Báo cáo Sáng kiến Một số biện pháp giáo dục tính tự lập cho trẻ 4 – 5 tuổi

docx 17 trang Chăm Nguyễn 17/02/2026 100
Bạn đang xem tài liệu "Báo cáo Sáng kiến Một số biện pháp giáo dục tính tự lập cho trẻ 4 – 5 tuổi", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docxbao_cao_sang_kien_mot_so_bien_phap_giao_duc_tinh_tu_lap_cho.docx

Nội dung tài liệu: Báo cáo Sáng kiến Một số biện pháp giáo dục tính tự lập cho trẻ 4 – 5 tuổi

  1. Ban giám hiệu nhà trường luôn quan tâm giúp đỡ, khuyến khích sự tìm tòi, sáng tạo của giáo viên, luôn tạo điều kiện về cơ sở vật chất, mua sắm các trang thiết bị và phương tiện thực hiện các hoạt động của trẻ. Trường, lớp đầy đủ trang thiết bị và đồ dùng cần thiết phục vụ cho các hoạt động, phòng học rộng rãi, thoáng mát, đủ ánh sáng Trẻ có cùng độ tuổi, ham hiểu biết, thích khám phá tìm tòi những điều mới lạ hấp dẫn Là một giáo viên có trình độ đai học, trực tiếp giảng dạy, có nhiều thời gian tiếp xúc với trẻ, nhiệt tình, yêu nghề, mến trẻ, bản thân tôi thường xuyên tham gia đầy đủ các buổi tập huấn chuyên môn và thăm lớp dự giờ đồng nghiệp tích lũy được kinh nghiệm trong việc giáo dục nâng cao tính tự lập cho trẻ Phụ huynh luôn giúp đỡ, trao đổi thường xuyên về trẻ nên tôi có cơ hội tìm hiểu kỹ hơn về trẻ. 1.2. Tồn tại, hạn chế và nguyên nhân 1.2.1. Về phía giáo viên Tư liệu, tài liệu để giáo viên tham khảo và bổ trợ cho việc dạy kỹ năng sống còn hạn chế 1.2.2. Về phía trẻ Đa số trẻ chưa có kỹ năng trong các hoạt động tự phục vụ bản thân. Một số trẻ được nuông chiều từ nhỏ nên có thói quen ỷ lại, dựa dẫm vào người khác nên khả năng tự lập của trẻ còn hạn chế 1.2.3. Về phía phụ huynh Một số phụ huynh chưa nhận thức đúng tầm quan trọng của việc giúp trẻ tự lập sớm, chưa đánh giá hết được khả năng của trẻ và cho rằng trẻ còn nhỏ người lớn cần giúp đỡ trẻ trong mọi công việc, phụ huynh đi làm ăn xa, không có thời gian quan tâm đến trẻ, nhiều trẻ chủ yếu ở ông bà dẫn đến khi đến lớp trẻ ỷ lại vào cô giáo, bạn bè.
  2. Nhiều phụ huynh thường quan tâm tới học số, học vẽ, học hát, học các bài thơ mà ít quan tâm đến giáo dục tính tự lập cho trẻ 1.2.4. Về phía nhà trường Các đồ dùng đồ chơi chuẩn bị cho các hoạt động cho trẻ thường là một khung có sẵn cho cả một năm, một vài chủ điểm, đôi khi có thay mới đồ dùng đồ chơi cho trẻ nhưng số lượng chưa được nhiều, chưa đầy đủ, chưa phù hợp 2. Các biện pháp thực hiện Từ những nhận thức của mình về vấn đề giáo dục tính tự lập cho trẻ mẫu giáo, tôi định hướng được nhiệm vụ của mình trong công việc nghiên cứu này. Để đạt được kết quả tốt trong quá trình thực hiện, ngay từ đầu năm học tôi đã tiến hành khảo sát trên 33 trẻ lớp mình kết quả như sau: STT Nội dung khảo sát Tổng số Đạt Chưa đạt trẻ Số trẻ Tỉ lệ Số trẻ Tỉ lệ 1 Kỹ năng tự phục vụ bản thân 33 11 33% 22 67% 2 Kỹ năng giữ gìn vệ sinh 33 14 42% 19 58% 3 Kỹ năng hỗ trợ người khác 33 10 30% 23 70% Qua khảo sát tôi thấy đa số trẻ lớp tôi còn chưa biết cách tự phục vụ bản thân, chưa có ý thức giữ gìn vệ sinh thân thể, đặc biệt kỹ năng hỗ trợ người khác còn rất hạn chế. Từ kết quả trên tôi đã nghiên cứu các biện pháp cụ thể để giáo dục tính tự lập cho trẻ như sau 2.1. Biện pháp 1: 2.1.1. Nội dung biện pháp: Nghiên cứu và lựa chọn kỹ năng cần thiết để rèn cho trẻ.
  3. 2.1.2. Cách thức, quá trình áp dụng biện pháp. Ngay từ đầu năm học tôi đã đặt ra mục tiêu dể rèn luyện các kỹ năng cho trẻ lớp mình như sau: Kỹ năng tự phục vụ bản thân: Tự cởi và mặc quần áo, rửa mặt, rửa tay, tự đi dép, tự cất dép, tự cất đồ dùng cá nhân khi đến lớp và tự lấy khi ra về, tự lấy và cất chăn gối, tự cất đồ chơi sau khi chơi song Kỹ năng giữ gìn vệ sinh: Tự thay quần áo khi thấy bẩn, tự xả nước sau khi đi vệ sinh, đi vệ sinh đúng nơi quy định, biết tự đi vệ sinh khi có nhu cầu, rửa tay bằng xà phòng khi tay bẩn, nhặt rác,bỏ rác đúng nơi quy định Kỹ năng hỗ trợ người khác: Lấy, cất đồ dùng học tập, chuẩn bị bàn ăn, giường ngủ cùng cô 2.2. Biện pháp 2 2.2.1. Nội dung biện pháp: Tổ chức tập luyện cho trẻ các công việc tự phục vụ vừa sức thông qua các hoạt động sinh hoạt hàng ngày: 2.2.2. Cách thức, quá trình áp dụng biện pháp Khi lên 4 tuổi trẻ thích được tìm hiểu các sự vật, hiện tượng xung quanh, trẻ muôn tự làm mọi việc để khẳng định mình, vì vậy tôi luôn tôn trọng và thỏa mãn nhu cầu tự lập của trẻ kết hợp sử dụng phương pháp động viên khích lệ trẻ: Ví dụ: Khi đến lớp tôi thấy trẻ rất thích được tự cởi giày dếp và tự xếp lên giá, dù mỗi lần trẻ làm công việc đó rất lâu và xếp chưa ngay ngắn, những lần như vậy tôi luôn đứng bên cạnh chờ đợi kết hợp động viên trẻ để trẻ biết tự cởi giày đẹp và xếp lên giá ngay ngắn, gọn gàng
  4. Hình 1: Bé tự xếp dép lên giá Khi trẻ mới đến lớp tôi hướng dẫn trẻ gấp quần áo, mũ, khăn... gọn gàng bỏ vào balô cất đúng ngăn tủ, trước khi ra về trẻ tự kiểm tra lại đồ dùng của mình, sau một, hai lần
  5. tôi nhắc nhở và ngày nào trẻ cũng được thực hành các thao tác đó nên sau 5 tháng trẻ biết cất và lấy đồ dùng rất thành thạo và không cần đến sự giúp đỡ của cô giáo nữa Hình 2: Bé tự cất balo đúng ngăn tủ của mình Để giúp trẻ thực hiện được các kỹ năng tự phục vụ một cách hào hứng và nhớ lâu tôi đã kết hợp lồng ghép các bài thơ, bài hát có ý nghĩa giáo dục vệ sinh để trẻ dễ dàng thực hiện các kỹ năng đó Ví dụ: Trước giờ ăn tôi cho trẻ hát bài “Rửa tay” thời gian đầu năm tôi vừa làm mẫu vừa kết hợp phân tích các kỹ năng cần thiết, sau tôi cho trẻ tự làm, chỉ nhắc nhở bằng lời đối với những trẻ nhút nhát và tôi cho trẻ thường xuyên thực hành các kỹ năng đó Để rèn luyện cho trẻ tập làm và trải nghiệm công việc vừa sức tôi nhờ trẻ giúp đỡ cô một số công việc như: Xếp, kê bàn ăn, xếp giường ngủ, tự gấp chăn sau khi ngủ dậy Ví dụ: Lớp tôi có trẻ rất thích giúp cô chia thìa vào từng bát cơm cho các bạn, tôi liền nhờ trẻ giúp cô làm công việc đó, có khi loay hoay làm rơi hết thìa xuống sàn, mỗi lần như vậy tôi không tỏ ra khó chịu mà nhẹ nhàng hướng dẫn động viên trẻ, nên giờ trẻ làm rất thành thạo và trẻ nào cũng muốn được giúp cô. Có lần tôi phát hiện cháu Dung, Ngọc rất thích bê cơm vào bàn cho bạn giúp cô giáo, thấy vậy tôi nói với cháu “Con sẽ giúp cô bê cơm vào cho các bạn nhé” thấy cô giáo nhờ như vậy cháu rất vui và ra làm cùng cô, cứ như vậy hằng ngày tôi đều hỏi trẻ “Ai muốn giúp cô chia thìa, hay chia cơm vào bàn cho các bạn?” rất nhiều trẻ xung phong muốn làm giúp cô, để trẻ nào cũng
  6. được làm mỗi ngày tôi nhờ một nhóm trẻ khác nhau giúp mình. Sau khi ăn trẻ nào cũng đã biết xếp bát thìa của mình bỏ vào rổ, nhặt thức ăn rơi vãi thu gom thức ăn thừa, sau đó tôi nhắc trẻ cất ghế, rồi tự đi lau miệng, uống nước.
  7. Hình 3: Bé giúp cô chuẩn bị bàn ăn Tôi tận dụng giờ đi ngủ tập cho trẻ chuẩn bị giường ngủ, cho trẻ lấy chăn, gối của mình sắp xếp ở vị trí nằm, và khi ngủ dậy tập cho trẻ thói quen tự gấp chăn, cất gối, chăn vào nơi quy định, có trẻ còn biết giúp cô trải giường, xếp giường. Hình 4: Bé cùng cô kê xếp giường ngủ 2.2.3. Kết quả áp dụng biện pháp: Trẻ biết lấy gối, chăn, xếp giường, cất gối, chăn, giường cùng cô. Trẻ biết giúp cô chia bát, thìa, chuẩn bị bàn ăn Trẻ biết tự rửa tay, rửa mặt, đi vệ sinh Trẻ biết tự mặc, cởi quần áo, đi, tháo giày dép, quàng khăn, đội mũ 2.3. Biện pháp 3: 2.3.1. Nội dung biện pháp: Tổ chức lồng ghép giáo dục tính tự lập vào hoạt động học. 2.3.2. Cách thức, quá trình áp dụng biện pháp Ở lứa tuổi này trẻ nhanh nhớ nhưng cũng mau quên, vì vậy tính tự lập của trẻ được trải nghiệm qua các hoạt động, trong sinh hoạt hàng ngày ở gia đình và nhà trường, trẻ 4 - 5 tuổi đã có khả năng làm một số công việc đơn giản và luôn muốn chứng tỏ khả năng của mình, đối với hoạt động cần đến đồ dùng của trẻ, tôi chỉ chuẩn bị đồ dùng đặt sẵn trên bàn và cho trẻ tự lên lấy đồ dùng học tập và về chỗ ngồi của mình, kết thúc tiết học tôi cũng cho trẻ tự cất đồ dùng học tập đúng nơi quy định
  8. Ví dụ: Trong giờ học tạo hình cần đến vở tạo hình và hộp màu tôi nhờ 1 số trẻ chuẩn bị giúp cô, sau khi học song tôi cũng cho trẻ cất đồ dùng về đúng vị trí Hình 5: Bé tự cất đồ dùng học tập Trong các tiết học tôi luôn động viên, khuyến khích trẻ mạnh dạn, tự tin, biết hoạt động độc lập, trẻ hứng thú, tích cực hoạt động hơn, vận động nhanh nhẹn hơn,hoạt bát hơn, trẻ chủ động trong mọi hoạt động không ỉ lại vào người khác Ví dụ: Giờ học âm nhạc: Tôi dạy trẻ hát bài “Vui đến trường” giáo dục trẻ biết đánh răng, rửa mặt, thay quần áo, chuẩn bị đồ dùng trước khi lên lớp. Ví dụ: Giờ học khám phá chủ đề bản thân “Các bộ phận trên cơ thể bé” tôi giúp trẻ biết giữ gìn vệ sinh cơ thể, biết rửa mặt, đánh răng, biết thay quần áo gọn gàng, sạch sẽ Ví dụ: Giờ văn học, bài thơ “Mèo đi câu cá” tôi dạy trẻ biết chăm chỉ lao động, tự phục vụ cho bản thân. 2.2.3. Kết quả áp dụng biện pháp: Được tự lấy đồ dùng học tập như vậy tôi thấy trẻ rất tích cực, hứng thú học và muốn khám phá xem mình học được gì ở đồ dùng đó. Qua đó tôi còn rèn luyện cho trẻ thói quen ngăn nắp, gọn gàng, lấy đâu cất đấy 2.4. Biện pháp 4: 2.4.1. Nội dung biện pháp: Lồng ghép giáo dục tính tự lập vào hoạt động vui chơi. 2.4.2. Cách thức, quá trình áp dụng biện pháp Là giáo viên mầm non chắc hẳn ai cũng biết mỗi khi đến giờ hoạt động góc, hoạt động ngoài trời trẻ đều tỏ ra thích thú nhất. Khi tổ chức cho trẻ chơi ở giai đoạn đầu tôi hướng
  9. dẫn tỉ mỉ, cẩn thận, không nôn nóng, chủ động tham gia chơi với trẻ trong các trò chơi, tạo tình huống cho trẻ chơi. Ví dụ: Trước khi chơi tôi thường hỏi trẻ “Hôm nay các con chơi với những đồ dùng gì? “Trước khi kết thúc trò chơi các con nên làm gì?” tôi gợi ý để trẻ tự chọn góc chơi, vai chơi mà trẻ thích, hướng dẫn trẻ cách sử dụng đồ chơi, tôi quan sát, tạo ra các tình huống để trẻ tự giải quyết, tôi chơi cùng trẻ giúp trẻ khám phá những điều mới lạ, hấp dẫn khi hết giờ chơi tôi cho trẻ tự cất đồ chơi ở các góc mà trẻ chơi, ngăn nắp, gọn gàng động viên, khuyến khích trẻ để giờ sau trẻ chơi tốt hơn . Từ những giai đoạn sau tôi không can thiệp sâu vào trò chơi của trẻ mà để trẻ bộc lộ khả năng tự lập của mình. Khi cùng trẻ thực hiện các hoạt động tôi thường giải thích cho trẻ hiểu ý nghĩa tác dụng của từng hoạt động, từ đó trẻ sẽ hiểu và làm theo cô, dần dần các hoạt động đó sẽ trở thành kỹ năng giúp trẻ thực hiện hoạt động một cách tự nguyện mà không có cảm giác ép buộc, sai khiến, trẻ cảm thấy vui vì làm được những việc giống như cô dạy. Tôi thường xuyên tổ chức cho trẻ tham gia một số hoạt động như: Nhặt lá rụng sân trường, nhặt rác bỏ vào thùng rác, nhổ cỏ, tưới nước cho cây tôi chia trẻ ra thành các nhóm nhỏ cho trẻ tự chọn công việc mà mình thích mỗi nhóm 5-6 trẻ, nếu trong quá trình trẻ thực hiện tôi quan sát thấy trẻ nào còn lúng túng thì tôi lại gần hướng dẫn và cùng làm với trẻ trò chuyện với trẻ về mục đích, ý nghĩa và công việc trẻ đang làm từ đó trẻ thêm hiểu và yêu quý cây xanh, yêu thiên nhiên, biết giữ gìn bảo vệ môi trường xanh - sạch - đẹp khi trẻ làm tốt công việc được giao cô tuyên dương, khen ngợi, trẻ cảm thấy hứng thú, tự tin hơn và từ đó thích tham gia vào các hoạt động tập thể của lớp hơn. 2.4.3. Kết quả áp dụng biện pháp: Trẻ biết cất đồ dùng khi chơi song. Trẻ hứng thú, tự tin tham gia vào các hoạt động 2.4. Biện pháp 5:
  10. 2.5.1. Nội dung biện pháp: Tuyên truyền, phối hợp với phụ huynh cùng giáo dục tính tự lập cho trẻ 2.5.2. Cách thức, quá trình áp dụng biện pháp Thời gian trẻ ở trường nhiều hơn trẻ ở nhà. Những bài học trẻ học được ở trường giúp trẻ phát triển đúng yêu cầu ở độ tuổi, giúp trẻ phát triển toàn diện cả về thể chất, tinh thần, nhận thức, giúp trẻ mạnh dạn, tự tin, giúp trẻ chủ động tích cực khi tham gia các hoạt động cùng cô giáo và các bạn Tôi luôn tuyên truyền cho phụ huynh hiểu thế nào là cho trẻ tự lập, tự làm những việc trong khả năng của trẻ, bố mẹ chỉ là người làm mẫu và hướng dẫn không nên làm giúp trẻ, hay khi trẻ đã biết làm thì người lớn nên động viên khuyến khích trẻ, cho trẻ rèn luyện tính tự lập đó nhiều lần để trở thành các kỹ năng cần thiết trong cuộc sống của trẻ. Ví dụ: Tôi thấy một số trẻ lớp tôi rất được bố mẹ nuông chiều không bao giờ tự làm việc gì, đến lớp thì đợi cô giáo và các bạn giúp đỡ, tôi đã trò chuyện, tuyên truyền cho họ về các phương pháp giáo dục tính tự lập cho trẻ để phụ huynh có thể áp dụng tại gia đình.Tôi gợi ý cho phụ huynh một số biện pháp rèn tính tụ lập cho trẻ ở nhà như sau: Khi trẻ ăn, để hạn chế rơi vãi các con bôi bẩn lung tung, thì trải một tấm thảm trên bàn, thực phẩm cũng luôn cắt gọn để trẻ có thể tự xúc mà không gặp rắc rối. Trên bàn ăn, cần đặt một chiếc khăn ướt để trẻ có thể học theo người lớn tự vệ sinh cho sạch. Bồn rửa mặt và đánh răng quá cao thì sẽ thiết kế một chiếc ghế để con trèo lên. Quần áo nhiều cúc con chưa biết cởi thì sẽ thiết kế những loại khoá kéo hoặc cúc bấm đơn giản để con có thể tự mặc quần áo. Về giày dép, luôn có một hoạ tiết nhỏ để con biết phân biệt giày trái – phải mà tự đi đúng chân. Ở nhà muốn con biết tự cất đồ chơi thì cha mẹ sẽ làm một vài chiếc giỏ, trên đó dán đề can hiển thị loại đồ chơi được phép bỏ vào giỏ để trẻ hiểu qui tắc mà phân loại, cất giữ đúng chỗ...
  11. Bắt đầu từ những việc đơn giản và tăng dần mức độ khó lên khi trẻ đã quen dần. Tập cho trẻ trong các hoạt động hằng ngày của mình như tự gấp quần áo của mình. Mẹ cũng có thể cho trẻ làm “chân chạy vặt” mỗi khi mẹ làm bếp, vừa tăng cơ hội gần gũi giữa mẹ và trẻ vừa giúp bé tự lập hơn Hình 6: Tuyên truyền phụ huynh trong giờ đón trẻ