Báo cáo Sáng kiến Một số biện pháp giáo dục kỹ năng nghe, nói tiếng dân tộc Nùng cho trẻ lớp mẫu giáo 5 - 6 tuổi A1 trường mầm non Đồng Lạc

doc 28 trang Chăm Nguyễn 22/10/2025 210
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Báo cáo Sáng kiến Một số biện pháp giáo dục kỹ năng nghe, nói tiếng dân tộc Nùng cho trẻ lớp mẫu giáo 5 - 6 tuổi A1 trường mầm non Đồng Lạc", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docbao_cao_sang_kien_mot_so_bien_phap_giao_duc_ky_nang_nghe_noi.doc

Nội dung tài liệu: Báo cáo Sáng kiến Một số biện pháp giáo dục kỹ năng nghe, nói tiếng dân tộc Nùng cho trẻ lớp mẫu giáo 5 - 6 tuổi A1 trường mầm non Đồng Lạc

  1. 3 Bản thân tôi là tổ trưởng tổ chuyên môn có kiến thức, kỹ năng sư phạm, có kinh nghiệm giảng dạy, mạnh dạn và ham học hỏi với những chuyên đề mới. Được tham gia các lớp tập huấn chuyên đề, sinh hoạt chuyên môn cấp huyện do phòng giáo dục tổ chức, được nhà trường cho đi dự giờ, học tập kinh nghiệm dạy trẻ tiếng dân tộc tại một số trường trong huyện, Trẻ lớp tôi đi học chuyên cần có nền nếp, khoa học, năng động, mạnh dạn và vâng lời cô giáo và cha mẹ nên việc dạy trẻ tiếng Nùng có nhiều thuận lợi. Một số phụ huynh của lớp bước đầu đã quan tâm, tham gia hưởng ứng nhiệt tình trong việc hỗ trợ giáo viên dạy trẻ tiếng Nùng khi ở nhà cũng như ở trường. 2. Tồn tại, hạn chế và nguyên nhân. 1.2.1. Giáo viên Tồn tại: Giáo viên chưa có kinh nghiệm trong tổ chức hoạt động dạy tiếng dân tộc cho trẻ, đôi khi chưa mạnh dạn thay đổi hình thức tổ chức một số hoạt động còn lúng túng, tổ chức chưa linh hoạt. Môi trường cho trẻ thực hiện còn chưa phong phú, chưa thu hút được trẻ tham gia. Nguyên nhân: Là chuyên đề mới, chưa có tài liệu hướng dẫn cụ thể việc thực hiện công tác giáo dục dân tộc, hướng dẫn tổ chức dạy tiếng dân tộc đối với bậc học mầm non nên giáo viên còn ngại nghiên cứu, thiếu tự tin, chưa đi sâu tìm hiểu và thay đổi hình thức tổ chức các hoạt động dạy trẻ tiếng Nùng Việc chuẩn bị môi trường hoạt động cho trẻ đôi khi chưa được đa dạng phong phú. 1.2.2. Trẻ em Tồn tại: Lớp tôi có hơn 60 % trẻ trong lớp là người dân tộc Nùng nhưng hầu hết các con không có vốn từ tiếng nói dân tộc Nùng Nguyên nhân: Trẻ là người dân tộc, sống trong gia đình có bố mẹ ông bà cũng là người dân tộc nhưng hầu hết đều giao tiếp bằng tiếng Việt phổ thông. 1.2.3. Phụ huynh Tồn tại: Một số phụ huynh chưa nhận thức rõ tầm quan trọng của việc bảo tồn tiếng dân tộc mình; Phụ huynh phần lớn đều đi làm công ty và khả năng nói tiếng Nùng cũng còn hạn chế.
  2. 4 Nguyên nhân: Phụ huynh còn chú trọng nhiều đến việc cho trẻ học đọc, học viết mà không quan tâm đến việc dạy trẻ ngôn ngữ của dân tộc mình. Việc nói tiếng Nùng chỉ duy trì với thế hệ ông bà của trẻ * Kết quả khảo sát thực tế đầu năm: SỐ ĐẠT CHƯA ĐẠT STT NỘI DUNG KHẢO SÁT TRẺ/PH Số trẻ/PH Đạt Số trẻ/PH Đạt 1 Trẻ nghe, hiểu ngôn ngữ 32 4 13% 28 87% bằng tiếng Nùng 2 Nói rõ ràng tiếng Nùng 32 3 9% 29 91% 3 Mạnh dạn, tự tin giao tiếp 32 3 9% 29 91% bằng tiếng Nùng 4 Phụ huynh quan tâm đến 32 9 28% 23 72% nội dung dạy trẻ tiếng Nùng * Sau khi nghiên cứu tôi đã áp dụng biện pháp: “Một số biện pháp giáo dục kỹ năng nghe, nói tiếng dân tộc Nùng cho trẻ lớp mẫu giáo 5 - 6 tuổi A1 trường mầm non Đồng Lạc - Yên Thế.” như sau: 2. Biện pháp thực hiện: 2.1. Biện pháp 1: Tìm hiểu kiến thức, vốn hiểu biết về tiếng nói của dân tộc Nùng; Xây dựng kế hoạch tổ chức hoạt động cho trẻ làm quen với tiếng Nùng. 2.1.1. Nội dung biện pháp - Học tập bồi dưỡng nâng cao chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng sư phạm trong việc tổ chức, hướng dẫn trẻ làm quen với tiếng nói của dân tộc Nùng. - Xây dựng kế hoạch cho trẻ làm quen với tiếng Nùng. 2.1.2. Cách thức, quá trình áp dụng biện pháp * Học tập bồi dưỡng nâng cao chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng sư phạm trong việc tổ chức, hướng dẫn trẻ làm quen với tiếng Nùng Việc tự học tập, tham khảo tài liệu để nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của việc cho trẻ làm quen với tiếng Nùng là việc làm cần đặt lên hàng đầu. Cô giáo đôi khi cũng như là người bạn, là người mẹ, luôn gần gũi, dạy bảo, lắng nghe và chia sẻ, khơi gợi tính tò mò, lòng ham hiểu biết của trẻ, trẻ sẽ tích cực tham gia các hoạt động, tiếp thu kiến thức một cách có hiệu quả Chính vì vậy bản thân đã không ngừng học tập, nghiên cứu thông qua tài liệu, sách báo, internet; qua các buổi sinh hoạt chuyên môn của Phòng của cụm trường tổ chức, qua kinh nghiệm thực tế từ bạn bè, đồng nghiệp, qua việc đến
  3. 5 tận nhà các gia đình có ông bà, bố mẹ biết tiếng dân tộc Nùng trong xã để học tập kinh nghiệm nói tiếng Nùng. (Hình ảnh tham gia SHCM do phòng GD&ĐT tổ chức) Xác định rõ nhiệm vụ trọng tâm của năm học 2024-2025 là tăng cường tiếng dân tộc nói của dân tộc Nùng cho trẻ nên ngay từ đầu năm học tôi đã được nhà trường phân công nhiệm vụ đi tiếp thu chuyên đề “Hướng dẫn tổ chức các hoạt động giáo dục nhằm nâng cao chất lượng giáo dục song ngữ cho trẻ vùng dân tộc thiều số” do Phòng Giáo dục tổ chức, sau đó về triển khai chuyên đề tới 100% CBGV trong trường. ( Hình ảnh triển khai chuyên đề Tăng cường tiếng Nùng tới CBGV)
  4. 6 Ngoài ra, để tăng cường vốn từ tiếng nói của dân tộc Nùng về để dạy trẻ, tôi thường xuyên đến tận nhà gia đình là người dân tộc Nùng có khả năng nghe và nói tiếng Nùng thành thạo để học hỏi kinh nghiệm, tìm hiểu những nét văn hóa đặc trưng của người Nùng. Quan tâm, sáng tạo tạo môi trường lớp học mang màu sắc dân tộc, tạo tâm thế cho trẻ hứng thư tích cực tham gia vào hoạt động. Luôn tạo bầu không khí vui tươi, tâm lý tốt và cảm giác an toàn cho trẻ. (Video/hình ảnh GV đến nhà Ông Nông Văn Liệu 95 tuổi học tiếng Nùng) * Xây dựng kế hoạch cho trẻ làm quen với tiếng Nùng Khi lên kế hoạch dạy trẻ làm quen với tiếng Nùng, trước hết tôi căn cứ vào kế hoạch của nhà trường, trên cơ sở đó tôi xây dựng kế hoạch phù hợp với tình hình thực tế của lớp. Lựa chọn nội dung cho trẻ làm quen với tiếng Nùng nhẹ nhàng, đảm bảo đi từ dễ đến khó phù hợp với khả năng nhận thức của trẻ lớp mình, phù hợp với từng chủ đề. Từ đó bản thân đưa ra biện pháp, hình thức tổ chức lồng ghép đưa tiếng dân tộc Nùng hiệu quả vào các hoạt động hàng ngày. Mặt khác tôi quan tâm theo dõi sự phát triển của trẻ trong tiết học, ở mọi lúc mọi nơi để điều chỉnh các yêu cầu, hình thức luyện tập. Hệ thống câu hỏi, đàm thoại từng trẻ, giúp trẻ không khó khăn trong việc lĩnh hội kiện thức. Ví dụ: - Ở chủ đề: Trường Mầm non (3 tuần), tôi chọn các từ cho trẻ làm quen như: + Tuần 1: Làm quen với từ: Noọng chào cô giáo (Em chào cô giáo);
  5. 7 Xo tuông (Xin chào) + Tuần 2: Từ Chao tồng (kết bạn); Pí hết lăng (Bạn đang làm gì?) + Tuần 3: Pỉ noọng mì rèng (Chúc mọi người sức khỏe); Sương điếp pỉ noọng (Chào tất cả mọi người) - Ở chủ đề: Bản thân (3 tuần), tôi lựa chọn các từ cho trẻ làm quen như: + Tuần 1: Làm quen với từ: Củ (đầu); Phẳn(tóc); Thả(tóc) + Tuần 2: Từ Mừ (Tay); Neo mừ (Ngón tay); Khả (chân) + Tuần 3: Sử tắn (áo cộc); Sử hi (Áo dài); Khà (Quần); Cho trẻ gặp gỡ, trò chuyện với nghệ nhân trong xã nói tiếng Nùng cho trẻ nghe. - Ở chủ đề: Gia đình, tôi lựa chọn các từ cho trẻ làm quen như: + Tuần 1: Cho trẻ làm quen với từ: Cố (bố); Mế(mẹ); Pị bào (Anh trai) + Tuần 2: Cho trẻ nói từ: Pị sáo (chị gái); Coóng (Ông); Láo(bà) Hát cho trẻ nghe làn điệu bằng tiếng Nùng 2.1.3. Kết quả áp dụng biện pháp: Sau khi đến tận gia đình người dân tộc học hỏi thì bản thân đã có thêm nhiều vốn từ tiếng nói của dân tộc Nùng để dạy trẻ tại lớp. Nắm được kiến thức, kỹ năng nói tiếng Nùng, sưu tầm và lựa chọn được những bài thơ, bài hát, trò chơi bằng tiếng Nùng để dạy trẻ phù hợp với từng chủ đề trong năm học. Qua việc tự học tập, tự nghiên cứu tài liệu tôi đã nhận thấy mình đã học hỏi và tích lũy được thêm kiến thức và nâng cao được kỹ năng hơn trong việc giúp trẻ nghe- nói tiếng dân tộc Nùng Kế hoạch tôi xây dựng đã phù hợp với trẻ, phù với lớp, phù hợp với nhà trường, địa phương. Việc lựa chọn hình thức tổ chức hoạt động làm quen với tiếng Nùng luôn đặt trẻ vào quá trình giáo dục lấy trẻ làm trung tâm. 2.2. Biện pháp 2: Tạo môi trường lớp học phong phú mang màu sắc văn hóa dân tộc Nùng 2.2.1. Nội dung biện pháp: Xây dựng môi trường trong lớp và ngoài lớp thân thiện, đa dạng, phong phú mang đậm màu sắc văn hóa dân tộc Nùng nhằm giúp trẻ nắm bắt kiến thức một cách tốt hơn. Trẻ hăng hái, tự tin tham gia vào các hoạt động học tập và vui chơi, trẻ tự tin trao đổi cùng cô bằng tiếng Nùng, giúp trẻ tăng thêm vốn từ và kỹ năng nói rõ ràng hơn. 2.2.2. Cách thức, quá trình áp dụng biện pháp: * Tạo môi trường tiếng Nùng trong lớp:
  6. 8 Dạy trẻ nói tiếng Nùng bằng cách tạo môi trường tiếng Nùng trong lớp học. Ngay từ đầu năm học, tôi đã trang trí môi trường lớp học phù hợp với tính chất của các hoạt động, phù hợp với chủ đề và phù hợp với lứa tuổi. Đặc biệt với góc dân tộc của lớp tôi trang trí đẹp mắt với những hình ảnh mang màu sắc dân tộc khác nhau đặc biệt là những hình ảnh, trang phục, dụng cụ lao động của người dân tộc Nùng. ( Hình ảnh trang trí Góc dân tộc tại lớp) Bố trí, sắp xếp các khu vực chơi, hoạt động trong lớp đảm bảo an toàn phù hợp với không gian, thuận tiện cho việc sử dụng của cô và trẻ. Sử dụng hình ảnh và đồ chơi có liên quan đến dân tộc. Đảm bảo môi trường lớp học được trang trí bằng các biểu tượng và từ ngữ của tiếng dân tộc. Thông qua đồ dùng, đồ chơi, tranh ảnh, vật thật có trong các lớp như: Hướng dẫn trẻ chú ý quan sát và nghe cách phát âm đối với từng đồ vật của cô giáo bằng từ tiếng Nùng, sau đó cho trẻ phát âm lại, bằng cách "nói" như vậy trẻ nhớ được tên gọi của các loại đồ vật trong lớp và vốn từ tiếng Nùng cũng được tăng lên. Thường xuyên yêu cầu trẻ lấy đồ dùng, gọi tên các đồ dùng trong lớp bằng tiếng Nùng, khuyến khích trẻ nói được một số câu đơn giản. Ví dụ: Cô giáo chỉ vào “Quyển sách” và dạy trẻ nói từ đơn giản với đồ dùng đó " Tiếng Nùng quyển sách là “Sẹc"... cứ như vậy cho trẻ ôn luyện thường xuyên giúp trẻ ghi nhớ tên gọi tiếng Nùng và tập cho trẻ cách nói đủ câu bằng tiếng Nùng thông qua các đồ vật xung quanh trẻ.
  7. 9 (Hình ảnh cho trẻ làm quen với từ sách ở góc sách truyện) Thiết bị, đồ chơi được sắp xếp theo hướng mở, kích thích sự chú ý và hứng thú tìm tòi, khám phá của trẻ; tạo cơ hội cho trẻ được hợp tác trò chuyện và chia sẻ ý kiến với bạn bè từ đó ngôn ngữ của trẻ được phát triển hơn. ( Hình ảnh trang trí góc nghệ thuật tại lớp) Sắp xếp sách vở học liệu trong lớp gọn gàng để trẻ dễ nhận biết phân biệt, dễ lấy, dễ cất vừa tầm với trẻ sử dụng. Ngoài các góc chơi phổ biến ở góc lớp mầm
  8. 10 non thì tôi cũng sưu tầm thêm các góc như góc kỹ năng sống với đồ dùng đa dạng để trẻ tăng thêm vốn từ tiếng Nùng cho trẻ. * Tạo môi trường ngoài lớp học Không gian ngoài lớp học luôn hấp dẫn trẻ ngay từ ngày đầu đến trường, đến lớp, môi trường ngoài lớp học sạch sẽ, gọn gàng, an toàn cho trẻ vui chơi học tập, hoạt động tăng cường tiếng Nùng sẽ hiệu quả hơn. Ngay từ khi có kế hoạch cho trẻ làm quen với tiếng nói của dân tộc Nùng tôi đã quan tâm tạo môi trường bên ngoài lớp học. Lồng ghép tiếng Nùng vào những hình ảnh, đồ vật giúp trẻ dễ nhìn, dễ thấy. Ví dụ: Tôi lồng ghép tiếng Nùng vào những nơi trẻ dễ nhìn như: Giá để dép hoặc chậu hoa, cây cảnh ở cửa lớp. Những nơi như vậy trẻ thường xuyên nhìn thấy sau đó mỗi khi trẻ hoạt động tôi hỏi trẻ: Giá để dép tiếng Nùng gọi là gì? (Tói hài); Chậu hoa tiếng Nùng gọi là gì?(Áng bóoc) Với sự lồng ghép nhẹ nhàng tiếng Nùng vào những hoạt động hàng ngày như vậy tôi thấy trẻ rất thích thú, hào hứng tham gia vào các hoạt động.
  9. 11 ( Hình ảnh lồng ghép tiếng Nùng bên ngoài cửa lớp) Với nhiệm vụ trọng tâm năm học 2024 - 2025 của nhà trường là giáo dục song ngữ “Dạy trẻ tiếng nói của dân tộc Nùng”. Nhà trường rất trú trọng và luôn quan tâm đầu tư, tạo môi trường thân thiện, đẹp mắt mang màu sắc văn hóa đặc trưng của quê hương Đồng Lạc. Qua đó mong muốn tạo cho các con có một môi trường vừa học tập, vừa vui chơi, vừa hiểu được những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc Nùng. (Hình ảnh tạo môi trường mang màu sắc dân tộc tại khu chợ quê)
  10. 12 Sau các giờ học chính tôi thường cho trẻ hoạt động tại thư viện xanh, khu chợ quê của trường để thay đổi hình thức, việc thay đổi môi trường, không gian học tập giúp trẻ thoải mái và tiếp thu kiến thức nhanh hơn. Tận dụng cơ hội đó tôi lồng ghép dạy trẻ tiếng Nùng một cách nhẹ nhàng khi trẻ hoạt động khiến trẻ rất thích thú. Qua đó tôi thấy trẻ lớp tôi rất tích cực hứng thú trẻ nói và phát âm được chính xác hơn, rõ ràng, lưu loát hơn, trẻ tự tin khi nói tiếng Nùng. ( Hình ảnh trẻ đọc sách ở thư viện của trường) 2.2.3. Kết quả áp dụng biện pháp Việc tạo môi trường cho trẻ hoạt động là một trong những biện pháp hỗ trợ đắc lực trong việc tạo hứng thú và phát triển khả năng học nói tiếng Nùng cho trẻ. Với việc tạo môi trường mang đậm màu sắc văn hóa của dân tộc Nùng ở trong và ngoài lớp của mình tôi thấy trẻ rất tích cực, hứng thú tham gia nói tiếng Nùng, cùng nhau chia sẻ về cách nói những từ mới Biện pháp này rất hiệu quả vì khi trẻ được nhìn trực quan với những hành ảnh, đồ dùng những nét văn hóa của dân tộc Nùng thì cảm giác như là một thế giới mới xuất hiện. Ở đây trẻ được khám phá những nét mới lạ nhưng lại mang đậm giá trị truyền thống của quê hương Đồng Lạc. 2.3. Biện pháp 3: Dạy trẻ nghe và nói tiếng Nùng trên tiết học. 2.3.1. Nội dung biện pháp Để thực hiện tốt biện pháp này tôi đã chủ động xây dựng, lựa chọn nội dung học và hình thức tổ chức phù hợp cho trẻ làm quen với tiếng nói của dân tộc
  11. 13 Nùng trên tiết học ở kế hoạch giáo dục theo tuần, kế hoạch giáo dục theo từng chủ đề. Ngoài ra tôi còn lồng ghép dạy tiếng dân tộc Nùng vào một số hoạt động học khác. 2.3.2. Cách thức, quá trình áp dụng biện pháp: Sau khi xây dựng kế hoạch cho trẻ làm quen với tiếng dân tộc Nùng bám vào kế hoạch của nhà trường tổ chức mỗi chủ đề dạy một hoạt động cho trẻ nghe - nói tiếng Nùng, tôi lựa chọn các đề tài phù hợp với mục tiêu, yêu cầu từng chủ đề, phù hợp với trẻ của lớp. Lựa chọn những hình thức tổ chức cho trẻ làm quen với từ mới nhẹ nhàng, linh hoạt. Ví dụ: * Với chủ đề Trường mầm non. Tôi cho trẻ làm quen với các từ: “Noọng chào cô giáo (Em chào cô giáo); Xo tuông (Xin chào); Pỉ noọng mì rèng (Chúc mọi người sức khỏe); Sương điếp pỉ noọng (Chào tất cả mọi người) 1. Hoạt động 1: Gây hứng thú - Cho trẻ hát bài: “Trường chúng cháu là trường mầm non”, trò chuyện về nội dung bài hát, giáo dục trẻ yêu thích đến trường. 2. Hoạt động 2: Bài mới - Giới thiệu giờ hoạt động làm quen với tiếng nói của dân tộc Nùng - Cô giới thiệu lần lượt từng từ, cho trẻ nghe và nói từ mới như: “Noọng chào cô giáo (Em chào cô giáo); Xo tuông (Xin chào); Pỉ noọng mì rèng (Chúc mọi người sức khỏe); Sương điếp pỉ noọng (Chào tất cả mọi người) - Cô nói cho trẻ nghe từ mới nhiều lần, giải thích nghĩa của từ sau đó cho trẻ nói và phát âm chuẩn từng từ, từng câu. Tổ chức cho trẻ nói từ mới dưới các hình thức: Tập thể, tổ, nhóm, cá nhân; nhấn mạnh những từ khó đọc, khó hiểu. Như vậy sẽ giúp trẻ hiểu và nhớ lâu hơn. (Trong khi trẻ nói cô bao quát, động viên, sửa sai nếu trẻ đọc ngọng và nói chưa đúng theo yêu cầu) - Cho trẻ chơi trò chơi ôn luyện, thực hành nói những từ chào hỏi, lời chúc khi mới gặp bằng tiếng của dân tộc Nùng. 3. Hoạt động 3: Kết thúc - Tổ chức cho trẻ đọc câu ca dao: “Pỉ noọng tò điếp vỏ mẻ văng/ Pỉ noọng tò dăng cần té hai” (Anh em thương yêu nhau bố mẹ vui/Anh em lườm nguýt nhau bố mẹ lo) - Trẻ ra ngoài dạo chơi