, lớp 7 trường THCS nói riêng, qua việc vận dụng các phương pháp đặc trưng bộ môn, bao gồm các phương pháp dạy học tích cực kết hợp với phương pháp cổ truyền được kết hợp hài hòa và hiệu quả tùy theo tiết học, bài học. Nghiên cứu về các phương pháp dạy học tích cực nhằm nâng cao chất lượng môn GDCD khối 6, khối 7 ở Trường THCS như: Phương pháp thảo luận nhóm, phương pháp giải quyết vấn đề, phương pháp đóng vai, phương pháp tổ chức trò chơi ... Tích hợp liên môn, tích hợp tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh, phối kết hợp cha mẹ học sinh, thông qua các hoạt động ngoại khóa, các tiết sinh hoạt dưới cờ sao cho phù hợp với khả năng nhận thức, lứa tuổi. II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP 1. Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến Thực tế cho thấy, GDCD là môn học mà học sinh chưa có nhiều hứng thú học tập nên giờ học thường nhàm chán, đơn điệu, dẫn đến việc nhận thức, giao tiếp của học sinh bị hạn chế, thiếu sự năng động, sáng tạo, khó khai thác được các kỹ năng, năng lực của học sinh. Hơn nữa với quan điểm dạy học tiếp cận nội dung: chú trọng hình thành kiến thức kĩ năng, thái độ, mục tiêu học để thi, học để hiểu biết, học để làm, học để khẳng định mình, học để cùng chung sống. Nội dung được quy định chi tiết trong chương trình. Giáo viên chủ yếu sử dụng phương pháp dạy học: thuyết
  2. 4 trình, hướng dẫn thực hành, theo định hướng của giáo viên. Vì thế nhiều học sinh tiếp thu thiếu tính chủ động, học sinh chưa có nhiều điều kiện, cơ hội, tìm tòi, khám phá vì tri thức thường được quy định sẵn. Trước thực trạng trên tôi đã điều tra, khảo sát mức độ học tập của HS khối 6, vào đầu năm học 2021-2022 của trường tôi như sau: Chưa yêu thích Bình thường Yêu thích Khối Tổng Số Tỉ lệ Số Tỉ lệ Số Tỉ lệ lớp số HS lượng lượng lượng 6 121 68/121 56,19% 33/121 27,27% 20/121 16,52% Sau khi lấy phiếu trắc nghiệm ở trên, kết hợp với việc phân tích chất lượng qua bài khảo sát đầu năm, tôi thấy rằng nhiều học sinh chưa hứng thú với môn GDCD, đạt điểm khá, giỏi còn hạn chế, bên cạnh đó số lượng điểm trung bình còn chiếm tỉ lệ cao chứng tỏ vẫn còn nhiều học sinh nắm kiến thức chỉ dừng lại ở mức độ nhận biết và thông hiểu. Đi sâu vào thực tế kiểm tra tôi thấy rằng học sinh hiểu và làm bài tập, xử lí tình huống rất lúng túng. * Đối với HS: - Do điều kiện kinh tế gia đình chủ yếu làm nông nghiệp và công nhân, sự quan tâm của cha mẹ học sinh chưa nhiệt tình, sát xao cùng với ý thức chưa tự học của các em mải chơi, lười học, không có hứng thú việc học. Việc tự học chủ yếu là đối phó, khâu chuẩn bị bài hời hợt, không làm bài tập ở nhà, đến lớp không nghe giảng, tiếp thu bài chậm, ngại giao tiếp nên không hợp tác tham gia phát biểu xây dựng bài trong giờ học. - Đa phần học sinh chưa có thói quen chủ động tìm hiểu, khám phá bài học, chưa chịu khó suy nghĩ khi gặp tình huống thực tiễn trong cuộc sống. - HS chưa hứng thú với các giờ học nên chưa phát huy được tính năng động sáng tạo của bản thân.
  3. 5 * Đối với GV: - Cung cấp đúng đủ kiến thức sách giáo khoa nhưng chưa chú ý phát huy được các năng lực, phẩm chất, tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh trong giờ học. - Một số giáo viên còn lúng túng trong phương pháp giảng dạy, ngại đổi mới, giáo viên còn nói nhiều, làm việc nhiều, làm việc thay cho học sinh, nặng về mặt truyền thụ kiến thức, trong một tiết dạy đưa ra khá nhiều thông tin, chưa tạo sự hứng thú cho học sinh trong học tập chưa hướng dẫn học sinh nắm bắt được những kiến thức trọng tâm của bài học một cách nhẹ nhàng và sinh động mà còn áp đặt, dạy theo kiểu truyền thống (thầy giảng, trò nghe và ghi chép), không có sự linh hoạt trong việc kết hợp các phương pháp. Điều này dễ đưa các em vào thế bị động ghi nhớ, không tạo điều kiện cho các em độc lập suy nghĩ, sáng tạo. Từ đó dẫn đến sau này đứng trước nhiều vấn đề mới các em, bị động, lúng túng và không có đủ khả năng xử lí các tình huống. - Một số giáo viên khi dạy GDCD còn gặp nhiều khó khăn, nhiều tiết dạy chưa đạt hiệu quả cao như: dạy chưa kĩ nội dung, hướng dẫn học sinh một cách chung chung, chưa tỉ mỉ, chưa phát huy hết khả năng của học sinh. Với tư cách là một giáo viên trực tiếp giảng dạy môn GDCD trong thời gian qua, tôi luôn trăn trở để tìm, ứng dụng những phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực: Tích hợp liên môn, tổ chức các hoạt động ngoại khóa, tăng cường các hoạt động giáo dục tư tưởng, đạo đức phong cách Hồ Chí Minh trong dạy học môn GDCD, kết hợp với cha mẹ học sinh và các đoàn thể trong và ngoài nhà trường, nhằm phát triển năng lực, phẩm chất của học sinh, tạo hứng thú cho học sinh để các em yêu thích, say mê môn học. Căn cứ theo chương trình Giáo dục phổ thông 2018, một trong những nhiệm vụ trọng tâm của đổi mới phương pháp dạy và học, là để giáo viên và học sinh thực hiện phương pháp tích cực hoá hoạt động của người học, trong đó giáo viên đóng vai trò người tổ chức hoạt động của học sinh, mỗi học sinh đều được hoạt động, đều được bộc lộ và phát triển; xây dựng hứng thú và thái độ nghiêm túc, có ý thức và biết cách ứng xử, giao tiếp trong gia đình, trong nhà trường
  4. 6 và ngoài xã hội một cách có văn hoá. Nhận thức được điều này tôi đã trao đổi và tìm hiểu với các giáo viên trong nhóm GDCD về tình hình nhận thức của học sinh đối với môn GDCD.Từ đây tôi đã đi nghiên cứu tìm hiểu và đưa ra sáng kiến “Một số biện pháp nâng cao hiệu quả giảng dạy môn GDCD khối 6, khối 7 ở trường THCS” và được áp dụng vào giảng dạy tại trường THCS Hải Phương nơi tôi công tác và các trường trong và ngoài huyện năm học 2022 – 2023 vừa qua. 2. Mô tả giải pháp khi có sáng kiến 2.1. Mục tiêu của sáng kiến Môn GDCD có nhiều phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực; Tích hợp liên môn; Tổ chức các hoạt động Ngoại khóa; Tăng cường các hoạt động giáo dục tư tưởng, đạo đức phong cách Hồ Chí Minh trong dạy học môn GDCD được áp dụng để phát triển phẩm chất, năng lực, cũng như phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh, mỗi phương pháp đều có ưu điểm và hạn chế của nó. Vì vậy khi giảng dạy giáo viên cần áp dụng linh hoạt, sáng tạo phương pháp, kĩ thuật dạy học thích hợp với mỗi kiểu bài, mỗi nội dung cụ thể. Đồng thời để phát huy tính tích cực sáng tạo thì giáo viên phải hướng dẫn học sinh: Cách nhận biết, cách tìm, cách vận dụng kiến thức, từ đó nâng cao ý thức vận dụng bài học vào các tình huống, hoàn cảnh thực tế đời sống của bản thân, giúp giáo dục pháp luật, giáo dục ý thức công dân, lòng nhân ái, tính hướng thiện cho học sinh. Từ thực trạng trên, tôi nhận thấy nếu cứ áp dụng cách dạy truyền thụ một chiều thì học sinh không thích học phân môn GDCD và không phù hợp với chương trình Giáo dục phổ thông 2018. Chính vì vậy, việc sử dụng những phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực; Tích hợp liên môn; Tổ chức các hoạt động ngoại khóa; Tăng cường các hoạt động giáo dục tư tưởng, đạo đức phong cách Hồ Chí Minh trong dạy học môn GDCD vào từng bài học cụ thể để phát triển phẩm chất, năng lực, phát huy tính chủ động sáng tạo cho học sinh nâng cao chất lượng môn GDCD ở trường
  5. 7 THCS là một giải pháp rất cần thiết. Vì vậy, tôi mạnh dạn đưa ra giải pháp: “Một số biện pháp nâng cao hiệu quả giảng dạy môn GDCD khối 6, khối 7 ở trường THCS”. Với giải pháp trên thì sáng kiến kinh nghiệm này góp phần hình thành và phát triển phẩm chất, năng lực, gây hứng thú, phát huy tính tích cực, sáng tạo học môn GDCD cho học sinh. 2.2. Nội dung sáng kiến Môn Giáo dục Công dân là môn có vị trí rất quan trọng trong chương trình giáo dục phổ thông 2018, cung cấp cho học sinh hệ thống tri thức toàn diện trên tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, pháp luật. Trong một chủ đề bài học môn GDCD thường có những hoạt động sau: - Hoạt động 1: Khởi động - Hoạt động 2: Khám phá - Hoạt động 3: Luyện tập - Hoạt động 4: Vận dụng Vậy nên, môn GDCD được dạy theo hướng tiếp cận năng lực. Qua đó, góp phần hình thành ở học sinh phẩm chất yêu nước, nhân ái, chăm chỉ, trung thực, trách nhiệm; năng lực giao tiếp và hợp tác, tự chủ và tự học, giải quyết vấn đề và sáng tạo, điều chỉnh hành vi và phát triển bản thân. Là phương tiện giúp giáo viên tổ chức quá trình dạy học theo hướng tiếp cận năng lực học sinh. Là phương tiện giúp học sinh tự học, tự chủ, sáng tạo để phát huy năng lực của bản thân một cách hiệu quả thông qua các nhiệm vụ học tập phong phú, đa dạng. Chú trọng tích hợp nội dung dạy học giữa giáo dục đạo đức, giáo dục kĩ năng sống, giáo dục kinh tế và giáo dục pháp luật; tích hợp liên môn giữa GDCD với Ngữ văn, Lịch sử và Địa lí, Hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp, Sinh hoạt dưới cờ. Tăng cường sử dụng phương tiện dạy học, sử dụng kĩ thuật “Sơ đồ tư duy”, “Khăn trải bàn”. Chú ý rèn kĩ năng, phát triển năng lực giúp học sinh nắm được các nội dung kiến thức về những chuẩn mực đạo đức cơ bản: Tự hào về truyền thống gia đình, dòng họ; Yêu thương con người; Siêng năng, kiên trì; Tôn trọng sự thật; Tự lập trong cuộc sống . có kĩ năng tự
  6. 8 nhận thức bản thân và biết ứng phó với những tình huống nguy hiểm, phòng chống bạo lực học đường các tệ nạn xã hội trong và ngoài nhà trường. Có hiểu biết bước đầu về công dân nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Bước đầu thực hiện được một số quyền và nghĩa vụ cơ bản một người công dân.Từ đó tạo không khí hào hứng học tập, học sinh chủ động sáng tạo, mạnh dạn tự tin. Trong đề tài này tôi chú trọng đến những giải pháp sau: Sau đây tôi trình bày một số kinh nghiệm trong quá trình giảng dạy và thực hiện ở trường THCS: 2.3. Tổ chức thực hiện các giải pháp 2.3.1. Ứng dụng những phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực a.Thực trạng dạy học theo giải pháp cũ Bản thân những GV dạy môn GDCD như chúng tôi nhận thấy sự sáng tạo trong việc đổi mới phương pháp dạy học, phát huy tính tích cực, tự học của học sinh ở môn GDCD trước đây chưa nhiều. Dạy học vẫn nặng về truyền thụ kiến thức, việc
  7. 9 rèn luyện kỹ năng chưa được quan tâm. Điều đó dẫn tới học sinh học còn thụ động, lúng túng khi giải quyết các tình huống trong thực tiễn. Hiện nay trong các nhà trường ít có giáo viên chuyên thường là giáo viên dạy kèm thêm môn CDCD. Vì thế môn học không phát huy được hết hiệu quả, chưa gây hứng thú, chưa làm cho học sinh phát triển được phẩm chất, năng lực cũng như mục tiêu của CTGDPT 2018. Việc vận dụng các PPKT dạy học tích cực còn mang tính hình thức có được tổ chức ở các lớp thực hiện chương trình SGK hiện hành nhưng chủ yếu vẫn dựa vào một vài cá nhân học sinh tích cực tham gia, các thành viên còn lại còn dựa dẫm, ỉ lại chưa thực sự chủ động. Học sinh còn thụ động trong việc học và tiếp thu kiến thức, chưa chủ động sáng tạo trong việc học, chưa có sự hứng thú đối với bộ môn GDCD. b.Thực trạng dạy học theo giải pháp mới Khi thực hiện phương pháp giảng dạy theo hướng tiếp cận năng lực phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của học sinh, giáo viên phải để học sinh chủ động tiếp cận kiến thức, chủ động tìm tòi thảo luận bài học và rút ra bài học cho bản thân. Cứ sau mỗi tiết học giáo viên cần chú ý khâu hướng dẫn về nhà, theo yêu cầu mỗi bài cần chuẩn bị vấn đề gì cho tiết sau như: học kĩ bài, hướng dẫn HS làm bài tập trong sách giáo khoa, sưu tầm những biểu hiện về những chuẩn mực đạo đức, pháp luật có liên quan đến bài học tiếp theo, xây dựng tiểu phẩm, phân công sắm vai, chia nhóm thảo luận Học sinh có chuẩn bị tốt những vấn đề nêu trên, thì tiết học mới có thể huy động tốt, sự hoạt động tích cực của các em, các em sẽ chủ động sáng tạo trong suốt tiết học. Đồng thời qua đó cũng khắc phục tình trạng nhàm chán thiên về lí thuyết, khô khan xa rời thực tiễn. Trong tiết học học sinh nào trả lời được câu hỏi tư duy hoặc có ý kiến hay, nên biểu dương hoặccho điểm để khích lệ tinh thần các em. Tôi đã sử dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực và đã đạt được kết quả làm cho giờ học sôi nổi, học sinh hứng thú, yêu thích môn GDCD. 2.3.1.1. Phương pháp thảo luận nhóm a. Khái niệm: Thảo luận nhóm là quá trình bàn bạc, trao đổi giữa các thành viên trong nhóm về một vấn đề cụ thể, nhằm thu thập những ý kiến trên cơ sở tìm hiểu, đánh giá, phân tích và xử lý vấn đề đã đưa ra. Phương pháp thảo luận nhóm là
  8. 10 một trong những phương pháp dạy học tích cực. b. Cách tiến hành: Bước 1: Chuyển giao nhiệm vụ học tập: Giáo viên tổ chức cho toàn lớp với các hoạt động chính như giới thiệu chủ đề, thành lập các nhóm làm việc, xác định nhiệm vụ của các nhóm, xác định và giải thích nhiệm vụ cụ thể của các nhóm, xác định rõ mục tiêu cụ thể cần đạt được. Nhiệm vụ của các nhóm có thể giống nhau hoặc khác nhau. Bước 2: Thực hiện nhiệm vụ học tập: Các nhóm chủ động thực hiện nhiệm vụ được giao, trong đó có hoạt động chính là chuẩn bị chỗ làm việc nhóm, lập kế hoạch làm việc, thỏa thuận về quy tắc làm việc; tiến hành giải quyết nhiệm vụ; chuẩn bị báo cáo kết quả trước lớp, xác định nội dung, cách trình bày kết quả. Bước 3.Báo cáo kết quả và thảo luận Đại diện các nhóm trình bày kết quả trước lớp. Các học sinh nhóm khác lắng nghe, nhận xét, bổ sung. Giáo viên hướng dẫn học sinh lắng nghe và phản hồi tích cực. Thông thường, học sinh trình bày bằng miệng hoặc trình bày với báo cáo kèm theo. Có thể trình bày có minh họa thông qua biểu diễn hoặc mẫu kết quả làm việc nhóm. Kết quả trình bày của các nhóm nên được chia sẻ với các nhóm khác, để các nhóm góp ý và là cơ sở để triển khai các nhiệm vụ tiếp theo. Bước 4: Đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ: Giáo viên nhận xét, đánh giá, chốt vấn đề và giới thiệu chủ đề bài học. Sau khi học sinh nhận xét, phản hồi, giáo viên cùng với học sinh tổng kết các kiến thức cơ bản. Cần tránh tình trạng giáo viên giảng lại toàn bộ vấn đề học sinh đã trình bày. Khi sử dụng phương pháp thảo luận nhóm, khi giao nhiệm vụ cho học sinh, giáo viên cần có giải thích, hướng dẫn rõ ràng để đảm bảo các nhóm hiểu đúng nhiệm vụ cần thực hiện. Nhiệm vụ được giao phải phù hợp và cần huy động sự tham gia của mọi thành viên, tạo sự tương tác giữa các thành viên. Trong giờ dạy GDCD, khi sử dụng phương pháp thảo luận nhóm hình thành cho học sinh năng lực hợp tác, tự học, tự chủ, sáng tạo để phát huy năng lực của bản thân một cách hiệu quả thông qua các nhiệm vụ học tập phong phú, đa dạng và phẩm chất yêu nước, nhân ái, trung thực, trách nhiệm.
  9. 11 c. Minh họa: * Ví dụ 1: Bài 7- Ứng phó với tình huống nguy hiểm từ con người (GDCD 6 - Bộ sách Cánh Diều) - Hoạt động 2: khám phá hình thành kiến thức mới: Tình huống nguy hiểm đến từ con người. Tôi sử dụng phương pháp thảo luận nhóm: - Mục tiêu hoạt động: Học sinh nhận biết được tình huống nguy hiểm từ con người. - Lí do: + Giúp học sinh có thể tự phát hiện và nắm bắt kiến thức mới, phát triển năng lực giao tiếp, hợp tác, tính toán và phẩm chất chăm chỉ, đoàn kết trung thực + Giáo viên có cơ hội phát hiện vốn sống đặc điểm tâm lý khả năng tiếp nhận kiến thức của từng học sinh, qua đó hỗ trợ cho từng em theo cách riêng phù hợp. + Cơ sở vật chất: Trong lớp học có đủ không gian để cho học sinh làm việc theo nhóm thảo luận cặp đôi. + Nhiệm vụ học tập: Đây là nhiệm vụ mang tính khái quát học sinh phải nhận biết được các tình huống nguy hiểm và hậu quả của những tình huống nguy hiểm từ con người; Nêu được cách ứng phó với một số tình huống nguy hiểm từ con người; Thực hành được cách ứng phó trước một số tình huống nguy hiểm từ con người để đảm bảo an toàn. Nhiệm vụ này ứng dụng phương pháp làm việc nhóm cho học sinh sẽ đem lại hiệu quả cao. Thông qua phương pháp này học sinh biết khám phá, hiểu, nhớ bài, biết vận dụng các kiến thức mới để làm bài tập. - Cách tổ chức: 2. Hoạt động 2: Khám phá (Hình thành kiến thức mới) Nhiệm vụ 1: Tìm hiểu nội dung: Tình huống nguy hiểm đến từ con người a. Mục tiêu: - Nhận biết và nêu được khái niệm tình huống nguy hiểm từ con người. b. Nội dung: - GV giao nhiệm vụ cho học sinh đọc và cùng tìm hiểu nội dung thông tin trong sách giáo khoa.
  10. 12 - GV giao nhiệm vụ khám phá kiến thức bài học cho học sinh thông qua hệ thống câu hỏi. - Sử dụng phương pháp: thảo luận nhóm - Hình thức: cặp đôi + Thành lập nhóm cặp đôi: 2 học sinh cùng bàn, không mất thời gian di chuyển, dễ tập hợp thảo luận, tạo điều kiện cho mọi học sinh trong nhóm đều được tham gia đóng góp ý kiến. MỘT NẠN NHÂN Hành vi bắt nạt thường xảy ra ở tuổi thơ và để lại hệ quả xấu cho người bị bắt nạt. Chỉ mấy tuần sau khi H cùng gia đình chuyển đến sống ở tỉnh mới thì H bắt đầu bị bắt nạt. Khi ấy, H bắt đầu vào học lớp 5 bị bắt nạt về giọng nói vùng miền, cũng như bị trêu chọc cả về bề ngoài của cậu. Nếu H phản đối thì ngay lập tức H bị dọạ đánh. H đã bị đánh máy lần nên cậu cảm thầy sợ hãi, cô độc, chán nản và chểnh mảng học hành. “Tôi cảm thấy chẳng ai ưa tôi cả. Vì vậy tôi cũng không ưa tôi” - H kể lại. Trải nghiệm của H nhấn mạnh một sự thật đau lòng. Trẻ em, cùng với tất cả sự thơ ngây và non nớt trong đời, có thể trở thành nạn nhân của sự bị bắt nạt. Hành vi của những người bắt nạt có thể rất nhẫn tâm, đề lại nỗi ám ảnh cho nạn nhân trong cuộc sống. a) Những chi tiết nào trong thông tin trên cho thấy H là nạn nhân của những kẻ bắt nạt? b) Khi bị bắt nạt, H đã cảm thấy như thế nào? c)Theo em các tình huống nguy hiểm đến từ con người là gì? c. Sản phẩm: Câu trả lời của học sinh. PHIẾU BÀI TẬP (THẢO LUẬN NHÓM) a) Những chi tiết nào c) Theo em các tình trong thông tin trên cho b) Khi bị bắt nạt, H huống nguy hiểm đến thấy H là nạn nhân của đã cảm thấy như thế từ con người là gì? những kẻ bắt nạt? nào? Khi bị bắt nạt, H đã cảm thấy H bắt đầu vào học lớp 5 bị bắt không còn yêu bản thân mình Là những tình huống gây ra bởi nạt về giọng nói vùng miền, nữa, luôn trong tâm lí sợ hãi: các hành vi của con người như cũng như bị trêu chọc cả về bề "Tôi cảm thấy chẳng ai ưa tôi trộm cắp, cướp giật, bắt nạt, xâm ngoài của cậu. Nếu H phản đối cả. Vì vậy tôi cũng không ưa hại người khác,...làm tổn hại đến thì ngay lập tức H bị doạ đánh. tôi” . tính mạng, của cải vật chất, tinh H đã bị đánh mấy lần. thần của cá nhân và xã hội.
  11. 13 d. Tổ chức thực hiện: Hoạt động của GV- HS Dự kiến sản phẩm Nhiệm vụ 1: Tình huống nguy hiểm từcon 1. Khái niệm người * Thông tin Bước 1: Chuyển giao nhiệm vụ học tập: * Nhận xét - GV giao nhiệm vụ cho HS thông qua hệ Tình huống nguy hiểm từ con thống câu hỏi của phiếu bài tập: người là những tình huống gây ra + Yêu cầu học sinh đọc thông tin. bởi các hành vi của con người như + Chia lớp thành 3 nhóm, yêu cầu học sinh trộm cắp, cướp giật, bắt nạt, xâm thảo luận theo tổ, nhóm và trả lời câu hỏi vào hại người khác,... làm tổn hại đến phiếu bài tập. tính mạng, của cải vật chất, tinh Phiếu học tập 1 thần của cá nhân và xã hội. Họ và tên .............. Lớp ....... Câu 1: Những chi tiết nào trong thông tin trên cho thấy H là nạn nhân của những kẻ bắt nạt? ...................................................................... ..................................................................... ..................................................................... Câu 2: Khi bị bắt nạt, H cảm thấy như thế nào? ...................................................................... ..................................................................... ..................................................................... Câu 3: Theo em các tình huống nguy hiểm đến từ con người là gì? ...................................................................... ..................................................................... .....................................................................