Báo cáo Sáng kiến Một số biện pháp giúp học sinh nâng cao năng lực Tự học, tự giải quyết vấn đề trong môn toán Lớp 4, mạch kiến thức giải toán có lời văn
Bạn đang xem tài liệu "Báo cáo Sáng kiến Một số biện pháp giúp học sinh nâng cao năng lực Tự học, tự giải quyết vấn đề trong môn toán Lớp 4, mạch kiến thức giải toán có lời văn", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
bao_cao_sang_kien_mot_so_bien_phap_giup_hoc_sinh_nang_cao_na.docx
Báo cáo Sáng kiến Một số biện pháp giúp học sinh nâng cao năng lực Tự học, tự giải quyết vấn đề tron.pdf
Nội dung tài liệu: Báo cáo Sáng kiến Một số biện pháp giúp học sinh nâng cao năng lực Tự học, tự giải quyết vấn đề trong môn toán Lớp 4, mạch kiến thức giải toán có lời văn
- 2 NỘI DUNG I. PHẦN MỞ ĐẦU 1.Lý do chọn đề tài Lê - nin từng nói: “Học học nữa, học mãi”. Câu nói đó luôn có giá trị ở mọi thời đại. Đặc biệt trong xã hội ngày nay đang hướng tới nền kinh tế tri thức, nó đòi hỏi mọi người phải vận động để theo kịp sự phát triển của xã hội. Chính vì vậy mà tinh thần tự học, tự giải quyết vấn đề có vai trò vô cùng quan trọng. Trong quá trình giảng dạy, tôi nhận thấy thực tế học sinh hiện nay chưa chủ động tự học, tự giải quyết vấn đề học tập, học sinh có thói quen học thụ động, học chay, học vẹt trong quá trình học tập của mình, một số giáo viên đưa cho học sinh những bài văn mẫu, những cách giải mẫu... và học sinh chỉ biết áp dụng theo chứ không có sự tư duy tự học trong môn học. Vì vậy tôi muốn đưa ra một số biện pháp giúp học sinh năng cao năng lực giải toán: Tìm hai số khi biết tổng và hiệu của hai số đó cho học sinh lớp 4. Vậy tại sao, tự học, tự giải quyết vấn đề là cần thiết đối với học sinh nói chung và đối với học sinh Tiểu học nói riêng. Tự học giúp ta nhớ lâu và vận dụng kiến thức đã học một cách hữu ích và thực tiễn. Không những thế tự học còn giúp con người không ỷ lại không phụ thuộc vào người khác. Từ đó biết tự bổ sung những khiếm khuyết của mình để tự hoàn thiện bản thân. Tự học là con đường ngắn nhất và duy nhất để hoàn thiện bản thân và biến ước mơ thành hiện thực. Học sinh có ý thức tự học, tự giải quyết vấn đề sẽ có tinh thần chủ động và tự tin trong cuộc sống. Tự học, tự giải quyết vấn đề giúp chúng ta lĩnh hội tri thức một cách chủ động hứng thú. Chính vì vậy nhận thức rõ được yêu cầu thiết thực của nhà trường là mong muốn trườngmình có chất lượng môn toán sánh vai cùng các trường
- 3 bạn trên thành phố cũng như tầm quan trọng của tự học, tự giải quyết vấn đề ở môn Toán.Tôi mạnh dạn đưa ra biện pháp: “Một số biện pháp nâng cao năng lực tự học, tự giải quyết vấn đề trong môn toán lớp 4, mạch kiến thức giải toán có lời văn." Trong phạm vi đề tài, tôi xin đưa ra một số cách khắc phục qua đó làm cho các em có hứng thú học tập, nâng cao năng lực tự học, tự giải quyết vấn đề trong môn toán lớp 4, mạch kiến thức giải toán có lời văn đáp ứng mục tiêu giáo dục hiện nay. 2. Mục đích nghiên cứu Chia sẻ một số kinh nghiệm giảng dạy môn toán với các đồng nghiệp, góp phần phát triển năng lực cho học sinh và nângcao chất lượng môn Toán riêng, chất lượng giáo dục toàn diện nói chung, làm thay đổi thói quen dạy học thụ động, thiếu sáng tạo trong một bộ phận giáo viên Tiểu học hiện nay. Giúp học sinh phát triển năng lực tự học, tự giải quyết vấn đề thông qua việc giải toán có lời văn. 3. Nhiệm vụ nghiên cứu Tôi tìm ra những hạn chế, nguyên nhân học sinh không có khả năng tự học, tự giải quyết các vấn đề trong học tập môn toán: Tìm hai số khi biết tổng và hiệu của hai số đó. Từ đó tìm ra những biện pháp khắc phục những hạn chế, nguyên nhân trên để giúp học sinh nâng cao năng lực tự học, tự giải quyết vấn đề học tập trong môn toán lớp 4, dạng toán: Tìm hai số khi biết tổng và hiệu của hai số đó. 4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu Nghiên cứu về nội dung, phương pháp dạy học toán lớp 4, mạch kiến thức giải toán có lời văn, dạng toán: Tìm hai số khi biết tổng và hiệu của hai số đó. Nghiên cứu về học sinh lớp 4A1, lớp tôi giảng dạy năm học 2021-2022. 5. Phương pháp nghiên cứu Phương pháp điều tra, khảo sát, thu thập thông tin để nắm bắt thực trạng. Phương pháp thực nghiệm: Tiến hành vào giảng dạy tại lớp 4A1.
- 4 Phương pháp thống kê xử lí số liệu: Thống kê để nắm bắt theo dõi những chuyển biến sau khi áp dụng đề tài. II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở lý luận Trong quá trình nghiên cứu đề tài này, tôi đã căn cứ vào một số văn bản sau: Căn cứ vào thông tư 30/2014/TT-BGDĐT của Bộ GD&ĐT. Đánh giá học sinh theo định hướng năng lực, phẩm chất (Năng lực tự học, tự giải quyết vấn đề, ... Căn cứ vào thông tư 22 của Bộ Giáo dục về đánh giá học sinh Tiểu học. Căn cứ vào kế hoạch thực hiện nhiệm vụ năm học, dạy học chuyển từ tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực. 2. Cơ sở thực tiễn Qua 28 năm công tác dạy học, dự giờ thăm lớp, trao đổi kinh nghiệm dạy học với các đồng nghiệp, qua tìm hiểu sách giáo khoa, tài liệu tham khảo, qua kinh nghiệm thực tế dạy học môn Toán nói chung và dạng bài: “Tìm hai số khi biết tổng và hiệu của hai số đó.” nói riêng, tôi nhận thấy: 2.1. Đối với giáo viên Các giáo viên hầu hết thường áp dụng một số phương pháp dạy học chủ yếu là: Phương pháp thuyết trình, giảng giải, không sử dụng đồ dùng trực quan. Trong giờ dạy giáo viên chưa tạo cơ hội cho học sinh được trình bày trước lớp, chưa giao nhiệm vụ phù hợp tới từng học sinh, chưa quan tâm nhiều đến học sinh. Không những vậy, giáo viên còn chỉ quan tâm đến em học sinh khá giỏi nên các em học sinh học yếu, chậm tiếp thu gần như bị lãng quên. 2.2. Đối với học sinh Lớp học trầm, một số rất ít biết làm bài, học sinh chỉ biết áp dụng máy móc, thụ động kiến thức của giáo viên. Học sinh rụt rè khi nêu ý kiến của mình trước lớp. Học sinh chưa chăm học, thường ngồi chơi, nói chuyện riêng trong khi học. Học sinh lúng túng trong việc phân tích bài toán, không nhận
- 5 diện được dạng toán. Học sinh không biết tóm tắt bài toán, lúng túng nêu câu lời giải. Một số em làm đúng nhưng khi cô hỏi lại không biết trả lời. Điều đó chứng tỏ các em chưa nắm vững bản chất và cách giải bài toán. Do vậy cách làm này giờ học toán của các em chưa đạt hiệu quả đến thời điểm hiện tại. Vậy nên tôi đã tiến hành khảo sát. 2.3. Kết quả khảo sát bài làm của học sinh. Bài toán: Tổng số tuổi của hai anh em là 25 tuổi. Anh hơn em 5 tuổi. Tính tuổi mỗi người? Em Nguyễn Gia Hưng - Không nhận diện được dạng toán Em Nguyễn Khánh Linh - Viết lời giải chưa phù hợp với phép tính
- 6 Em Nguyễn Khánh Ngọc - Tính kết quả chưa chính xác Thực trạng trên được thể hiện rõ trong kết quả khảo sát của học sinh như sau: Viết lời giải Không nhận Tính kết quả Sĩ chưa phù Làm bài Lớp diện được dạng chưa chính số hợp với phép đúng toán xác tính SL % SL % SL % SL % 4A1 39 5 12,82 5 12,82 3 7,69 26 66,67 2.4. Nguyên nhân của thực trạng Học sinh chưa phân tích kĩ nội dung, yêu cầu của bài toán. Học sinh chưa xác định được dạng toán. Học sinh còn chưa tìm được câu trả lời phù hợp với phép tính. Học sinh thiếu đồ dùng trực quan khi học tập. Học sinh không hiểu các thuật ngữ toán học khi biết trung bình cộng hai số, hoặc biết chu vi của hình chữ nhật nên làm phép tính gì để tìm tổng hai số dẫn đến làm bài chưa đúng. Do giáo viên chưa quan tâm đến tất cả các đối tượng học sinh, cha mẹ học sinh chưa quan tâm kịp thời tới các con, việc học của các con còn phó mặc cho giáo viên ở trường. Vì vậy dẫn đến tác hại rất lớn học sinh không tiếp thu được bài, chán học, học đối phó, việc học trở thành việc ép buộc, làm giờ học căng thẳng với học sinh.
- 7 Chính vì vậy việc đổi mới một số biện pháp giải toán có lời văn ở lớp 4 nói chung và dạng toán: Tìm hai số khi biết tổng và hiệu của hai số nói riêng là một việc rất cần thiết mà mỗi giáo viên cần phải nâng cao chất lượng giải toán cho học sinh. Với mong muốn giúp học sinh giải tốt dạng toán này, tôi xin chia sẻ một vài biện pháp giúp học sinh lớp 4 nâng cao nâng lực tự học, tự giải quyết vấn đề trong môn Toán lớp 4, mạch kiến thức gải toán có lời văn "Tìm hai số khi biết tổng và hiệu của hai số đó". 3. Các biện pháp 3.1. Biện pháp 1: Giáo viên tạo hứng thú cho học sinh - Trong quá trình dạy học, tôi luôn hướng dẫn và cho học sinh sử dụng đồ dùng học tập, khi đó các em sẽ tự tay mình thực hiện trên vật thật. Các em sẽ tìm ra đáp số một cách nhanh nhất. - Tổ chức các hình thức học tập sinh động như trò chơi, đưa các bài toán lồng vào trong các nội dung thực tế hàng ngày, đọc cho các em nghe, khuyến khích các em tìm ra cách giải. - Hình thành nhóm cộng tác để các em giúp đỡ, động viên nhau trong học tập. * Từ những việc làm trên, tôi đã nhận thấy sự thay đổi rõ rệt trong thái độ của các em đối với môn học. Các em đã yêu thích môn toán và thực sự muốn thử sức mình qua những bài toán có lời văn. 3.2. Biện pháp 2: Gợi mở học sinh phân tích và nhận dạng bài toán Mục đích phân tích bài toán là để sàng lọc, loại bỏ những yếu tố thừa hoặc không cơ bản trong bài toán. Đối với các bài toán các em gặp, nhìn chung các em chỉ nhận biết về dạng bài, chưa đọc kĩ, chưa tìm hiểu kĩ yêu cầu của đề toán, chưa biết phân tích, sàng lọc các yếu tố cơ bản đã cho trong đề toán nên khi gặp các bài toán cho ngược lại với dạng toán đã học, các em lúng túng cho là mới lạ. Do vậy trong giảng dạy giải toán có lời văn, trước tiên, tôi yêu cầu học sinh phải phân tích, tổng hợp dạng toán cụ thể như sau: - Đọc đề toán 2-3 lần (Nếu chưa hiểu có thể đọc nhiều lần, trao đổi với bạn)
- 8 - Nắm được: Bài toán cho biết gì? Bài toán hỏi gì? (Có thể tóm tắt bài toán bằng sơ đồ đoạn thẳng hoặc bằng lời ngắn gọn). Từ đó có thể nhận dạng bài toán. - Phân tích dạng toán, dựa trên các dữ kiện của bài để nhận dạng bài toán hoặc đưa bài toán về dạng đã học. + Loại 1: Bài toán cho biết tổng và hiệu của hai số. Ví dụ: Lớp 4A1 có 32 học sinh. Số học sinh nữ nhiều hơn số học sinh nam 4 em. Hỏi lớp 4A1 có bao nhiêu học sinh nữ, bao nhiêu học sinh nam? *Phân tích: Trong bài toán này tổng là 32 học sinh còn hiệu là 4 học sinh nên học sinh chỉ việc áp dụng công thức để làm bài. + Loại 2: Bài toán cho biết tổng nhưng ẩn hiệu của hai số. Ví dụ: Tổng của hai số là 50. Hiệu của hai số là số chẵn lớn nhất có một chữ số. Tìm hai số đó. *Phân tích: Trong bài toán này tổng của hai số là 50 nhưng hiệu của hai số chưa biết nên học sinh phải tìm hiệu trước (là số chẵn lớn nhất có một chữ số) sau đó rồi mới áp dụng công thức để làm bài. + Loại 3: Bài toán cho biết hiệu nhưng ẩn tổng của hai số. Ví dụ: Chu vi của một hình chữ nhật bằng 100cm. Biết chiều dài hơn chiều rộng 10cm. Tính chiều dài và chiều rộng của hình chữ nhật đó. *Phân tích: Trong bài toán này hiệu chiều dài và chiều rộng là 10cm nhưng tổng của của chúng chưa biết vì vậy học sinh phải tìm tổng thông qua chu vi của hình chữ nhật rồi mới áp dụng công thức để làm bài. + Loại 4: Bài toán ẩn cả tổng và hiệu của hai số.(Là loại bài khó nhất) Ví dụ: Một dãy phố gồm có 20 số nhà được đánh từ các số chẵn liên tiếp tăng dần. Biết tổng của 20 số nhà bằng 900. Hỏi nhà đầu tiên trong dãy phố đó là nhà số bao nhiêu? *Phân tích: Trong bài toán này tổng và hiệu của số nhà đầu tiên và số nhà cuối cùng chưa biết vì vậy học sinh cần tìm tổng và hiệu của số nhà đầu
- 9 tiên và nhà cuối cùng thì mới có thể áp dụng công thức để tìm số nhà của nhà đầu tiên trong dãy phố đó. Như vậy, các bước phân tích trên giúp các em loại bỏ những yếu tố về lời văn, che đậy bản chất bài toán đã làm các em hoang mang, rối trí. Từ đó các em nhận biết đúng dạng toán để các em giải đúng được các bài toán. Việc rèn khả năng phân tích bài toán cần làm thường xuyên, kiên trì trong thời gian dài. Lúc đầu ta phải chấp nhận các em làm chậm, hình thành kĩ năng. Sau đó tăng dần tốc độ 5 phút - 3 phút - 2 phút - 1 phút. Sau khi học sinh có kĩ năng phân tích tốt bài toán thì việc giải bài toán trở nên thuận tiện, nhẹ nhàng và hiệu quả hơn rất nhiều. 3.3. Biện pháp 3: Giáo viên cần quan tâm đến tất cả các đối tượng học sinh. + Đối với học sinh nhận thức chậm, tính nhầm: Giáo viên ra bài tập phù hợp ở mức 1, 2 nâng dần ở mức 3. Giáo viên có câu hỏi gợi mở phù hợp, dùng phương pháp nhóm cộng tác trong giờ dạy, hoặc đôi bạn cùng tiến nhằm giúp các bạn tham gia vào việc học tập tích cực hơn. + Đối với học sinh trung bình: Giáo viên ra bài tập phù hợp ở mức 1, 2, 3 có thể nâng dần ở mức 4. Giáo viên gợi mở học sinh có thể tìm nhiều câu trả lời cho một phép tính. Học sinh tự hoàn thành bài tập. Sau đó học sinh tự trình bày bải giải trước lớp. + Đối với học sinh khá giỏi: Giáo viên ra bài tập phù hợp ở mức 1, 2, 3, 4. Đồng thời gợi mở học sinh có thể đặt đề toán ở mức 1, 2, 3 cho các bạn trong lớp cùng làm. Giáo viên khuyến khích học sinh tìm ra nhiều cách giải trong một bài toán. Qua việc giảng dạy, quan tâm đến từng đối tượng học sinh, tôi nhận thấy cần điều chỉnh phương pháp dạy học phù hợp tới từng đối tượng học sinh nhất là học sinh khá, giỏi. Vào cuối mỗi tiết học, tôi thường ra thêm một số bài luyện tập, mở rộng thêm một số cách giải toán nhằm phát huy lòng ham mê học toán, sự tư duy và trí sáng tạo cho các em.
- 10 Ví dụ 1: Hà và Nam có tất cả 20 viên bi. Sau khi Hà cho Nam 2 viên bi thì số bi lúc này của hai bạn bằng nhau. Hỏi lúc đầu mỗi bạn có bao nhiêu viên bi? Đối với bài toán này, sau khi đọc đề bài, nhiều em sẽ bị lúng túng vì các em đã biết tổng là 20, các em sẽ loay hoay đi tìm hiệu hai số để đưa bài toán về dạng: “Tìm hai số khi biết tổng và hiệu của hai số.” Ngoài cách giải đó, tôi dùng câu hỏi gợi mở: Dựa và kết quả sau cùng “bằng nhau”. Từ đó học sinh sẽ tìm thêm được cách giải khác ngắn gọn hơn. Thông qua đó, giúp học sinh tư duy lí luận và trình bày bài giải sáng sủa hơn. Bài giải Cách 1: Hà hơn Nam số viên bi là: 2 + 2 = 4 (viên bi) Số bi của Hà là: (20 + 4) : 2 = 12 (viên bi) Số bi của Nam là: 20 – 12 = 8 (viên bi) Đáp số: Hà: 12 viên bi; Nam: 8 viên bi. Cách 2: Sau khi Hà cho Nam thì mỗi bạn có số viên bi là: 20 : 2 = 10 (viên bi) Hà có số viên bi là: 10 + 2 = 12 (viên bi) Nam có số viên bi là: 10 – 2 = 8 (viên bi) Đáp số: Hà: 12 viên bi, Nam: 8 viên bi 3.4.Biện pháp 4: Động viên khen thưởng học sinh kịp thời. Trong quá trình dạy học, giáo viên cần động viên, khen thưởng học sinh kịp thời nhằm tạo hứng thú cho các em. Trong mỗi buổi học, tiết học giáo viên dùng lời nhận xét để khích lệ tinh thần học tập của các em, sau mỗi tuần hoặc tháng hay sau mỗi đợt thi đua giáo viên có thể dùng những món quà nhỏ nhưng mang ý nghĩa lớn để động viên các em. III. KẾT QUẢ VÀ ỨNG DỤNG 1. Kết quả thu được Sáng kiến kinh nghiệm của tôi không có gì là to tát, những biện pháp tôi đã làm cũng rất đỗi bình thường mà tôi đã áp dụng thử nghiệm ở lớp 4A1 năm học 2021- 2022. Nhưng kết quả đạt được lại rất khả quan. Rõ ràng từ
- 11 việc áp dụng các biện pháp như trên, tôi thấy chất lượng học sinh dần dần được nâng cao. Học sinh đã tự giác, hứng thú, chủ động, tích cực tham gia các hoạt động học tập. Các em không rụt rè, tự ti như trước nữa, chất lượng học sinh ngày một tiến bộ do trình độ nhận thức của các em ngày một nâng cao, các em tích cực phát biểu xây dựng bài, hứng thú và ham thích học toán. Các em còn có ý thức tự học tuyệt vời. Điều đó làm tôi rất vui mừng và vơi đi những vất vả, mệt nhọc. Tình cảm thầy - trò, bạn bè ngày càng gắn bó và thân thiện hơn. Kết quả ở đầu năm học 2021 - 2022 chưa áp dụng những kinh nghiệm trên thì lớp tôi đạt một số kết quả như sau: Viết câu trả Không nhận Sĩ lời không Tính sai kết Làm bài Lớp diện được dạng số phù hợp với quả đúng toán phép tính SL % SL % SL % SL % 4A1 39 5 12,82 5 12,82 3 7,69 26 66,67 Qua quá trình vừa nghiên cứu vừa áp dụng vào thực tế giảng dạy lớp 4A1 năm học 2021-2022, tôi nhận thấy rằng những phương pháp dạy học mà tôi áp dụng đã có những kết quả đáng vui mừng và phấn khởi. Kết quả mà tôi thu được cuối năm học chính tại lớp học đó như sau : Viết câu trả Không nhận Sĩ lời không Tính sai kết Làm bài Lớp diện được dạng số phù hợp với quả đúng toán phép tính SL % SL % SL % SL % 4A1 39 0 0 0 0 0 0 39 100 *Sản phẩm được tạo ra từ giải pháp: Học sinh phát triển năng lực tự học, tự giải quyết vấn đề, hứng thứ học tập môn Toán, chất lượng môn Toán được năng lên rõ rệt.

