Báo cáo Sáng kiến Một số biện pháp giáo dục học sinh khuyết tật trí tuệ hình thành và pháp triển năng lực giao tiếp, hợp tác
Bạn đang xem tài liệu "Báo cáo Sáng kiến Một số biện pháp giáo dục học sinh khuyết tật trí tuệ hình thành và pháp triển năng lực giao tiếp, hợp tác", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
bao_cao_sang_kien_mot_so_bien_phap_giao_duc_hoc_sinh_khuyet.docx
Báo cáo Sáng kiến Một số biện pháp giáo dục học sinh khuyết tật trí tuệ hình thành và pháp triển năn.pdf
Nội dung tài liệu: Báo cáo Sáng kiến Một số biện pháp giáo dục học sinh khuyết tật trí tuệ hình thành và pháp triển năng lực giao tiếp, hợp tác
- 3 MỤC LỤC I. PHẦN MỞ ĐẦU4 1. Lí do chọn biện pháp............................................................. 4 2. Mục đích nghiên cứu.............................................................. 4 3. Nhiệm vụ nghiên cứu............................................................. 5 4. Đối tượng phạm vi nghiên cứu.............................................. 5 5. Phương pháp nghiên cứu....................................................... 5 II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU6 1. Cơ sở lý luận 6 2. Cơ sở thực tiễn . ... 8 3. Các biện pháp . 8 III. KẾT QUẢ VÀ ỨNG DỤNG 13 1. Kết quả 13 2. Ứng dụng 15 IV. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 15 1. Kết luận . 15 2. Kiến nghị ... 16 TÀI LIỆU THAM KHẢO 18
- 4 I. PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn biện pháp Trong nhà trường, người giáo viên chủ nhiệm chính là cầu nối quan trọng giữa học sinh, phụ huynh và nhà trường. Bởi vậy, người giáo viên chủ nhiệm có một vai trò vô cùng to lớn trong công tác quản lý cũng như giảng dạy học sinh. Hiểu được điều đó, mà tôi khi được phân công làm công tác chủ nhiệm luôn cố gắng hết sức làm tốt vai trò, nhiệm vụ của mình. Năm học 2022-2023, tôi được nhà trường phân công giảng dạy và chủ nhiệm lớp 1B, qua công tác tuyển sinh và tìm hiểu thì lớp 1B của tôi có một học sinh khuyết tật hòa nhập Lưu Đức Hùng. Em Hùng thuộc đối tượng học sinh khuyết tật trí tuệ loại nhẹ và có hoàn cảnh gia đình khó khăn. Nắm được hoàn cảnh cũng như khả năng của Hùng mà bản thân tôi, với vai trò của người giáo viên chủ nhiệm lớp, luôn cố gắng tìm ra những biện pháp phù hợp nhất để thúc đẩy sự tiến bộ của Hùng khi tham gia học hòa nhập cùng các bạn. Trong biện pháp này, tôi đề cập và nhấn mạnh về vấn đề làm thế nào để giáo dục học sinh khuyết tất trí tuệ hình thành và phát triển về năng lực giao tiếp và hợp tác. Vì tôi nghĩ muốn học sinh khuyết tật trí tuệ có thể lĩnh hội được kiến thức cơ bản một cách hiểu quả thì trước tiên phải trang bị cho các em một số năng lực cần thiết và cơ bản của học sinh để em đó có bước đệm vững chắc, hỗ trợ cho việc hình thành và lĩnh hội kiến thức. Từ thực tế việc giảng dạy học sinh lớp 1 có học sinh bị khuyết tật trí tuệ và từ nhận thức hiểu biết về trẻ khuyết tật nên tôi đã mạnh dạn và lựa chọn đi sâu vào nghiên cứu và đưa ra biện pháp: “Một số biện pháp giáo dục học sinh khuyết tật trí tuệ hình thành và phát triển năng lực giao tiếp, hợp tác”. 2. Mục đích nghiên cứu Năm học này cũng khá đặc biệt với tôi. Khi trong lớp có học sinh khuyết tật. Với kinh nghiệm mà trong quá trình giảng dạy tôi đúc kết được, tôi quyết định chọn nghiên cứu biện pháp để giúp đỡ, hướng dẫn em dần dần hình
- 5 thành và phát triển được các năng lực giao tiếp và hợp tác. Để em có thể hòa nhập được với các bạn cùng trang lứa. 3. Nhiệm vụ nghiên cứu Với các biện pháp về nội dung phát triển năng lực, phẩm chất cho học sinh tiểu học thì đã có rất nhiều người nghiên cứu. Tuy nhiên, đối tượng mà tôi nghiên cứu không phải là một học sinh bình thường mà là một học sinh khuyết tật trí tuệ theo học đúng độ tuổi. Việc rèn luyện và phát triển kỹ năng cho học sinh lớp 1 bình thường đã khó thì với học sinh khuyết tật trí tuệ còn khó khăn hơn nhiều. Mọi yêu cầu đối với học sinh khuyết tật trí tuệ hoàn toàn khác. Để làm được điều đó, tôi đã phải tìm hiểu rất nhiều về trẻ khuyết tật trí tuệ (nguyên nhân, biểu hiện, cách khắc phục...) từ đó đưa ra bài học cho bản thân. Cùng với việc dạy học hàng ngày, tôi cố gắng trang bị cho em học sinh khuyết tật trí tuệ đó hình thành và phát triển năng lực giao tiếp, hợp tác cần thiết giúp em đó có nền tảng tốt hơn, hỗ trợ em đó trong việc lĩnh hội kiến thức cơ bản dễ dàng hơn. 4. Đối tượng phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu là: Biện pháp giáo dục học sinh khuyết tật trí tuệ hình thành và phát triển năng lực giao tiếp hợp tác. Phạm vi nghiên cứu là: em Lưu Đức Hùng lớp 1B. 5. Phương pháp nghiên cứu Để thực hiện được mục tiêu của biện pháp đề ra tôi mạnh dạn nghiên cứu, tìm tòi áp dụng các phương pháp sau: - Phương pháp nghiên cứu lý luận (đọc tài liệu) - Phương pháp điều tra - Phương pháp phân tích tổng hợp - Phương pháp áp dụng thực nghiệm - Phương pháp tổng kết rút kinh nghiệm
- 6 II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 1.Cơ sở lý luận Trong công tác tuyển sinh đầu năm học, Trường Tiểu học Minh Khai tiếp nhận tuyển sinh tất cả học sinh đủ tuổi (6 tuổi) vào lớp 1 có nguyện vọng muốn theo học tai trường. Trường sẵn sàng tiếp nhận những trẻ có dấu hiệu khuyết tật hòa nhập vào theo học tại trường và tạo mọi điều kiện để giúp đỡ học sinh có hoàn cảnh đặc biệt. Trong năm học 2022-2023, tôi được phân công chủ nhiệm và giảng dạy lớp 1B. Lớp có 25 học sinh: có 13 học sinh nam, 12 học sinh nữ, trong đó có 1 học sinh dân tộc Tày và có học sinh Lưu Đức Hùng thuộc đối tượng học sinh khuyết tật trí tuệ loại nhẹ. Từ việc quan sát, tìm hiểu, nghiên cứu về trẻ khuyết tật trí tuệ, tôi đã rút ra cho mình môt số biện pháp để áp dụng trong việc thực hiện công tác chủ nhiệm và giáo dục học sinh khuyết tật trí tuệ Lưu Đức Hùng này. Trong biện pháp này, tôi đề cập đến đối tượng nghiên cứu là học sinh khuyết tật trí tuệ hòa nhập Lưu Đức Hùng - lớp 1B năm học 2022- 2023. Tôi nắm được tình hình của học sinh: Đánh giá ban đầu về học sinh Lưu Đức Hùng từ những ngày đầu theo học: Học sinh nói được câu ngắn; hạn chế giao tiếp cùng bạn bè, thầy cô; không hợp tác trong giờ học cùng cô giáo; vứt sách vở, đồ dùng bừa bãi; không biết thể hiện nhu cầu của bản thân; hay chạy nhảy, nói tự do trong lớp; hay ngủ trong giờ học. Cụ thể: - Gặp khó khăn khi tự chuẩn bị đồ dùng cần thiết khi học tập; không biết xin phép cô đi vệ sinh... - Chưa biết chào hỏi khi gặp cô giáo và các bạn xung quanh. Không tham gia các hoạt động nhóm, tập thể... - Không tự hoàn thành bài tập theo yêu cầu cô giáo. - Không hứng thú khi tham gia các hoạt động học tập và các hoạt động giáo dục khác.
- 7 - Nhút nhát, thu nhỏ mình lại, hạn chế tiếp xúc với mọi người. - Chưa có kỷ luật trong giờ học, hay tự tiện lấy đồ của các bạn, ra ngoài tự do không xin phép. - Hạn chế thể hiện sự quan tâm với bạn bè và những người xung quanh Từ những đánh giá ban đầu đó tôi tự đưa ra một số biện pháp hỗ trợ cho em Hùng tích cực hơn. Hình ảnh bạn Hùng trong giờ học và bạn đưa đi vệ sinh.
- 8 2. Cơ sở thực tiễn Khi năm học mới bắt đầu, ở những gia đình khác khi có con đến tuổi vào lớp 1 thì bố mẹ luôn là người chủ động đi nhập học cho con. Nhưng với gia đình em Hùng thì bố mẹ vẫn còn đang nghi ngại khi biết tình hình thực tế của con em mình. Chưa muốn cho con ra hòa nhập với các bạn. Vì con chưa biết tự phục vụ các nhu cầu thiết yếu của bản thân mình như: đi vệ sinh, đi uống nước hay ra khỏi nhà là không rõ mình đi đâu, ở chỗ nào. Gia đình đã làm đơn mong muốn cho con ở lại một năm nữa. Nhưng khi được nhà trường và tôi động viên, quan tâm, khích lệ thì bố mẹ em cũng cho em ra lớp để hòa nhập cùng các bạn. 3. Các biện pháp 3.1. Biện pháp 1: Thông qua quá trình dạy học. Hình thành và phát triển năng lực giao tiếp và hợp tác cho học sinh khuyết tật trí tuệ hòa nhập là một trong những việc chính, quan trọng. Hàng ngày các em đến lớp học tập, trải nghiệm, sinh hoạt cùng nhau. Chính vì sự hoạt động thường xuyên này, nên giáo viên càng cần thiết quan tâm hỗ trợ, theo dõi và hướng dẫn các hành vi, hoạt động của em học sinh khuyết tật trí tuệ hòa nhập trong suốt quá trình dạy học. Để quá trình rèn luyện cho em Hùng được hiệu quả hơn, tôi đã quan tâm trước những việc sau để hỗ trợ các hoạt động dạy học và giáo dục Hùng: - Tạo môi trường học tập thân thiện, tích cực: Giáo viên luôn là người quan tâm gần gũi Hùng. Kiên trì lắng nghe và rèn Hùng vào các hoạt động có mục đích trước của mình. Lựa chọn những bạn thân thiết, gần gũi với Hùng và có năng lực giao tiếp tốt, hoạt ngôn ngồi bên cạnh để giúp đỡ Hùng trong mọi hoàn cảnh. Thường xuyên nói chuyện với Hùng để tạo sự tin tưởng, gần gũi, cởi mở giúp Hùng đến gần mình hơn, thuận lợi cho việc hỗ trợ rèn luyện và phát triển một số năng lực, phẩm chất cho Hùng mỗi ngày khi cần thiết.
- 9 - Chọn vị trí ngồi thuận lợi cho Hùng để tiện cho việc quan sát, giúp đỡ Hùng kịp thời. 3.1.1. Hình thành và phát triển năng lực giao tiếp và hợp tác * Hình thành và phát triển năng lực giao tiếp Bởi việc phát triển ngôn ngữ ở trẻ khuyết tật trí tuệ sẽ chậm hơn các trẻ bình thường cùng trang lứa nên việc giao tiếp, trò chuyện của Hùng cũng gặp rất nhiều khó khăn. Hùng không thể nhớ và hiểu được hết những câu hỏi, lời nói của thầy cô, bạn bè. Hay khi giao tiếp, trò chuyện Hùng chỉ nói được những từ ngắn, câu đơn ngắn, hay thậm chí nói trống không, cộc lốc. Hơn nữa với những người thân, người mà Hùng cảm thấy yên tâm và tin tưởng thì Hùng cũng có thể sẽ nói được nhiều hơn, ngược lại những người Hùng không thích, không có cảm giác yên tâm khi trò chuyện, tiếp xúc thì giao tiếp của Hùng với họ chỉ là bằng ánh mắt, hành động đẩy ra, cái cúi đầu, lùi chân lại hay chạy đi trốn Hiểu được đặc điểm về tâm lý cũng như khả năng ngôn ngữ và giao tiếp của Hùng nên ngay từ những buổi đầu tiếp nhận lớp tôi luôn nhẹ nhàng, gần gũi với học sinh và đặc biệt là với Hùng, tôi nhìn Hùng với ánh mắt trìu mến và mỉm cười với Hùng khi ánh mắt Hùng nhìn vào tôi. Trong giờ học tôi luôn để ý đến Hùng, còn vào các giờ ra chơi hay 15 phút đầu giờ thì tôi luôn dành thời gian trò chuyện và hỏi thăm Hùng. Những câu hỏi của tôi luôn xoay quanh cuộc sống hằng ngày của Hùng ví dụ như: Hùng có thích đi học không? Ở lớp, Hùng thích chơi với bạn nào nhỉ? Hùng có yêu quý ông, bà, bố, mẹ và em của Hùng không? Hùng thích ăn món gì nhât? Bởi vậy mà chỉ với 2, 3 buổi học đầu tiên thôi, Hùng đã cảm nhận được sự yên tâm khi tới lớp và khi trò chuyện với tôi. Ở trong lớp học, Hùng đôi khi thường đi lại tự do, nhất là khi Hùng muốn thực hiện nhu cầu cá nhân của mình như: đi vệ sinh, đi uống nước. Để chấm dứt cái hành động tự do này của Hùng nên khi Hùng tự do đi uống nước hay đi vệ sinh tôi lại bắt Hùng dừng lại, nói được lời xin phép với cô và được cô đồng ý mới được đi. Ban đầu, khi Hùng đi tự do ra ngoài tôi gọi lại và hỏi
- 10 Hùng: Hùng đi đâu thế con? Hùng chỉ có thể trả lời được như : nước, uống nước, đái, ỉa. Lúc này tôi lại dừng lại và hướng dẫn Hùng cách trả lời, cách xin phép cô khi ra ngoài thực hiện nhu cầu cá nhân. Qua vài lần hướng dẫn và nhắc nhở giờ đây mỗi khi Hùng muốn đi đâu Hùng đều lên xin phép tôi và phải được tôi đồng ý Hùng mới được đi. Trong việc giảng dạy và giáo dục học sinh trên lớp, tôi cũng luôn dặn dò và nhắc nhở học sinh khi các con nói chuyện, giao tiếp với bất kỳ ai cũng phải nói đầy đủ câu; có thưa gửi, lễ phép với người lớn tuổi. Đặc biệt khi các con chơi với bạn Hùng, trò chuyện với bạn các con cũng phải nói đầy đủ để bạn học tập theo. Trong việc giáo dục học sinh chào hỏi thầy cô, và khách đến trường tôi đã mời một số em học sinh lên bảng làm mẫu, chào mẫu cho học sinh học tập theo. Lúc này, tôi lại hướng mắt đến Hùng, theo dõi Hùng xem Hùng có chú ý và lắng nghe các bạn không, sau đó tôi yêu cầu Hùng nói lời chào khi gặp các thầy cô trong trường. Một hai ngày đầu, khi tôi đón học sinh tới trường ở dưới cổng trường, trong khi các học sinh bình thường biết chào hỏi đầy đủ, Hùng chỉ khoanh tay, cúi đầu. Tôi liền dừng lại và yêu cầu Hùng nói lời chào cô đầy đủ, lúc này Hùng chỉ cúi đầu và nói được “Chào” hay cúi đầu và nói “Chào cô”. Tôi vẫn kiên trì đứng đó hướng dẫn Hùng và yêu cầu Hùng nói đầy đủ, tôi phải nói mẫu và bảo Hùng nhắc lại theo và cuối cùng Hùng đã nói được lời chào cô đầy đủ. Tuy nhiên, Hùng chỉ thực hiện hành vi “Chào” đối với người thân, người quen; với những người lạ, ít giao tiếp thì Hùng hay xuất hiện những hành vi không chào. Tuy nhiên, việc thực hiện rèn luyện cho Hùng lâu dài thì sau này khi lớn lên thì Hùng sẽ phần nào khắc phục được hạn chế này, phát triển hơn về quan hệ xã hội. Tôi hiểu rằng với một học sinh khuyết tật trí tuệ hòa nhập như Hùng việc hình thành và rèn luyện năng lực hay những việc nhỏ nhất phải dần dần, lặp đi lặp lại thì sớm muộn sẽ có được kết quả. * Hình thành và phát triển năng lực hợp tác
- 11 Bình thường nếu để tự do thì học sinh khuyết tật trí tuệ hòa nhập như Hùng sẽ đi lại, chạy nhảy tự do trong lớp, sân trường khi có hoạt động ngoại khóa; em làm việc riêng, nói tự do hay ngủ suốt trong giờ. Việc giáo dục và phương pháp giảng dạy cho Hùng cũng sẽ không giống với các bạn khác, yêu cầu về kiến thức, năng lực và phẩm chất với Hùng sẽ nhẹ nhàng hơn. Để giúp Hùng trong giờ học không còn tồn tại những tình trạng trên thì tôi đã thiết kế riêng bài tập để Hùng làm, không cho Hùng có thời gian trống. Từ đó, vừa giúp Hùng phần nào ghi nhớ được kiến thức, vừa rèn được năng lực, phẩm chất trong giờ học và lại không ảnh hưởng đến việc học tập của các bạn. Trong quá trình làm bài của Hùng mà gặp khó khăn thì sẽ được sự giúp đỡ của bạn ngồi cạnh hay các bạn trong lớp. Trong các giờ hoạt động tập thể như Chào cờ, Sinh hoạt lớp, Múa hát tập thể, Trải nghiệm, tôi cũng đặc biệt quan sát thái độ hành vi của Hùng khi tham gia. Tôi luôn chú ý nhắc các bạn học sinh khác cùng quan tâm đến Hùng khi Hùng tham gia các hoạt động giao lưu ở chỗ đông người. Các bạn trong lớp hỗ trợ Hùng trong việc ăn uống tại trường
- 12 3.2. Biện pháp 2: Thông qua phối kết hợp với gia đình - GV cần chia sẻ thẳng thắn với gia đình học sinh khuyết tật trí tuệ hòa nhập về tình hình học sinh ở lớp, giúp cho cha mẹ có cái nhìn, nhận thức đúng đắn về khả năng và tình trạng của con đang gặp phải. - GV phối hợp với gia đình học sinh khuyết tật trí tuệ hòa nhập để cùng kết hợp, thống nhất phương pháp can thiệp ở gia đình cũng như ở trường để tăng hiệu quả giáo dục. + Không cho học sinh xem tivi, điện thoại trong một thời gian dài. + Thường xuyên dành thời gian trò chuyện với con. + Thường xuyên đưa con đi tham gia các hoạt động giao lưu, tham gia các hoạt động đông người để tăng tương tác xã hội. + Cùng với các hoạt động rèn luyện trên lớp thì về nhà, gia đình cũng tăng cường rèn luyện cho con từ những việc làm, hành động đơn giản. + Ngoài ra, GV thường xuyên gặp gỡ, trao đổi với gia đình cùng phối hợp rèn thêm các kỹ năng cho em Hùng tại nhà. Trao đổi với gia đình chế độ ăn, dinh dưỡng ở nhà cùng với sinh hoạt vui chơi tại gia đình hợp lý cũng hỗ trợ tích cực học sinh khuyết tật trí tuệ giảm đi một số biểu hiện của bệnh. Giúp học sinh phát triển tích cực, lành mạnh hơn để thích ứng tốt hơn với môi trường học tập mới. 3.3. Biện pháp 3: Thông qua phối kết hợp giữa các lực lượng giáo dục khác. - Phối kết hợp với các lực lượng trong nhà trường Nhà trường tuyên truyền cho các giáo viên trong nhà trường thấy được trách nhiệm của mình trong việc hình thành và phát triển năng lực, phẩm chất cho học sinh khuyết tật trí tuệ hòa nhập. Giáo viên nên tuyên truyền cho các giáo viên, nhân viên khác về tình hình cuả học sinh khuyết tật trí tuệ hòa nhập để các giáo viên khác kết hợp giúp đỡ học sinh khuyết tật trí tuệ mọi lúc mọi nơi khi cần. - Phối hợp với cộng đồng cùng tham gia công tác giáo dục
- 13 + Phối kết hợp với Ban đại diện cha mẹ học sinh và gia đình các em. Thông báo cho phụ huynh học sinh trong buổi hop phụ huynh đầu năm học để phụ huynh nắm được tình hình học sinh trong lớp. Giải thích cho phụ huynh hiểu về trường hợp em Hùng để phụ huynh có cái nhìn và nhận thức đúng đắn về học sinh khuyết tật trí tuệ, không có thái độ kỳ thị hoặc bảo con em mình xa lánh bạn mà phải biết giúp đỡ những bạn có hoàn cảnh đặc biệt mọi lúc mọi nơi để giúp bạn tiến bộ hơn. + Thông qua các đoàn thể khác ở địa phương: Kết hợp với các tổ chức xã hội khác ở địa phương để tạo ra nhiều sân chơi bổ ích, tạo điều kiện cho tất cả học sinh nói chung và học sinh khuyết tật trí tuệ nói riêng có nhiều cơ hội được trải nghiệm, hình thành được một số năng lực, phẩm chất tích cực. III. KẾT QUẢ VÀ ỨNG DỤNG 1. Kết quả Sau một năm học đồng hành cùng Hùng, tôi thấy em có sự tiến bộ hơn so với đầu năm. Từ ngày đầu em không chịu ngồi yên một chỗ, thường xuyên đi lại, nói tự do một mình, hay nghịch và ngủ trong giờ, gọi em không có phản ứng và hỏi em thì em không trả lời thì sau thời gian rèn luyện cùng với sự giúp đỡ, hỗ trợ của các thầy cô giáo, các bạn trong lớp và sự cố gắng của bản thân em thì em đã có sự tiến bộ một cách tích cực, hình thành được năng lực giao tiếp và hợp tác ở mức đơn giản nhưng với Hùng– một học sinh khuyết tật trí tuệ hòa nhập thì đó là một sự cố gắng và tiến độ vô cùng. Giờ đây, Hùng đã có phản ứng lại với yêu cầu tham gia giao tiếp của người khác (đặc biệt thấy rõ là đối với những người quen thuộc, thường xuyên tiếp xúc, gần gũi với em). Bắt đầu hợp tác thực hiện một số yêu cầu đơn giản trong lớp học: lấy được một số đồ dùng học tập quen thuộc khi tham gia vào hoạt động học tập cụ thể (ví dụ như lấy vở tập viết và bút chì trong khi luyện viết...). Biết trả lời ngắn khi cô giáo hỏi giao tiếp hàng ngày, ví dụ như: có, không, xong rồi,... và hướng ánh mắt nhìn vào người đối diện, có thể kể được với bà về điều cô giáo nhắc trên lớp. Biết xin phép khi ra ngoài đi vệ sinh, đi uống nước khi có nhu cầu, biết thực

