Báo cáo Sáng kiến Một số biện pháp giúp nâng cao hứng thú học tập, phát triển năng lực vận dụng kiến thức vào thực tế môn Hóa học Lớp 9 cho học sinh

docx 43 trang Chăm Nguyễn 31/12/2025 180
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Báo cáo Sáng kiến Một số biện pháp giúp nâng cao hứng thú học tập, phát triển năng lực vận dụng kiến thức vào thực tế môn Hóa học Lớp 9 cho học sinh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docxbao_cao_sang_kien_mot_so_bien_phap_giup_nang_cao_hung_thu_ho.docx

Nội dung tài liệu: Báo cáo Sáng kiến Một số biện pháp giúp nâng cao hứng thú học tập, phát triển năng lực vận dụng kiến thức vào thực tế môn Hóa học Lớp 9 cho học sinh

  1. DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT HS Học sinh GV Giáo viên THCS Trung học cơ sở GVCN Giáo viên chủ nhiệm TCHH Tính chất hóa học
  2. PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ Trong chương trình giáo dục phổ thông môn Hóa học (ban hành kèm theo Thông tư số 32/2018/TT-BGDTĐT) năm 2018 đã chỉ ra rằng: “Hoá học là ngành khoa học thuộc lĩnh vực khoa học tự nhiên, nghiên cứu về thành phần cấu trúc, tính chất và sự biến đổi của các đơn chất và hợp chất. Hoá học kết hợp chặt chẽ giữa lí thuyết và thực nghiệm, là cầu nối các ngành khoa học tự nhiên khác như vật lí, sinh học, y dược và địa chất học. Những tiến bộ trong lĩnh vực hoá học gắn liền với sự phát triển của những phát hiện mới trong các lĩnh vực của các ngành sinh học, y học và vật lí. Hoá học đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống, sản xuất, góp phần vào sự phát triển kinh tế - xã hội.”; “Môn Hoá học giúp học sinh có được những tri thức cốt lõi về hoá học và ứng dụng những tri thức này vào cuộc sống, đồng thời có mối quan hệ với nhiều lĩnh vực giáo dục khác.” Đồng thời, chương trình môn Hóa học nhấn mạnh 05 đặc điểm, trong đó có: “Bảo đảm tính thực tế” và “Phát huy tính tích cực của học sinh”. Trong các năng lực đặc thù mà môn Hóa học hình thành và phát triển ở học sinh (HS) có năng lực: “Vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học”. Bản thân là một giáo viên giảng dạy môn Hóa học ở bậc học trung học cơ sở (THCS), tôi nhận thấy rằng Hóa học là một môn khoa học rất gần gũi với cuộc sống của con người, có nhiều ứng dụng trong đời sống cũng như trong sản xuất, tuy nhiên, với nhiều em HS thì đây lại là môn môn học trừu tượng, là một môn học khó. Để học sinh có hứng thú và niềm đam mê với môn học, bản thân tôi thiết nghĩ, mỗi người giáo viên cần thường xuyên lồng ghép các hiện tượng thực tế có liên quan đến môn học xảy ra xung quanh ta nhằm giúp học sinh hiểu kiến thức, biết các ứng dụng của từng chất trong cuộc sống hằng ngày. Có như vậy mới khơi dậy niềm đam mê và hứng thú của các em với môn học. Khi các em có được niềm đam mê và hứng thú với môn học thì chắc chắn các em sẽ đạt kết quả học tập cao! 1
  3. Qua gần 6 năm giảng dạy bộ môn Hóa học tại trường THCS Bồng Lai, bản thân tôi luôn cố gắng đổi mới phương pháp dạy học để các em học sinh luôn tích cực, chủ động, sáng tạo trong việc học tập của mình. Bên cạnh đó, tôi cũng thường xuyên hướng dẫn các em tìm tòi, khám phá về ứng dụng của Hóa học xung quanh ta, cũng như thường xuyên phối hợp với các thầy cô giáo chủ nhiệm, Ban đại diện Cha mẹ học sinh, nhà trường tạo điều kiện để các em được trải nghiệm, vận dụng kiến thức đã được học vào thực tế. Từ đó tôi đúc kết những kinh nghiệm mình có được để đưa ra biện pháp: “Một số biện pháp giúp nâng cao hứng thú học tập, phát triển năng lực vận dụng kiến thức vào thực tế môn hóa học lớp 9 cho học sinh” 2
  4. PHẦN II: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 1. THỰC TRẠNG CÔNG TÁC DẠY HỌC VÀ TÍNH CẤP THIẾT a. Một số thực trạng và nguyên nhân Thực trạng: Ngay từ đầu năm học 2021 – 2022, tôi đã tổng hợp kết quả học tập môn Hóa học của các bạn HS trong lớp 9A (là lớp 8A trong năm học 2020 – 2021) để có được đánh giá sơ bộ về năng lực cũng như kiến thức của các em, kết quả tổng hợp được như sau: Xếp loại Số lượng Tỉ lệ Giỏi 23 62.16% Khá 14 37.84% Trung bình 0 0% Yếu 0 0% Kém 0 0% 37 100% Bảng 1: Kết quả xếp loại học lực lớp 8A môn Hóa học năm học 2020 – 2021 Đồng thời phát phiếu hỏi về việc vận dụng kiến thức đã học vào thực tế của các em HS: Câu hỏi 1: Thầy cô có thường đặt các câu hỏi liên hệ thực tế trong qua trình dạy học bài mới không? A. Thường xuyên: 24.32% B. Thỉnh thoảng: 64.87% C. Không để ý: 10.81% 3
  5. Câu hỏi 2: Thầy cô có thường đưa ra các bài tập sản xuất, các tình huống có vấn đề liên quan đến thực tế trong các giờ dạy trên lớp không? A. Thường xuyên: 24.32% B. Thỉnh thoảng: 67.57% C. Không để ý: 8.11% Câu hỏi 3: Thầy cô có thường giao nhiệm vụ cho các em về nhà tìm mối liên hệ giữa kiến thức của bài mới và các vấn đề xảy ra trong cuộc sống hàng ngày của các em không? A. Thường xuyên: 24.32% B. Thỉnh thoảng: 67.57% C. Không để ý: 8.11% Câu hỏi 4: Khi lên lớp thầy/cô có thường dành thời gian cho các em đặt ra các vấn đề, các câu hỏi khúc mắc về những gì các em quan sát được trong đời sống không? A. Thường xuyên: 24.32% B. Thỉnh thoảng: 45.95% C. Không để ý: 29.73% Câu hỏi 5: Thầy/cô có dành thời gian để giải đáp những thắc mắc của các em không? A. Thường xuyên: 24.32% B. Thỉnh thoảng: 45.95% C. Không để ý: 29.73% Câu hỏi 6: Các em thường có thói quen liên hệ giữa kiến thức đã lĩnh hội được vào trong đời sống hàng ngày của các em không? A. Thường xuyên: 8.11% B. Thỉnh thoảng: 32.43% C. Không để ý: 59.46% Câu hỏi 7: Các em có thường tìm ra được những mâu thuẫn giữa những kiến thức lí thuyết học được với những hiện tượng xảy ra trong thực tế không? A. Thường xuyên: 8.11% B. Thỉnh thoảng: 24.32% C. Không để ý: 67.57% Câu hỏi 8: Trong các giờ luyện tập, ôn tập, thầy/cô có thường đưa cho các em các bài tập hoặc các câu hỏi liên hệ với thực tế để củng cố kiến thức không? A. Thường xuyên: 10.81% B. Thỉnh thoảng: 21.62% C. Không để ý: 67.57% Câu hỏi 9: Trong giờ thực hành các em có thường chú ý quan sát thí nghiệm và tìm ra được sự mâu thuẫn với các kiến thức lý thuyết đã học được không? A. Thường xuyên: 0% B. Thỉnh thoảng: 27.03% C. Không để ý: 72.97% Câu hỏi 10: Trong các bài kiểm tra, thầy/cô có thường đưa ra các câu hỏi/ bài tập/ 4
  6. tình huống có liên quan đến thực tế không? A. Thường xuyên: 5.41% B. Thỉnh thoảng: 27.02% C. Không để ý: 67.57% Câu hỏi 11: Các em có thích thầy/cô giao nhiệm vụ tìm hiểu các hiện tượng thực tế có liên quan đến bài học không? A. Thích: 27.03% B. Bình thường: 29.73% C. Không thích: 43.24% Câu hỏi 12: Các em có thích vận dụng những kiến thức đã học vào thực tế không? A. Thích: 40.54% B. Bình thường: 18.92% C. Không thích: 40.54% Câu hỏi 13: Các em có thích tự mình tìm hiểu các ứng dụng của hóa học vào cuộc sống không? A. Thích: 40.54% B. Bình thường: 40.54% C. Không thích: 18.92% Từ đó tôi nhận ra được thực trạng: - Hầu hết GV chỉ áp dụng một số phương pháp dạy học truyền thống – mang tính chất truyền thụ một chiều. - GV chưa chịu khó tìm hiểu các PPDH tích cực theo quan điểm phân hóa. - Dạy học vẫn nặng về truyền thụ kiến thức lý thuyết. Việc rèn kỹ năng sống, kỹ năng vận dụng kiến thức để giải quyết các tính huống thực tế cho học sinh chưa được quan tâm đúng mức. - Nhiều HS còn chưa quan tâm tới việc mình được học cái gì – học để làm gì? – Có giúp gì được cho bản thân trong thực tế hay không?... Mà chỉ quan tâm tới điểm số. Cá biệt có một số em còn không quan tâm đến mình đã và đang học gì. Nguyên dân dẫn đến hạn chế của việc vận dụng kiến thức vào thực tế: - Một phần do nhận thức về sự cần thiết của việc đổi mới PPDH và ý thức thực hiện đổi mới của một bộ phận giáo viên còn chưa cao. - Giáo dục chỉ mới bắt đầu thực sự chú trọng đến đánh giá thường xuyên. 5
  7. - Khả năng vận dụng kiến thức của HS vào các hoạt động thực tế còn chưa linh hoạt. - Học sinh chỉ chú ý vào 03 môn thi vào THPT mà xem nhẹ các môn khác. - Ý thức vận dụng kiến thức của HS và định hướng của GV hướng tới các vấn đề trong thực tế còn chưa thực sự cao, hoặc mang tính hình thức. b. Tính cấp thiết của việc nâng cao năng lực vận dụng kiến thức vào thực tế cho học sinh Ông cha ta đã từng nói: “Học đi đôi với hành”. Thật vậy, nguồn kiến thức là vô tận, học sinh không thể lĩnh hội kiến thức một cách cứng nhắc như một cái máy mà cần phải tạo điều kiện cho các em biết áp dụng kiến thức vào thực tế hay chí ít cũng là biết kiến thức mình được học đã được vận dụng vào thực tế như thế nào và kết quả ra sao. Nhưng trong thực tế hiện nay, cách nhìn nhận về học vấn của một số cha mẹ học sinh và học sinh vẫn còn lạc hậu. Nhiều cha mẹ học sinh có suy nghĩ rằng quan tâm đến việc học của con là chỉ cần con làm tốt các bài tập, mua nhiều sách về để con ôn luyện hay tìm các thầy cô giỏi để dạy con giải bài tập đã là đủ. Ngay cả trong các kì kiểm tra thường xuyên, thi học sinh giỏi các cấp thì việc liên hệ các vấn đề trong thực tế có liên quan đến các kiến thức Hóa học còn ít được chú ý, hoặc mới bắt đầu được chú ý đến. Nên việc học sinh có thể giải các bài tập định lượng thì có, nhưng có thể vận dụng kiến thức đã học vào để giải thích các hiện tượng, vấn đề trong thực tế thì rất ít. 2. BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIẢNG DẠY Trong quá trình giảng dạy bộ môn hóa học lớp 9 qua các năm học, khi nghiên cứu chương trình, tôi thấy có rất nhiều kiến thức có thể vận dụng để giải quyết hoặc giải thích cho các hiện tượng hoặc các vấn đề trong thực tế; nhưng thông qua lấy ý kiến và phiếu hỏi học sinh, việc vận dụng kiến thức của các em 6
  8. để giải thích hoặc giải quyết các vấn đề còn rất hạn chế. Chính vì vậy nên tôi xin được đề ra một số biện pháp giúp nâng cao năng lực vận dụng kiến thức vào thực tế cho HS lớp 9 được áp dụng trong suốt năm học. Lấy ví dụ trong phần kiến thức về các loại hợp chất vô cơ, kim loại và phi kim của chương trình Hóa học lớp 9 như sau: Biện pháp 1: Sử dụng một số câu hỏi trắc nghiệm về việc vận dụng kiến thức môn Hóa học vào thực tế để đánh giá năng lực của HS ngay từ đầu năm học. Sau khi tổng hợp kết quả học lực môn Hóa cuối năm học 2020 – 2021, để có thể đánh giá chi tiết hơn về mức độ kiến thức và khả năng vận dụng kiến thức của HS trong các tình huống cụ thể, tôi xây dựng đề kiểm tra nhanh trong 8-10 phút với các câu hỏi trắc nghiệm, sử dụng phần kiến thức của lớp 8 mà HS đã được học và một số vấn đề trong thực tiễn như: máy kiểm tra nồng độ cồn, khí CO2 vì sao lại làm ảnh hưởng tới môi trường, hay đâu là hiện tượng vật lí – hiện tượng hóa học trong các đáp án được đưa ra... Qua tổng hợp kết quả bài kiểm tra, kết hợp với tổng hợp học lực cuối năm học môn Hóa học của các em học sinh, tôi có đánh giá sơ bộ về học lực, khối lượng kiến thức các em còn ghi nhớ, và khả năng giải quyết các tính huống có liên quan đến kiến thức đã học, từ đó sẽ xây dựng và áp dụng các biện pháp tiếp theo trong suốt quá trình dạy – học trong năm học 2021 – 2022. Biện pháp 2: Liên hệ vào thực tế ở từng phần cụ thể trong nội dung của mỗi bài học. Trong nội dung kiến thức của các bài học liên quan đến tính chất hóa học của các chất, đặc biệt là ở nội dung ứng dụng của các chất, có rất nhiều kiến thức có thể sử dụng để giải thích và vận dụng vào thực tế. Đồng thời, tôi nhận thấy rằng, nếu chỉ cho các em ghi – chép, các em sẽ tiếp thu kiến thức một cách thụ động và gượng ép, từ đó ảnh hưởng tới kết quả học tập của các em trong bộ môn. Bên cạnh đó, việc bắt đầu mỗi tiết học bằng việc kiểm tra bài cũ, các em 7
  9. HS trình bày kiến thức đã học và làm một số bài tập được giao sẽ tạo cho các em có tâm lí thấp thỏm khi không thuộc hết các kiến thức của bài cũ, hoặc việc kiểm tra bài cũ cứng nhắc sẽ làm các em chán nản, không có hứng thú với bài học. Vì vậy, tôi đã xây dựng và sử dụng các câu hỏi, tình huống thực tế có vấn đề liên quan đến nội dung kiến thức của bài học để nêu ra và yêu cầu HS giải thích, kích thích trí tò mò của HS ngay từ đầu bài học. Khi HS tò mò và hào hứng hơn với việc tìm hiểu kiến thức để giải quyết các vấn đề được nêu ra ở đầu bài học, việc tiếp thu kiến thức và ghi nhớ kiến thức sẽ trở nên chủ động và tích cực hơn. Việc kiểm tra kiến thức cũ sẽ được chuyển đổi hình thức làm các bài kiểm tra ngẫu nhiên hoặc cả lớp sau một số tiết học hoặc trong các tiết ôn tập. Hoặc trong nội dung kiến thức cụ thể của từng phần bài học, tôi xây dựng và sử dụng các ví dụ, các hiện tượng trong thực tế để nêu ra ngay sau nội dung kiến thức mà HS được học. Từ kiến thức vừa học vẫn còn rất mới, các em sẽ phải liên hệ, vận dụng để giải thích vấn đề được đưa ra. Ví dụ như “Tại sao dùng vôi sống, vôi tôi lại có thể khử chua được đất?”, hay “Tại sao thạch nhũ trong các hang động được hình thành với nhiều hình dạng kì lạ?”, “Câu ca dao Lúa chiêm lấp ló đầu bờ/ Hễ nghe tiếng sấm phất cờ mà lên được giải thích như thế nào?”,... Từ đó khắc sâu hơn kiến thức, đồng thời việc các em được thảo luận, được đưa ra ý kiến của bản thân cũng giúp các em có tâm lí thoải mái hơn để tiếp tục thời lượng còn lại của tiết học. Biện pháp 3: Liên hệ thực tế bằng những mẩu chuyện lịch sử hoặc những mẩu chuyện hài hước nhằm gây hứng thú cho học sinh. HS lớp 9 đang ở độ tuổi mới lớn, các em rất hứng thú và yêu thích việc tìm hiểu những điều mới mẻ, tuy nhiên nếu không gây được ấn tượng với các em, thì các em cũng rất nhanh chán nản và bỏ qua. Dựa vào đặc điểm tâm lý này, tôi tìm hiểu và sử dụng những câu chuyện có trong lịch sử như: vua chúa thường phải thử đồ ăn bằng châm bạc để xác định có độc hay không, chất độc “thạch tín” với tên gọi “Hạc đỉnh hồng” là chất gì mà gây ra cái chết đau đớn và 8
  10. khổ sở như vậy với nhân vật trong bộ phim Trung Quốc, thám tử Sherlock Holmes đã lấy vân tay của tội phạm như thế nào? ... Việc gắn kiến thức môn Hóa học với các nhân vật nổi tiếng, các bậc vua chúa sẽ gây tò mò nhiều hơn với các em HS, thôi thúc các em tìm hiểu và chiếm lĩnh tri thức. Từ đó nâng cao năng lực vận dụng kiến thức vào giải thích và giải quyết các tình huống trong thực tế mà các em gặp phải, nhất là các tình huống hoặc hiện tượng có liên quan đến sức khỏe của bản thân và mọi người xung quanh. Biện pháp 4: Tạo điều kiện cho HS thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tế trong các hoạt động ngoại khóa. Với định hướng giáo dục theo STEM, đồng thời việc sử dụng các biện pháp được đề ra cũng hướng tới phát triển năng lực vận dụng kiến thức vào thực tế cho HS, nên ngay từ đầu năm học, tôi đã tham mưu và xin ý kiến của lãnh đạo nhà trường để có thể bố trí thời gian, tổ chức cho các em được tham gia hoạt động thực tế để vận dụng kiến thức đã học. Nội dung các hoạt động được lấy từ phần kiến thức mà HS được học, hoặc có liên quan đến môn Hóa học được GV hướng dẫn và giải thích. Ví dụ như các em được thực hành phân tích cấu tạo và cách mà “gói nổ” được bán ở ngoài cổng trường với giá rẻ có thể nổ được như pháo (liên quan đến tính chất axit tác dụng với muối cacbonat – Na 2CO3 giải phóng khí CO2 làm căng vỏ gói và phát nổ); hay các em được tự tay làm ra những mẩu giấy nghệ để thử hàn the trong giò chả sau khi được giáo viên giới thiệu về hàn the, công dụng và tác hại của hàn the với sức khỏe. Bản thân là người hướng dẫn, tổ chức và đánh giá các hoạt động của các em, tôi nhận ra rằng, sự hứng thú và hào hứng của các em được đẩy lên rất cao khi các em được tham gia các hoạt động trải nghiệm thực tế. Các em rất hào hứng và tích cực khi được tự tay làm ra những sản phẩm gắn liền với kiến thức môn học mà mình đang học, từ đó, phần kiến thức được vận dụng trong các hoạt động được khắc sâu, nhớ kĩ và luôn sẵn sàng giải quyết các hiện tượng, vấn đề có liên quan. Điều này khẳng định rằng biện pháp đã giúp nâng cao hứng thú học tập, góp phần 9
  11. nâng cao năng lực vận dụng kiến thức vào thực tế, từ đó nâng cao chất lượng dạy và học môn Hóa học. Biện pháp 5: Đưa ra các bài tập mang tính thực tế cao và gần gũi với HS. Trong chương trình hiện hành, kiểm tra và đánh giá vẫn thông qua các bài kiểm tra thường xuyên và định kì. Nên việc giải quyết các bài tập của môn học vẫn là yêu cầu then chốt để đánh giá sự tiến bộ của HS. Để các em hình thành thói quen vận dụng kiến thức vào thực tế, giúp các bài tập trở nên bớt khô khan hơn, dễ hình dung hơn, tôi đã đưa vào đề bài của các bài tập tính theo phương trình hóa học những số liệu, thông tin được lấy từ chính thực tế địa phương nơi HS sinh sống như: làng gốm Phù Lãng (việc đốt cháy than với thành phần chính là C thải ra môi trường khí CO 2), nhà máy cung cấp nước sạch Bắc Ninh (sử dụng khí clo để khử trùng, làm sạch nước), rơm rạ sau khi thu hoạch lúa còn thừa lại,... Cùng với việc các em sử dụng kĩ năng tính toán, viết phương trình hóa học để giải quyết các bài tập, các dữ liệu và thông tin đề bài đưa ra cũng chính là để các em đề ra cách giải quyết cho những vấn đề đó (trồng bao nhiêu cây xanh để giúp không khí trong lành, lượng clo có trong nước sinh hoạt ở mức nào là an toàn, rơm rạ đốt bỏ đi gây ô nhiễm không khí, khói bụi hay có thể tái sử dụng với mục đích khác,...). Việc sử dụng bài tập và đưa yếu tố vận dụng kiến thức trong thực tế vào bài tập là một việc vô cùng quan trọng và cần thiết đối với mục đích phát triển năng lực vận dụng kiến thức vào thực tế, rèn các kĩ năng đặc thù của bộ môn, và đánh giá mức độ phát triển của HS. 3. THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM - Đối tượng thực nghiệm: Lớp 9A với 37 HS. - Thời gian thực hiện: trong năm học 2021 – 2022. 10