Báo cáo sáng kiến Một số biện pháp chỉ đạo tăng cường vai trò của công tác tư vấn tâm lý học đường, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện trong trường Tiểu học

docx 41 trang Chăm Nguyễn 09/05/2026 170
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Báo cáo sáng kiến Một số biện pháp chỉ đạo tăng cường vai trò của công tác tư vấn tâm lý học đường, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện trong trường Tiểu học", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docxbao_cao_sang_kien_mot_so_bien_phap_chi_dao_tang_cuong_vai_tr.docx
  • pdfBáo cáo sáng kiến Một số biện pháp chỉ đạo tăng cường vai trò của công tác tư vấn tâm lý học đường,.pdf

Nội dung tài liệu: Báo cáo sáng kiến Một số biện pháp chỉ đạo tăng cường vai trò của công tác tư vấn tâm lý học đường, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện trong trường Tiểu học

  1. 5 Số học sinh Số học sinh Số học sinh Khối Số lớp Số học sinh khuyết tật có hoàn cảnh có tâm lý cần hòa nhập khó khăn giúp đỡ 1 5 202 0 05 05 2 5 190 0 05 05 3 6 209 0 03 04 4 6 213 01 04 04 5 6 216 01 05 03 Tổng 28 1030 02 22 21 số Cơ sở vật chất nhà trường đảm bảo sáng, xanh, sạch, đẹp, an toàn, cơ bản đảm bảo điều kiện phục vụ công tác dạy và học, tạo được môi trường thân thiện cho học sinh trong thời gian học tập tại trường. Nhà trường luôn nhận được sự quan tâm, tạo điều kiện của chính quyền địa phương và sự ủng hộ phụ huynh học sinh. Nhờ đó, các nhiệm vụ giáo dục cũng như các hoạt động phong trào đã được hoàn thành tốt. Ban giám hiệu bám sát hướng dẫn của cấp trên, chỉ đạo sao sát, kịp thời mọi hoạt động với tinh thần tập trung dân chủ. Giáo viên có tinh thần trách nhiệm cao, trình độ chuyên môn vững vàng; hết lòng vì học sinh, đặc biệt nhiệt tình dạy dỗ, chăm sóc, quan tâm đến các học sinh khuyết tật, học sinh có hoàn cảnh đặc biệt để các em có thể hòa nhập, theo kịp bạn bè. Đa số học sinh nhà trường hoàn thành các nhiệm vụ của học sinh tiểu học, không mắc tệ nạn xã hội, thực hiện tốt năm điều Bác Hồ dạy và nội quy nhà trường; ngoan ngoãn, vâng lời thầy cô giáo, biết giúp đỡ bạn bè. Trong năm học 2022-2023 có 159 lượt học sinh đạt các giải qua các cuộc thi và giao lưu. Nhiều thầy cô đạt thành tích cao trong công tác giảng dạy. Bên cạnh những thuận lợi nói trên, cũng có nhiều khó khăn chủ quan và khách quan mà nhà trường phải đối mặt. Trường chia thành 2 khu nên gặp nhiều khó khăn trong công tác chỉ đạo. Đầu tiên là tình trạng số học sinh hàng năm tăng, thiếu diện tích vui chơi. Sĩ số học sinh/lớp đông đòi hỏi tinh thần nỗ lực vượt bậc của giáo viên trong việc quản lý, giáo dục học sinh cũng như quan tâm
  2. 6 đến đời sống tinh thần, tâm tư tình cảm của học sinh để tư vấn tâm lý cho các em. Một số ít phụ huynh, do điều kiện kinh tế còn hạn chế nên chưa quan tâm nhiều tới con cái, phó mặc cho giáo viên, cho nhà trường, ảnh hưởng đến việc phối hợp, thông tin hai chiều để tăng cường giáo dục, chăm sóc học sinh. Một số gia đình bố mẹ bỏ nhau rồi đi làm ăn xa và ở với ông bà, chú bác, Một số gia đình do ảnh hưởng của tệ nạn xã hội khiến các em mặc cảm, tự ti. Nhiều hoàn cảnh bố mẹ ốm đau bệnh nặng (như bị mắc căn bệnh ung thư, SIDA, ). Thêm vào đó, số lượng học sinh khuyết tật, học sinh có hoàn cảnh đặc biệt (khó khăn về kinh tế, không có cha/mẹ hoặc thiếu sự quan tâm, yêu thương của cha mẹ, ) còn nhiều. Đây là đối tượng học sinh dễ phát sinh các vấn đề về tâm lý cần được tư vấn, hỗ trợ. Cuối cùng là do ảnh hưởng sự phát triển của xã hội, việc dễ dàng tiếp cận Internet của trẻ em, tình hình an ninh trật tự xã hội có nhiều diễn biến phức tạp, nhiều loại hình tội phạm mới xuất hiện, gây ra áp lực lên tinh thần của trẻ em hiện nay nhiều hơn các thế hệ trước, đòi hỏi các nhà trường luôn phải nâng cao cảnh giác, tích cực bảo vệ, giáo dục học sinh và kịp thời tư vấn, hỗ trợ để các em được an toàn trong, ngoài nhà trường về cả thể chất và tinh thần. 1.2. Đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi học sinh tiểu học: Theo Điều lệ trường Tiểu học, tuổi của học sinh tiểu học là từ 6 đến 14 tuổi. Trẻ em ở độ tuổi này đang trong quá trình tăng trưởng, phát triển và hoàn thiện cơ thể về mặt sinh lí, đồng thời diễn ra quá trình phát triển tâm lý, hình thành nhân cách. Thông thường, tư vấn tâm lý học đường bậc tiểu học sẽ cung cấp theo nhiều hình thức như tư vấn cá nhân, tư vấn gia đình, tư vấn nhóm học sinh để lắng nghe và tìm hiểu về các thông tin học tập cho đến những định hướng trong tương lai. Trong quá trình tư vấn tâm lý cấp tiểu học, nhà tâm lý cần chú ý quan sát trẻ trong lúc học tập, vui chơi, trao đổi với giáo viên, phụ huynh để cùng nhau đánh giá đúng nhất về tình trạng sức khỏe, các khó khăn mà trẻ đang gặp phải cũng như các mong muốn, nhu cầu riêng của mỗi cá nhân. Đồng thời, nhà tâm lý cũng cần kết hợp cùng với nhà trường để đảm bảo và nâng cao khả năng học tập cho các em, lựa chọn đúng chương trình và nhu cầu phát triển của trẻ. Quá trình phát triển tâm lý của học sinh tiểu học có thể chia làm 3 cấp độ
  3. 7 xét theo từng độ tuổi như sau: Cấp độ 1 (lớp 1): Hoạt động học bắt đầu được hình thành. Trình độ phát triển này có ý nghĩa đặc biệt trong đời người, khi đứa trẻ chuyển từ hoạt động vui chơi là chủ đạo ở mầm non sang hoạt động học tập là chủ đạo. Hoạt động học đòi hỏi ở trẻ em những điều phải tuân thủ có thể là tự giác do trẻ thích học hoặc bị áp đặt từ bố mẹ, thầy cô giáo. Giai đoạn này, trẻ có thể khó khăn, bỡ ngỡ trong việc làm quen với việc tham gia một hoạt động đòi hỏi sự chú ý có chủ định, ghi nhớ có chủ định, sự nỗ lực của ý chí; khó khăn trong việc làm quen với trường mới, bạn mới và tuân thủ các nề nếp, kỉ luật của trường tiểu học. Cấp độ 2 (lớp 2-3): Định hình hoạt động học (nắm được cách học) để lĩnh hội nhiều hơn kiến thức khoa học, kỹ năng sống, thái độ ứng xử đúng, khám phá năng lực, năng khiếu của bản thân. Cấp độ 3 (lớp 4-5): Giai đoạn cuối cấp tiểu học, học sinh có sự phát triển nhanh về tâm sinh lý. Học sinh có khả năng tự học, nhận thức được các giá trị về sự học, về cuộc sống của bản thân, gia đình, xã hội và tự nhiên; dần dần nhận thức được giá trị của cá nhân, bộc lộ nhiều hơn các năng lực sở trường, ý kiến cá nhân. Ở mỗi mức độ phát triển tâm lý, học sinh có thể gặp phải nhiều khó khăn, vướng mắc phát sinh trong quá trình học tập, trong các mối quan hệ với bạn bè, thầy cô giáo, người thân, trong việc khám phá bản thân, đưa ra các quyết định, lựa chọn...cần được tư vấn, hỗ trợ kịp thời, hợp lý. 1.3. Những khó khăn trong công tác tư vấn tâm lý cho học sinh trong trường tiểu học: Với thời điểm hiện tại, vai trò của tâm lý học đã được thừa nhận trong việc trợ giúp học sinh vượt qua những vấn đề về hành vi và học tập. Trong trường học, công tác tư vấn tâm lý được triển khai dưới nhiều hình thức trong đó vận dụng kiến thức tâm lý học để nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, dự phòng và ngăn chặn những diễn biến không lành mạnh về sức khoẻ tinh thần của học sinh; trực tiếp tìm hiểu và can thiệp sớm với những trường hợp mới có dấu hiệu rối nhiễu; là cầu nối hỗ trợ cha mẹ học sinh chuyển học sinh tới những cơ sở trị liệu chuyên biệt hơn nếu cần thiết. Các em vẫn trong độ tuổi vị thành niên, chưa chín chắn trong suy nghĩ và chưa thể tự lập trong cuộc sống. Trong khi đó, cái tôi của mỗi cá nhân lại quá
  4. 8 lớn nên dễ dàng hình thành các hành vi sai lầm khi phải thường xuyên đối mặt với nhiều căng thẳng, áp lực đến từ việc học tập, gia đình, xã hội, nhà trường, bạn bè, Hơn nữa, cuộc sống hiện đại, mạng internet phát triển cũng kéo theo hàng loạt các vấn đề cám dỗ, tệ nạn xã hội, Chính vì vậy, các vấn đề trong tâm lý học đường ngày nay đang có xu hướng gia tăng cả về mức độ và số lượng như: tự sát, bạo lực học đường, giết người, trộm cướp, trấn lột, . Và không ít các vụ việc mà người gây án là học sinh chưa thể chịu trách nhiệm truy cứu hình sự. Thiếu sự sẻ chia và phải tự mình giải quyết các vấn đề xảy ra với bản thân, điều này làm gia tăng nguy cơ gây ra các hệ lụy nguy hiểm. Nếu không được đồng hành, tư vấn tâm lý học đường đúng cách và kịp thời, các em có thể ngày càng dần trở nên khép kín, tách biệt với xã hội, thậm chí là tự sát vì cho rằng như vậy bản thân sẽ được giải thoát. Tuy nhiên, thực tế hoạt động tư vấn tâm lý trong nhà trường, nhất là trường tiểu học còn gặp nhiều khó khăn. Thứ nhất, sự hiểu biết và sẵn sàng tiếp nhận tư vấn tâm lý nói chung, tư vấn tâm lý học đường nói riêng của đa số phụ huynh, giáo viên và học sinh còn hạn chế. Giáo viên khi gặp trường hợp học sinh chưa ngoan, thường nghĩ đến các biện pháp giáo dục trước khi áp dụng các biện pháp tâm lý để điều chỉnh. Cha mẹ khi nhận thấy con cái có các biểu hiện tâm lý bất thường thì đưa đến khám tại các khoa thần kinh chứ hiếm khi tìm chuyên gia tư vấn để hỗ trợ. Khó khăn thứ hai là sự thiếu vắng các điều kiện cần thiết để chính thức hoá đội ngũ làm công tác tư vấn tâm lý trong các nhà trường phổ thông cả về số lượng và chất lượng. Tất cả các tư vấn viên trong trường tiểu học đều là cán bộ, giáo viên kiêm nhiệm, đa số chưa được đào tạo, bồi dưỡng về chuyên môn nghiệp vụ tư vấn tâm lý (toàn tường mới có 3 đồng chí tham gia lớp bồi dưỡng và có chứng chỉ), không có chứng chỉ nghiệp vụ tư vấn tâm lý học đường theo chương trình do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành. Ba là, những vấn đề tâm lý ở học sinh ngày càng gia tăng: rất nhiều em cảm thấy căng thẳng trong việc học, sợ học, sợ làm cha mẹ thất vọng. Ngoài vấn đề học tập, mối quan hệ với bạn bè cũng là nguyên nhân gây ra bất ổn tâm lý ở học sinh. Số lượng học sinh bị bắt nạt sinh ra stress chiếm tỷ lệ tương đương với số em bị stress do học tập. Những học sinh thường xuyên tranh cãi với thầy cô
  5. 9 giáo hoặc bị thầy cô, bố mẹ la mắng, xử phạt cũng bị căng thẳng nhiều hơn các học sinh không bị như vậy. Theo số liệu điều tra, tỷ lệ có dấu hiệu rối nhiễu tâm lý trong trẻ em tuổi học đường là 20%. Thêm vào đó, phần lớn học sinh tiểu học thiếu hụt những kỹ năng cần thiết để ứng phó và giải quyết những vấn đề thực tiễn của cuộc sống, nhiều em rất ít khi tham gia các hoạt động tập thể, hoạt động xã hội ngoài nhà trường. Việc triển khai giáo dục kỹ năng sống và hoạt động trải nghiệm cho học sinh tiểu học mới chỉ phần nào bù đắp khoảng trống này. Chính những khó khăn trên làm cho tư vấn tâm lý học sinh trong trường tiểu học chưa trở thành một hoạt động mang tính khoa học, phổ biến và chuyên nghiệp, đòi hỏi cán bộ quản lý nhà trường cần có các biện pháp chỉ đạo thích hợp để nâng cao chất lượng hoạt động này. 1.4. Qua thực tế công tác chỉ đạo Qua những năm làm công tác chỉ đạo với vai trò là hiệu trưởng tôi nhận thấy (qua công tác điều tra) có rất nhiều học sinh bị đơn độc, thiếu người chia sẻ, động viên, giúp đỡ,... dẫn đến nảy sinh trong các em những biểu hiện ban đầu của sự thiếu tự tin, dần dẫn đến tình trạng mất thăng bằng trong cuộc sống, chán học, không quan tâm đến những điều xung quanh, hoặc có những hành vi không kiểm soát được, hoặc không hiểu để dẫn đến những hành vi không đúng chuẩn mực hoặc không bình thường, ... Như vậy định hướng tư vấn tâm lý trong nhà trường theo hai phương hướng để tiến hành: Phương hướng 1: Tư vấn tâm lý đối với những trường hợp trẻ khuyết tật, tự kỷ, thiểu năng trí tuệ, ... theo các cấp độ ảnh hưởng của bệnh tật để các em hòa nhập. Phương hướng 2: Tư vấn tâm lý đối với tất cả học trò qua hoạt động, diễn biến tâm lý, khích lệ tinh thần theo chiều hướng tích cực với yêu cầu học tập, vui chơi. Trên đây là những vấn đề mà bản thân tôi nghiên cứu, tìm hiểu và xác định cần có những giải pháp để giải quyết những vần đề đã nêu ra. 2. Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến: 2.1. Biện pháp 1: Xác định vai trò của công tác tư vấn tâm lý:
  6. 10 Hoạt động tư vấn tâm lý học đường cho học sinh giúp các em vượt qua được những vấn đề nêu trên, hỗ trợ cải thiện tốt các mối quan hệ giữa con cái với cha mẹ, học trò với thầy cô, giữa bạn bè với nhau, Khi những khó khăn, vướng mắc trong quá trình học tập cũng như cuộc sống sẽ được tháo gỡ, các em sẽ cảm thấy thoải mái, dễ chịu, giảm bớt các căng thẳng, mệt mỏi, áp lực. Từ đó, học tập hiệu quả hơn, cuộc sống cũng được cân bằng và vui vẻ hơn. Tư vấn tâm lý học đường còn là quá trình đồng hành cùng các em định hướng tương lai, xác định công việc mơ ước và phù hợp với bản thân. Nhờ đó, các em tránh được tình trạng mất phương hướng trong cuộc sống. Và hơn hết, áp dụng tư vấn học đường từ sớm sẽ giúp xử lý được các nguy cơ tiềm ẩn có thể khởi phát ở trẻ em như chán học, bỏ học, bạo lực học đường, các hành vi vi phạm pháp luật, tự hủy hoại bản thân, sa ngã vào các tệ nạn xã hội, Do đó, tư vấn tâm lý học đường là một hoạt động vô cùng quan trọng đối trong môi trường học tập, đòi hỏi sự tham gia đa chiều, chất lượng từ phía nhà trường, gia đình và các chuyên gia/bác sĩ tâm lý. Với tinh thần thầy giáo, cô giáo là kim chỉ nam giúp học trò trong giải quyết những vấn đề còn vướng mắc trong quá trình học tập, sinh hoạt tại trường đồng thời thực hiện tốt việc đổi mới nhận xét, đánh giá, kiểm tra, khen thưởng học sinh (theo các Thông tư 22/2016/TT-BGDĐT của Bộ giáo dục và Đào tạo ngày 22 tháng 9 năm 2016, Thông tư 27/2020/TT-BGDĐTcủa Bộ giáo dục và Đào tạo ngày 04 tháng 9 năm 2020), các trường tiểu học không chỉ tập trung vào việc dạy chữ, dạy kiến thức mà còn phải chăm lo đời sống tinh thần cho học sinh, khích lệ học sinh thực hiện tốt năng lực, phẩm chất. Việc tư vấn tâm lý cho học sinh ngày càng trở nên cấp thiết hơn trong nhà trường. Công tác tư vấn tâm lý học đường có vai trò hết sức quan trọng trong việc duy trì và ổn định tình trạng tâm lý của học sinh, giúp các em tư duy, suy nghĩ và nhìn nhận các vấn đề xung quanh một cách đúng đắn. Việc nắm bắt tâm lý học sinh giúp các thầy cô truyền tải kiến thức một cách dễ dàng và hiệu quả hơn. Ngoài ra, thầy cô, nhà trường cũng kết hợp với gia đình đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng nhân cách của trẻ. Vì vậy, tôi thường xuyên tuyên truyền, quán triệt trong tập thể cán bộ, giáo viên, nhân viên, học sinh và phụ huynh, các ban ngành đoàn thể, chính
  7. 11 quyền địa phương về tầm quan trọng, mục đích, ý nghĩa của công tác tư vấn tâm lý học sinh. Đồng thời triển khai các biện pháp chỉ đạo thông qua các Kế hoạch cụ thể để thực hiện công tác này có hiệu quả: Tăng cường công tác tổ chức, cán bộ; Tư vấn tâm lý cho chính đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên; Xây dựng và triển khai kế hoạch và những việc làm cụ thể; Đảm bảo các điều kiện về cơ sở vật chất, kinh phí hoạt động phòng tham vấn; Đa dạng hóa các nội dung, hình thức tư vấn tâm lý cho học sinh; Phối hợp hiệu quả các lực lượng trong và ngoài nhà trường; Thường xuyên kiểm tra, giám sát việc thực hiện công tác tư vấn tâm lý học sinh. 2.2. Biện pháp 2: Tăng cường công tác tổ chức, cán bộ; Xây dựng kế hoạch; Tư vấn để cán bộ, giáo viên, nhân viên hiểu rõ vấn đề cần làm,....: Để đảm bảo thực hiện tốt biện pháp này, việc đầu tiên trong quá trình thực hiện là thành lập Tổ tư vấn, hỗ trợ học sinh: Thực hiện các văn bản chỉ đạo của cấp trên, ngay khi bắt đầu năm học, tôi đã ra quyết định đã thành lập Tổ tư vấn, hỗ trợ học sinh, gồm: Hiệu trưởng, giáo viên, Tổng phụ trách là những người đã được tham gia lớp tư vấn và có chứng chỉ tư vấn học đường. Song hành với xây dựng Kế hoạch giáo dục, Kế hoạch năm học đồng thời Xây dựng Kế hoạch tư vấn tâm lý học đường. Thực hiện trên phương châm bám sát những vấn đề cần giải quyết để thực hiện. Mỗi thành viên của tổ tư vấn phụ trách một tổ chuyên môn có trách nhiệm hướng dẫn, tư vấn cùng các lớp có học sinh, phụ huynh, giáo viên cần tư vấn và những vấn đề phát sinh trong suốt năm học. Quán triệt nghiêm túc trong các thành viên Tổ tư vấn về mục đích, nguyên tắc thực hiện hoạt động tư vấn tâm lý học sinh. Phân công nhiệm vụ cho từng thành viên và phân công giáo viên tổng phụ trách làm thường trực tư vấn tâm lý cho học sinh tại phòng tham vấn. Để khắc phục hạn chế về nghiệp vụ tư vấn của các thành viên, tôi đã cung cấp nhiều tài liệu tham khảo, khuyến khích các giáo viên học hỏi, nâng cao các kĩ năng cần thiết cho công tác tham vấn tâm lý như: kỹ năng lắng nghe, đặt câu hỏi, phản hồi, xử lý im lặng, thấu cảm, để đạt được hiệu quả cao nhất khi tư vấn, hỗ trợ, giúp đỡ trò tháo gỡ các vấn đề mà học sinh gặp phải.
  8. 12 Đồng thời, tập huấn, trao đổi chia sẻ kiến thức, cách tư vấn cho giáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ môn để có thể giải quyết các vấn đề ban đầu tại lớp. Động viên các giáo viên chủ nhiệm tăng cường quan tâm, theo dõi tình hình tâm lý học sinh của lớp mình và thực hiện việc tư vấn ngay tại lớp học. Đối với học sinh khuyết tật, học sinh có hoàn cảnh khó khăn càng cần được chú ý hơn, giúp đỡ học sinh tự phát huy khả năng để khắc phục khó khăn. Tổ chức khảo sát, xây dựng dữ liệu tâm lý ban đầu với học sinh; phân loại, theo dõi, cập nhật thường xuyên đặc điểm, diễn biến tâm lý của học trò. Chỉ đạo sát sao việc tiến hành điều tra cơ bản đầu năm. Qua đó, giáo viên chủ nhiệm nắm được đặc điểm tâm sinh lý, hoàn cảnh gia đình, tình trạng sức khỏe của từng học sinh trong lớp mình phụ trách. Những trường hợp học sinh có hoàn cảnh đặc biệt: khuyết tật hòa nhập, gia đình khó khăn, không có cha/mẹ, bị bệnh hiểm nghèo, sẽ được nhà trường lập hồ sơ theo dõi riêng và tạo điều kiện hỗ trợ, giúp đỡ học sinh trong thời gian học tập tại trường và báo cáo số liệu với ban tư vấn nhà trường. Cụ thể: Khối Nhóm có gia Nhóm có bố Nhóm mồ côi Nhóm ở với đình khó khăn mẹ ly dị, ở cha hoặc mẹ, ông bà, cô về kinh tế; bố với bố hoặc hoặc cả cha lẫn bác mẹ hay cãi mắng mẹ mẹ nhau Khối 1 5 10 3 36 Khối 2 6 15 2 25 Khối 3 7 6 4 19 Khối 4 8 12 4 30 Khối 5 4 13 5 25 Tổng 30 56 18 135 Đồng thời với việc điều tra các thông tin hành chính cơ bản, tâm sinh lý học sinh sẽ được điều tra, phân loại thành ba nhóm: nhóm thứ nhất có tâm lý khoẻ mạnh (không gặp khó khăn trong học tập, trong việc thích ứng với môi trường học đường) - thường chiếm khoảng 87% sĩ số học sinh; Nhóm thứ hai gồm những học sinh có nguy cơ dẫn đến các khó khăn trong học tập và phát
  9. 13 triển - chiếm khoảng 10%; Nhóm thứ ba là những học sinh có các vấn đề trong học tập và phát triển. Đối tượng này thường là các học sinh khuyết tật hòa nhập, diện tăng động, trí tuệ chậm phát triển - chiếm khoảng 5%. Sau đó, nhà trường tiến hành chuẩn đoán chuyên biệt ban đầu đối với học sinh thuộc nhóm 3 để tìm hiểu mức độ, tình trạng bệnh lý trong hoạt động trí tuệ và các lĩnh vực khác của nhân cách học sinh. Dựa vào những chẩn đoán này, giáo viên tham vấn với cha mẹ học sinh để cùng phối hợp tư vấn tâm lý học đường tại trường, có hồ sơ theo dõi đánh giá hàng tháng; hoặc đưa đến các trung tâm trị liệu chuyên biệt về tâm lý, trí tuệ nếu học sinh bị khuyết tật quá nặng không thể học hòa nhập. Định kì sau mỗi đợt kiểm tra, khảo sát, nhà trường đều lập phiếu theo dõi cho đối tượng học sinh chưa hoàn thành và hoàn thành mức độ thấp các bài kiểm tra nhằm xác định nguyên nhân học sinh gặp khó khăn trong việc học tập, từ đó lập kế hoạch bồi dưỡng, giúp đỡ cả về kiến thức và tâm lý cho các học sinh này. Xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện hoạt động tư vấn tâm lý cho học sinh theo đúng kế hoạch đã xây dựng. Hàng tháng, hàng kỳ có báo cáo cụ thể, thống nhất và tiếp tục thực hiện. Kế hoạch hoạt động tư vấn tâm lý học sinh trong năm học, thể hiện rõ các nội dung : Mục đích, nguyên tắc, tổ chức thực hiện, phân công nhiệm vụ, kinh phí, nội dung, hình thức tư vấn, công tác phối hợp Kế hoạch này được thảo luận, thông qua và tổ chức triển khai theo đúng quy chế tập trung dân chủ, thống nhất các nội dung từ Ban giám hiệu, cấp ủy chi bộ, Hội đồng sư phạm và Ban đại diện Cha mẹ học sinh. Nhờ việc thực hiện từng bước một cách khoa học, có sự đóng góp ý kiến của tập thể nên công tác tổ chức, chỉ đạo hoạt động tư vấn tâm lý học sinh trong trường học của tôi tương đối hiệu quả. Kế hoạch năm, kế hoạch tháng được xây dựng và triển khai thực hiện nghiêm túc. 2.3. Biện pháp 3: Thành lập phòng tham vấn tâm lý cho học sinh Mặc dù cơ sở vật chất nhà trường còn nhiều khó khăn, nhưng với nhận thức về tầm quan trọng, mục đích, ý nghĩa của hoạt động tư vấn tâm lý cho học sinh, tôi đã chỉ đạo thành lập phòng tham vấn tâm lý, đi vào hoạt động từ tháng 10/2020.
  10. 14 Được đặt tại tầng 2, diện tích 25m 2, phòng tham vấn đảm bảo tính riêng tư, kín đáo, dễ tiếp cận; được trang trí thân thiện, đẹp mắt, phù hợp với tâm sinh lý học sinh tiểu học; có các trang thiết bị, tài liệu, học liệu cần thiết: biển tên, bảng quy chế hoạt động phòng tham vấn, tủ sách, tủ tài liệu, bàn ghế dành cho công tác tham vấn cá nhân, tham vấn nhóm. Thường trực tại phòng tham vấn là giáo viên Tổng phụ trách. Các thành viên trong Tổ tư vấn, hỗ trợ học sinh thực hiện việc tư vấn cá nhân/tư vấn nhóm cho học sinh đều có ghi biên bản lưu trong hồ sơ. Nhà trường truyền thông, quảng bá về hoạt động của phòng tham vấn thông qua các buổi chào cờ đầu tuần, sinh hoạt tập thể, khuyến khích giáo viên đưa học sinh đến phòng tham vấn để tư vấn, hỗ trợ tâm lý cho các em thêm hiệu quả. Tới nay, phòng tham vấn đã thực hiện tốt các mục tiêu: Giúp học sinh giảm bớt cảm xúc tiêu cực; Giúp học sinh tăng thêm hiểu biết về bản thân và hoàn cảnh của mình; Giúp học sinh đưa ra các quyết định lành mạnh, hữu ích; Hướng dẫn học sinh thực hiện các quyết định. Trong năm học các em học sinh cũng đã tìm đến phòng tư vấn là 34 em. Các vấn đề về vướng mắc bản thân, bạn bè, gia đình, xã hội, đã được giải quyết. 2.4. Biện pháp 4: Triển khai các nội dung và hoạt động tư vấn tâm lý cho học sinh đầy đủ về nội dung, đa dạng về hình thức. Theo khảo sát của tổ chức Plan International - Tổ chức phi chính phủ lớn nhất thế giới hoạt động trong lĩnh vực Quyền Trẻ em gái, tại các trường học ở Việt Nam, 80% học sinh không có vấn đề khó khăn và chỉ cần thực hiện các hoạt động nâng cao nhận thức, kỹ năng và phòng ngừa; 15% học sinh có căng thẳng tâm lý, có nguy cơ rối nhiễu tâm lý cần được tham vấn cá nhân và nhóm; 15% học sinh có rối loạn lo âu, trầm cảm, stress sau sang chấn trường học cần sự hỗ trợ chuyên gia. Luật Trẻ em cũng quy định việc bảo vệ trẻ em được thực hiện theo ba cấp độ: phòng ngừa, hỗ trợ, can thiệp. Do vậy, tôi đã chỉ đạo tổ chức thực hiện công tác tư vấn học đường theo mô hình dịch vụ ba cấp, tập trung vào ba mảng nội dung: phòng ngừa, phát hiện sớm để hỗ trợ và can thiệp.
  11. 15 Cấp độ 1: Thực hiện việc biện pháp có tính chất phòng ngừa và làm lành mạnh hóa môi trường học tập để giảm thiểu những vấn đề khó khăn học sinh có thể gặp phải. Cụ thể như: Tuyên truyền về mối nguy hiểm, hậu quả, kỹ năng phòng ngừa các yếu tố, hành vi gây tổn hại, xâm hại trẻ em; bạo lực học đường; tuyên truyền vệ sinh an toàn thực phẩm; Tích cực xây dựng trường học an toàn, thân thiện; Treo các băng rôn, khẩu hiệu tuyên truyền... Làm tốt các nội dung phòng ngừa này sẽ giảm bớt khó khăn khi thực hiện hoạt động hỗ trợ tâm lý ở mức cao hơn. Tư vấn tâm lý lứa tuổi, giới tính; Tư vấn giáo dục kỹ năng sống, biện pháp ứng xử văn hoá, phòng chống bạo lực, xâm hại và xây dựng môi trường giáo dục an toàn, lành mạnh, thân thiện; Tư vấn tăng cường khả năng ứng phó, giải quyết vấn đề phát sinh trong mối quan hệ gia đình, thầy cô, bạn bè và các mối quan hệ xã hội khác; Tư vấn kỹ năng, phương pháp học tập hiệu quả là các nội dung tư vấn tâm lý có thể thực hiện ở cấp độ 1, thông qua các hình thức như: Xây dựng chuyên đề về tư vấn tâm lý cho học sinh và bố trí thành bài giảng riêng hoặc lồng ghép trong các tiết sinh hoạt lớp, sinh hoạt dưới cờ; Tổ chức dạy tích hợp các nội dung tư vấn tâm lý cho học sinh trong các môn học chính khoá và hoạt động trải nghiệm, hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp; Tổ chức các buổi nói chuyện chuyên đề, hoạt động ngoại khoá, câu lạc bộ, diễn dàn về các chủ đề liên quan đến nội dung cần tư vấn cho học sinh. Ví dụ: Vào buổi sinh hoạt chào cờ đầu tuần với hình thức chia sẻ với học sinh tôi đã dùng biện pháp trò chuyện trực tiếp, gần gũi, thận thiện để nắm bắt tâm lý các em thông qua các dạng trò chơi, hoặc cách đặt câu hỏi gợi mở, ... để giúp các em chia sẻ những khó khăn rồi định hướng cho các em bằng những việc làm, lời nói cụ thể giúp các em cởi mở hơn trong giao tiếp đồng thời bộc bạch lòng mình với các bạn, chia sẻ những kinh nghiệm của bản thân giúp các em vui vẻ trong suốt thời gian học tập. Cấp độ 2: Áp dụng cho các học sinh cần được hỗ trợ bằng tham vấn/trị liệu. Các em này có những khó khăn trong học tập như kết quả thấp, không tập trung chú ý, thiếu động cơ học tập hoặc có những vấn đề liên quan đến thái độ cư xử, hành vi không thích hợp,... mà việc tuyên truyền, phổ biến chung không còn tác dụng phòng ngừa. Ở cấp độ này, sử dụng các hình thức tư vấn như: tham vấn cá nhân, tham