Báo cáo Sáng kiến Một số biện pháp nâng cao chất lượng bồi dưỡng học sinh giỏi môn Hóa học Lớp 9 và ôn thi vào Lớp 10 THPT chuyên
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Báo cáo Sáng kiến Một số biện pháp nâng cao chất lượng bồi dưỡng học sinh giỏi môn Hóa học Lớp 9 và ôn thi vào Lớp 10 THPT chuyên", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
bao_cao_sang_kien_mot_so_bien_phap_nang_cao_chat_luong_boi_d.docx
Báo cáo Sáng kiến Một số biện pháp nâng cao chất lượng bồi dưỡng học sinh giỏi môn Hóa học Lớp 9 và.pdf
Nội dung tài liệu: Báo cáo Sáng kiến Một số biện pháp nâng cao chất lượng bồi dưỡng học sinh giỏi môn Hóa học Lớp 9 và ôn thi vào Lớp 10 THPT chuyên
- Trường THPT chuyên Lê Hồng Phong - tỉnh Nam Định, nơi đào tạo nên những học sinh xuất sắc góp phần lớn làm rạng danh quê hương Thành Nam - miền đất có truyền thống hiếu học của cả nước. Bồi dưỡng học sinh giỏi ở bậc THCS là phát huy hết khả năng của học sinh, là tạo nguồn học sinh giỏi cho các cấp học tiếp theo, thực hiện chiến lược “bồi dưỡng nhân tài” cho đất nước. Hiện nay, công tác bồi dưỡng học sinh giỏi ở các trường THCS đã được quan tâm, chú trọng phát triển, tuy nhiên vẫn còn tồn tại một số vấn đề như: cách tuyển chọn, khuyến khích học sinh, phương pháp giảng dậy, chương trình chuyên, Qua nhiều năm trực tiếp tham gia công tác bồi dưỡng học sinh giỏi, tôi nhận thấy rằng, để có thể đạt được kết quả trong các kỳ thi học sinh giỏi ở bậc THCS, người giáo viên phải dày công nghiên cứu, trau dồi chuyên môn, trang bị cho học sinh về phương pháp học tập (đặc biệt là khả năng tự học), về kiến thức, kỹ năng tốt nhất, phù hợp với từng đối tượng học sinh để phát huy hết khả năng của các em. Bên cạnh đó, nguồn tài liệu giúp học sinh nghiên cứu, củng cố kiến thức cơ bản của các cấp học, các khối học và hệ thống các tài liệu giúp giáo viên và học sinh nghiên cứu, ôn tập nâng cao tham gia các kỳ thi chọn học sinh giỏi các cấp, thi tuyển sinh vào THPT chuyên là vô cùng quan trọng. Trong những năm trực tiếp bồi dưỡng học sinh giỏi, tôi luôn cố gắng nghiên cứu, tìm tòi để tìm ra những giải pháp để nâng cao chất lượng bồi dưỡng học sinh giỏi môn Hóa học lớp 9. Mỗi giải pháp được thực hiện và rút kinh nghiệm qua mỗi năm đã làm giàu thêm kinh nghiệm cho bản thân tôi. Với những lý do trên, tôi xin được chia sẻ với các đồng nghiệp sáng kiến kinh nghiệm mà tôi đã áp dụng trong quá trình giảng dậy với đề tài “Một số biện pháp nâng cao chất lượng bồi dưỡng học sinh giỏi môn Hóa học lớp 9 và ôn thi vào lớp 10 THPT chuyên”. Tôi mong sẽ nhận được sự quan tâm, góp ý của các thầy giáo,
- cô giáo, các bạn đồng nghiệp và bạn đọc để đề tài của tôi ngày càng được hoàn thiện hơn. II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP 1. Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến 1.1. Thực trạng chung Môn Hóa học cũng như nhiều môn học khác trong chương trình giáo dục phổ thông có vai trò quan trọng trong việc giáo dục thế hệ trẻ trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, với xu thế khu vực hóa, toàn cầu hóa đã và đang diễn ra ngày một mạnh mẽ hơn, toàn diện hơn. Càng giao lưu, hội nhập quốc tế, càng cần thiết phải có nguồn nhân tài để bắt kịp, đón đầu các xu hướng, các thành tựu về khoa học, kỹ thuật trên thế giới. Và môn Hóa học là một môn học rất cần có các nhân tố tài năng để bắt kịp với sự phát triển về khoa học kỹ thuật trên toàn cầu. 1.2. Thực trạng đối với giáo viên và học sinh 1.2.1. Đối với học sinh Với kinh nghiệm thực tế của mình, tôi nhận thấy vấn đề quan trọng đầu tiên trong giảng dậy và bồi dưỡng học sinh giỏi đó là xác định đúng đối tượng học sinh cần chọn. Thông thường, giáo viên trực tiếp đứng lớp qua kinh nghiệm giảng dậy sẽ quan sát, chú ý những học sinh tiềm năng, tiếp cận và động viên các em tham gia đội tuyển học sinh giỏi môn Hóa học lớp 9. Đối với bộ môn Hóa học, kiến thức lý thuyết gắn liền với thực tế cuộc sống đã tạo ra cho các em hứng thú khám phá được những điều mới mẻ thông qua bài học. Việc vận dụng kiến thức để giải quyết các vấn đề, hiện tượng tự nhiên xảy ra xung quanh làm các em hào hứng, say mê và yêu thích hơn bộ môn hơn.
- Tuy nhiên, những năm gần đây, theo xu hướng chung của xã hội nên các phụ huynh có tâm lý e ngại cho con em mình học chuyên sâu theo một bộ môn mà thường muốn các em dành thời gian học đều các môn để đạt kết quả cao trong các kỳ thi chung. Chính vì vậy mà việc tuyển chọn các em học sinh có khả năng, có tư chất tốt để động viên các em tham gia vào đội tuyển học sinh giỏi môn Hóa học lớp 9 gặp khá nhiều khó khăn. Bên cạnh đó, môn Hóa học bậc THCS có nhiều kiến thức khó, trừu tượng. Việc ghi nhớ các khái niệm, thí nghiệm, hiện tượng đòi hỏi học sinh phải chăm chỉ, siêng năng, có phương pháp học tập khoa học, tư duy logic và có hệ thống. Nhưng hầu hết các em học sinh chưa có được phương pháp học hợp lý mà việc học còn phụ thuộc quá nhiều vào việc giảng dạy trên lớp của giáo viên nên khả năng tự học của các em còn nhiều hạn chế. 1.2.2. Đối với giáo viên Muốn đạt được kết quả tốt trong công tác dạy học nói chung và bồi dưỡng học sinh giỏi nói riêng, vai trò của các thầy cô giáo là rất lớn. Thầy cô giáo là người hướng dẫn và tổ chức các hoạt động học tập để học sinh phát triển tư duy, nhất là tư duy độc lập, sáng tạo, biết tự tiếp thu tri thức từ nhiều nguồn. Trước sự phát triển như vũ bão của khoa học kỹ thuật, trước sự đòi hỏi ngày càng cao của chương trình đổi mới giáo dục phổ thông, của xã hội, giáo viên gặp rất nhiều khó khan trước nhiệm vụ được giao. Để nâng cao chất lượng bồi dưỡng học sinh giỏi là không hề đơn giản, mà phải được đầu tư, đào tạo, phải dầy công bồi dưỡng kiến thức, kĩ năng cho các em một cách kỹ lưỡng, bài bản. Để có thể làm được điều đó, giáo viên trực tiếp bồi dưỡng học sinh giỏi đã gặp không ít khó khăn. Để có thể đạt được kết quả trong bồi dưỡng học sinh giỏi thì công tác tự nghiên cứu, tự bồi dưỡng của giáo viên đòi hỏi nhiều thời gian, nhiều tâm huyết. Trong khi đó, hầu hết giáo viên dậy học sinh giỏi vừa phải đảm bảo chất lượng đại
- trà, vừa phải hoàn thành chỉ tiêu chất lượng trong các kỳ thi học sinh giỏi. Bên cạnh đó, khó khăn lớn nhất cho giáo viên trực tiếp bồi dưỡng học sinh giỏi là không có một chương trình cùng với một hệ thống tài liệu chuẩn mà việc lựa chọn tài liệu giảng dậy phần lớn dựa vào kinh nghiệm và cảm tính của cá nhân các thầy cô dậy đội tuyển. Chính vì vậy mà có nhiều nội dung giáo viên lúng túng trong việc tìm tài liệu, cũng như mức độ và phương pháp dậy cho phù hợp. Bản thân tôi cũng như nhiều giáo viên khi mới tham gia công tác bồi dưỡng học sinh giỏi thường mắc các lỗi sau: - Giáo viên thường hay nóng vội nên bỏ qua các dạng bài tập cơ bản mà thường yêu cầu học sinh phải tiếp cận ngay kiến thức nâng cao và khó. Điều này làm cho học sinh gặp rất nhiều khó khăn trong quá trình học đội tuyển học sinh giỏi, vì chúng ta đều biết, kiến thức trong chương trình học sinh giỏi thường rất nhiều, nhất là học sinh giỏi cấp tỉnh. - Do lượng kiến thức quá nhiều nên giáo viên thường tham kiến thức, dậy theo kiểu nhồi nhét kiến thức dẫn đến khả năng tiếp thu kiến thức của học sinh không cao, dễ gây tình trạng học sinh không thể tự hệ thống kiến thức và khó phát huy tư duy logic của học sinh. - Nhiều kiến thức chưa phân tích rõ bản chất, hoặc không có thời gian để phân tích sâu bản chất của các hiện tượng, thí nghiệm, thực tế nên học sinh khó khắc sâu kiến thức. - Việc vận dụng kiến thức liên môn, tích hợp còn hạn chế nên nhiều khi chưa hướng dẫn được cho học sinh hướng giải quyết vấn đề một cách triệt để. Với những lỗi thường gặp đó của giáo viên, dễ gây ra các nhược điểm trong quá trình học của học sinh như sau:
- - Học sinh không thể ghi nhớ từng đơn vị kiến thức theo một hệ thống, vậy nên rất khó vận dụng tư duy logic để giải quyết các bài tập hay các vấn đề có tính tổng hợp. - Học sinh khó khắc sâu kiến thức và khó vận dụng được lý thuyết để giải quyết cho các bài tập liên quan đến thực hành, thí nghiệm và giải thích cho các hiện tượng diễn ra trong thực tế. - Giáo viên không xác định được yêu cầu cần đạt ở mỗi đơn vị kiến thức, vậy nên giáo viên không biết được học sinh đang hổng kiến thức phần nào để có kế hoạch bổ sung, bồi dưỡng thêm. - Giáo viên không rèn được kỹ năng làm bài cho học sinh, hoặc với những dạng bài cơ bản, giáo viên cũng phải mất rất nhiều thời gian để hình thành và luyện tập kỹ năng cho học sinh. Vì những vấn đề đó nên rất khó để có thể đạt được kết quả cao trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi hàng năm, nhất là học sinh giỏi cấp tỉnh. Vậy nên, trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi luôn cần sự cố gắng, nỗ lực không ngừng của cả thầy và trò. 2. Mô tả giải pháp sau khi tạo ra sáng kiến Trong quá trình bồi dưỡng đội tuyển học sinh giỏi môn Hóa học lớp 9, tôi đã xây dựng và thực hiện một số giải pháp sau. 2.1. Phát hiện học sinh có năng lực để thành lập đội tuyển Với kinh nghiệm trong thực tế bồi dưỡng học sinh giỏi qua nhiều năm của mình, tôi thấy rằng phát hiện, lựa chọn học sinh có năng lực là một phần quan trọng trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi. Người giáo viên phải phát hiện, đánh giá được tư chất và năng lực của học sinh một cách khách quan, chính xác, không chỉ qua các bài kiểm tra khảo sát mà cả qua việc học tập, bồi dưỡng hàng ngày, việc làm
- bài tập về nhà, việc chuẩn bị bài mới. Việc lựa chọn đúng học sinh không chỉ nâng cao hiệu quả bồi dưỡng mà còn tránh bỏ sót học sinh giỏi và không bị quá sức đối với những em không có tố chất. Có ý kiến cho rằng, học sinh giỏi là do các em sẵn có tư chất. Nhưng là người đã trực tiếp giảng dậy ở trường phổ thông nhiều năm, tôi không nghĩ như vậy. Năng khiếu và tri thức văn hóa nói chung phải được bồi đắp theo năm tháng, gắn liền với sự nhanh nhạy của tư duy logic và có hệ thống của tố chất cá nhân. Người thầy phải đóng vai trò là người dẫn dắt, cung cấp và rèn luyện cho các em về kiến thức cũng như rèn luyện về tư duy và hình thành nên các kỹ năng cần có của môn học. Trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi, người thầy đóng vai trò quan trọng, nhưng học sinh là yếu tố quyết định sự thành công. Học sinh giỏi phải là học sinh có tư chất thông minh, đồng thời có sự nỗ lực cá nhân không ngừng để phát huy khả năng tự học, tự rèn luyện, phải có sự đam mê, lòng nhiệt tình, yêu thích đối với môn học. Không phải học sinh nào có tư chất thông minh cũng có thể trở thành học sinh giỏi. Các em học sinh có thể có tư chất thông minh, nhưng nếu như các em không có sự cố gắng, nỗ lực trong việc học, không có sự đam mê, nhiệt tình để vượt qua những khó khăn, vất vả của chương trình học sinh giỏi rất nặng về kiến thức và những yêu cầu cao về tư duy và kỹ năng. Và như vậy, thì dù học sinh có tư chất thông minh thì cũng không thể thành công trong quá trình học đội tuyển học sinh giỏi được, nhất là với kỳ thi học sinh giỏi cấp tỉnh. Vì để có thể thành công trong kỳ thi học sinh giỏi cấp tỉnh thì yêu cầu học sinh phải hội tụ được rất nhiều yếu tố. Thứ nhất là các em phải có tư chất thông minh để có thể lĩnh hội được kiến thức môn Hóa học cấp THCS ở mức độ nâng cao, mở rộng và chuyên sâu. Và như bản thân tôi thấy thì kiến thức của chương trình học sinh giỏi môn Hóa học lớp 9 là rất nhiều. Thứ hai là các em phải có tư duy logic và khả năng tự hệ thống kiến thức tốt. Thứ ba là các em phải có kỹ năng và tốc độ làm bài tốt. Và đặc biệt quan trọng là các em phải có khả năng tự
- học để có thể lĩnh hội được nhiều kiến thức từ nhiều nguồn, kiến thức do thầy cô cung cấp, kiến thức có trong các nguồn tài liệu, kiến thức từ thực tế,... Bên cạnh đó, yếu tố không thể thiếu là các em phải là những học sinh có ý thức tốt, có sự yêu thích, đam mê bộ môn để luôn cố gắng, nỗ lực vươn lên trong quá trình học tập. Để có thể tuyển chọn và bồi dưỡng được những học sinh giỏi của bộ môn Hóa học như vậy, tôi nhận thấy giáo viên dạy đội tuyển môn Hóa học lớp 9 phải là người truyền được cảm hứng cho học sinh. Giáo viên phải là người cho các em thấy được cái hay, cái đẹp của bộ môn Hóa học và sự cần thiết của việc học tập môn Hóa. Trong quá trình giảng dạy, tôi luôn truyền cảm hứng đến các em học sinh để các em thấy được: - Môn Hóa là một bộ môn khoa học thực nghiệm, học môn Hóa các em sẽ có những hiểu biết về thế giới vật chất xung quanh mình, có thể hiểu được các quy luật của tự nhiên cũng như của cuộc sống, đấy là trong tự nhiên không có chất nào tự nhiên sinh ra cũng không có chất nào tự nhiên mất đi mà chỉ có sự chuyển hóa từ chất này thành chất khác. Và thông qua việc học tập bộ môn Hóa, các em có thể hiểu được quá trình chuyển hoá từ chất này thành chất khác, đấy là một quá trình rất logic tuân theo những quy luật khoa học nhưng cũng vô cùng phong phú và đa dạng mang lại rất nhiều hứng thú cho người học. - Học tập bộ môn Hóa cũng giúp cho các em có thể hiểu và giải thích được các hiện tượng tự nhiên có thể xảy ra xung quanh mình trong cuộc sống hàng ngày như quá trình chín của hạt lúa và các loại trái cây; quá trình quang hợp của cây xanh; quá trình hô hấp của các loài động, thực vật; cơ chế hoạt động của các loại chất tẩy rửa thông thường; sự hình thành thạch nhũ trong các hang động; nguyên nhân của hiện tượng mưa axit, ô nhiễm môi trường, biến đổi khí hậu,...
- - Các em cũng có thể thấy được, từ xa xưa, kiến thức của bộ môn Hóa đã đi vào ca dao, tục ngữ góp phần làm giàu đẹp hơn cho kho tàng văn học dân gian của dân tộc Việt Nam, ví dụ như: “Nước chảy đá mòn” “Cá không ăn muối cá ươn Con cãi cha mẹ trăm đường con hư” “Thịt mỡ, dưa hành, câu đối đỏ Cây nêu, tràng pháo, bánh chưng xanh” “Lúa chiêm lấp ló đầu bờ Hễ nghe tiếng sấm, phất cờ mà lên” “Cha truyền, con nối Thợ nguội dạy con Muốn lửa đỏ hơn Ta nên rảy nước” “Chua, cay, mặn, ngọt đã từng Gừng cay, muối mặn xin đừng quên nhau” “Anh đừng bắc bậc làm cao Phèn chua em đánh nước nào cũng trong” “Chẳng chua cũng thể là chanh Chẳng ngọt cũng thể cam sành chín cây”; - Các em có thể vận dụng những kiến thức được học từ bộ môn Hóa học vào cuộc sống hàng ngày một cách hiệu quả như việc sử dụng và bảo quản các loại lương
- thực, thực phẩm, đồ uống, mỹ phẩm, sao cho an toàn và đạt được kết quả như mong muốn. - Các em cũng có thể vận dụng kiến thức bộ môn Hóa để giải thích cho sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật ngày nay, nhất là trong các lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, chế biến và bảo quản thực phẩm, hóa dầu, hóa mỹ phẩm, hóa dược, - Từ những hiểu biết về tính chất của các chất mà các em tích lũy được qua quá trình học tập bộ môn Hóa, các em có thể tự tiến hành được các thí nghiệm hóa học từ các loại hóa chất quen thuộc có trong các loại lương thực, thực phẩm thông dụng trong cuộc sống như chanh (axit), dầu ăn (chất béo), muối ăn, muối iot, cơm (hồ tinh bột), nước ngọt có gas, thuốc sủi, để chứng minh bằng thực nghiệm tính chất của các chất mà các em đã được học qua lý thuyết. Tất cả những điều đó, có thể khơi dậy ở các em sự yêu thích môn học, niềm tin và lòng say mê để các em tham gia đội tuyển học sinh giỏi với động cơ, mục đích đúng đắn và đạt kết quả cao. Có thể nói đây là phần quan trọng nhất tác động đến tâm lý học sinh vì nó quyết định việc các em sẽ học và thi như thế nào, học để thu nhận được những kiến thức gì để các em có đủ niềm tin và đam mê để gắn bó với bộ môn Hóa học. Để làm được điều này, theo tôi, giáo viên vừa đóng vai trò là người thầy đồng thời cũng là người bạn lớn của các em, để hướng dẫn và phân tích cho các em để các em thấy được những lợi thế khi tham gia đội tuyển học sinh giỏi môn Hóa học lớp 9. 2.2. Xây dựng kế hoạch dạy học trong chương trình bồi dưỡng học sinh giỏi môn Hóa học lớp 9 và ôn thi vào lớp 10 THPT chuyên Các thầy cô đều biết rằng, cho đến thời điểm hiện tại, chúng ta vẫn chưa có một chương trình chính thống, một bộ tài liệu chuẩn cho công tác bồi dưỡng học sinh giỏi. Các tài liệu được sử dụng trong chương trình bồi dưỡng học sinh giỏi
- hoàn toàn do giáo viên tự tìm hiểu và xây dựng dựa trên quan điểm cá nhân của mỗi thầy cô. Với kinh nghiệm trực tiếp dồi dưỡng đội tuyển học sinh giỏi môn Hóa học lớp 9 tham gia kỳ thi học sinh giỏi cấp tỉnh và ôn thi vào lớp 10 THPT chuyên, tôi thường tham khảo bộ sách nâng cao môn Hóa học lớp 8, 9, 10, 11, 12, trong đó, tôi sử dụng khá nhiều phần kiến thức nâng cao dành cho học sinh chuyên bậc THPT. Vì chưa có một chương trình chính thống, một bộ tài liệu chuẩn nên các thầy cô tham gia trực tiếp công tác bồi dưỡng học sinh giỏi thường gặp nhiều khó khăn trong quá trình giảng dạy. Chính vì vậy, tôi thấy rằng, cũng như việc dạy học nói chung thì với chương trình bồi dưỡng đội tuyển học sinh giỏi, trước hết cần phải có kế hoạch dạy học. Kế hoạch dạy học khoa học, đúng đắn, hợp lý là một trong những yếu tố quan trọng giúp việc bồi dưỡng học sinh giỏi được thuận lợi và đạt hiệu quả cao hơn. Giáo viên cần xây dựng kế hoạch bồi dưỡng học sinh từ kiến thức cơ bản của nội dung chương trình chính khóa, tiến dần tới chương trình nâng cao, từ đơn giản đến phức tạp để các em học sinh bắt nhịp dần. Đồng thời phải có phần ôn tập củng cố, kiểm tra, nhận xét, rút kinh nghiệm qua mỗi bài kiểm tra để học sinh thấy được những ưu điểm của mình để tiếp tục phát huy và khắc phục những nhược điểm. Tôi thấy rằng, việc chấm, chữa và nhận xét từng bài kiểm tra thật sự rất hiệu quả trong việc rèn luyện kỹ năng làm bài cho các em học sinh. Một số tiết ôn tập, giáo viên cần giúp học sinh tổng hợp các kiến thức, phân loại và phương pháp giải cho từng dạng bài, từng chuyên đề theo hệ thống. 2.2.1. Các văn bản chỉ đạo được dùng để xây dựng kế hoạch Trước khi xây dựng kế hoạch dạy học, tôi thường nghiên cứu rất kỹ cấu trúc đề thi học sinh giỏi cấp tỉnh môn Hóa học lớp 9 và cấu trúc đề thi vào lớp 10 chuyên Hóa trường THPT chuyên Lê Hồng Phong – tỉnh Nam Định cũng như khung chương trình liên thông giữa các trường THCS xây dựng chất lượng cao với trường chuyên
- Lê Hồng Phong – tỉnh Nam Định, do Sở Giáo dục và Đào tạo Nam Định ban hành hàng năm, được đính kèm thành các phụ lục sau. Tôi cũng tham gia đầy đủ các buổi tập huấn cũng như các chương trình sinh hoạt chuyên môn do Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Nghĩa Hưng cũng như Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Nam Định tổ chức với tinh thần làm việc nghiêm túc để học tập, trau dồi chuyên môn, nghiệp vụ. Phụ lục 1 SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NAM ĐỊNH CẤU TRÚC ĐỀ THI HỌC SINH GIỎI CẤP TỈNH NĂM HỌC 2022 - 2023 Môn: Hoá học - Lớp 9 I. Yêu cầu chung 1. Nội dung kiến thức: Nội dung đề thi nằm trong chương trình THCS chủ yếu là lớp 9, trong đó nội dung kiến thức lớp 8 năm học 2021 - 2022 thực hiện theo Công văn số 1415/SGDĐT ngày 22/9/2021 của Sở GDĐT về việc hướng dẫn thực hiện chương trình GDPT cấp THCS, THPT ứng phó với dịch COVID-19 năm học 2021 - 2022; nội dung kiến thức lớp 9 năm học 2022 - 2023 thực hiện theo Công văn số 1360/SGDĐT-GDTrH ngày 15/9/2020 của Sở GDĐT về việc hướng dẫn bổ sung, điều chỉnh về khung nội dung môn học, xây dựng kế hoạch giáo dục môn học và kế hoạch giáo dục nhà trường năm học 2020 - 2021; có một số phần mở rộng nâng cao theo chương trình liên thông Sở GD-ĐT đã ban hành kèm theo Công văn 1563/SGDĐT-GDTrH ngày 06/7/2017. Đề thi đảm bảo độ phân hoá, coi trọng đánh giá năng lực người học, tăng cường câu hỏi mở, vận dụng kiến thức giải quyết các vấn đề trong thực tiễn. 2. Yêu cầu về các cấp độ nhận thức - Nhận biết: khoảng 20%.

