Báo cáo Sáng kiến Một số biện pháp bồi dưỡng đội ngũ giáo viên Trường Mầm non
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Báo cáo Sáng kiến Một số biện pháp bồi dưỡng đội ngũ giáo viên Trường Mầm non", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
bao_cao_sang_kien_mot_so_bien_phap_boi_duong_doi_ngu_giao_vi.docx
Nội dung tài liệu: Báo cáo Sáng kiến Một số biện pháp bồi dưỡng đội ngũ giáo viên Trường Mầm non
- 7.1.1. Cơ sở lí luận của bồi dưỡng đội ngũ giáo viên trong trường mầm non Thanh Vân. Thế kỷ XXI, thế kỷ của nền văn minh và trí tuệ, giáo dục mầm non cũng cần có chuyển biến mới về chất lượng. Việc đổi mới về nội dung, phương pháp giáo dục được đặt ra không chỉ đối với cấp học mầm non mà là trong toàn bộ hệ thống giáo dục. Vấn đề này đã được đề cập từ lâu và đang trở lên thật bức xúc trong thập kỷ này. Để giải quyết vấn đề này, trong trường mầm non, trước hết chúng ta phải tìm hiểu thực trạng thực tế trình độ chuyên môn của giáo viên hiện tại để từ đó đề ra những biện pháp bồi dưỡng chuyên môn nâng cao chất lượng cho đội ngũ cán bộ giáo viên. Thực tế là để bổ sung tri thức và những vấn đề cần thiết về kiến thức, kỹ năng còn thiếu hoặc đã lạc hậu, để nâng cao trình độ, phát triển thêm năng lực chuyên môn dưới những hình thức phù hợp, Nhằm nâng cao phẩm chất đạo đức và năng lực chuyên môn để mỗi giáo viên có cơ hội củng cố, mở mang hoặc nâng cao hệ thống tri thức kỹ năng, kỹ xảo, giúp cho hiệu quả công việc đang làm được tốt hơn. Đối với giáo viên, người giữ vai trò quyết định với chất lượng và sự phát triển của nhà trường, họ không những tiếp nhận những tri thức mới, mà còn cập nhật những tri thức hiện đại nảy sinh theo sự phát triển của khoa học kỹ thuật và sự tiến bộ của xã hội. Vì vậy, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ nâng cao chất lượng cho đội ngũ giáo viên mầm non là quá trình cung cấp những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, chuyên môn nghiệp vụ họ đã có sẵn nhằm nâng cao năng lực chuyên môn, cập nhật những tri thức mới, rút kinh nghiệm từ những bài học thực tế để đạt hiệu quả cho công tác giáo dục. Trẻ có thể phát triển toàn diện, có nhân cách tốt hay không đều phụ thuộc vào việc chăm sóc trẻ ngay từ lúc đầu. Giáo dục trẻ không chỉ thông qua lời nói, cử chỉ hay một hoạt động đơn thuần hoặc bắt buộc nào đó của mọi người mà nhân tố quyết định vấn đề này là chất lượng của một quá trình chăm sóc giáo dục trẻ của đội ngũ cán bộ giáo viên mầm non trong các nhà trường. 7.1.2.Thực trạng của bồi dưỡng đội ngũ giáo viên trong trường mầm non Thanh vân. Trong nhận thức chung về tình hình đội ngũ, dự thảo chiến lược về phát triển ngành học mầm non của Bộ giáo dục và đào tạo đã nêu rõ “Giáo viên mầm non là một đội ngũ trẻ, xung sức nhưng trình độ đào tạo thấp, nhất là giáo viên ngoài biên chế. Trong chiến lược xây dựng đội ngũ cần giữ vững số giáo viên hiện có và tăng cường đào tạo bổ xung giáo viên cho các năm học tới”. Thấm nhuần lời dạy sâu sắc của Bác Hồ: Cán bộ giáo viên trường mầm non làm nhiệm vụ “Thay mẹ dạy trẻ” từ đó phó hiệu trưởng cần xây dựng tập thể nhà trường hoạt động theo kỷ cương, tình thương, trách nhiệm, trong đó mỗi cán bộ giáo viên là “Tấm gương sáng cho trẻ noi theo”. Đội ngũ giáo viên là nguồn lực lớn nao nhất ở trường mầm non, đó là nguồn lực con người, hàng ngày họ trực tiếp quản lý việc chăm sóc và giáo dục hàng triệu trẻ em từ tuổi nhà trẻ đến tuổi các cháu chuẩn bị vào lớp 1 Tiểu học.
- Trong điều kiện hiện nay, ngành học mầm non không ngừng phát triển theo quy mô đa dạng hoá các loại hình đào tạo theo hướng “Phát triển các hình thức công lập, tư thục”.(Nhiệm vụ năm học hàng năm). Năm học 2018-2019 nhà trường có 17 lớp với tổng số 497 học sinh, trong đó có 17 lớp học sinh ăn bán trú tại trường với tổng số 497 cháu đạt 100%, toàn trường có 31 cán bộ, giáo viên. 100% cán bộ, giáo viên đều là nữ. Nhà trường trong những năm gần đây liên tục đạt danh hiệu “Tập thể lao động xuất sắc”. Hiện tại cơ sở vật chất nhà trường có tổng số 18 phòng học, có bếp ăn được thiết kế theo hệ thống một chiều đảm bảo với yêu cầu vệ sinh an toàn thực phẩm. Hệ thống các phòng điều hành đã được xây dựng kiên cố nhưng chưa đủ số phòng so với yêu cầu. Trường được trang bị hệ thống chiếu sáng, điện nước, quạt điện đầy đủ. Tuy vậy, trang thiết bị dạy học của trường còn thiếu. 7.1.2.1. Về đội ngũ CBQL, giáo viên, nhân viên của nhà trường: * Thống kê số lượng đội ngũ giáo viên: Trình độ chuyên Trình độ tin môn học Năm Sơ C/C C/C TT Họ và tên sinh ĐH CĐ TC cấp A B 1 Nguyễn Thị Hải 1974 x x 2 Nguyễn Thị Mỵ 1983 x x 3 Nguyễn T Hoài Hương 1984 x x 4 Tô Thị Lan Anh 1985 x x 5 Nguyễn Thị Thảo 1984 x x 6 Nguyễn Thị Hiền 1966 x x 7 Nguyễn Thị Mỹ Trang 1984 x x 8 Hoàng T Thu Hồng 1991 x x 9 Lê Thị Huyền 1983 x x 10 Đỗ Thị Hạnh 1984 x x 11 Trần Thị Hằng 1987 x x 12 Nguyễn T Thanh Tuyền 1986 x x 13 Nguyễn Thị Hạnh 1976 x x 14 Nông Thị Năm 1990 x x 15 Lê Thị Thu Hà 1985 x x 16 Trần Thị Hoan 1994 x x
- 17 Lê Thị Thu Hằng 1984 x x 18 Bùi Thị Thu Nga 1980 x x 19 Nguyễn Thị Nga 1988 x x 20 Lê Thị Vân 1978 x x 21 Dương Thị Thúy 1982 x x 22 Nguyễn Thị Như 1968 x x 23 Đinh Thị Lan 1983 x x 24 Nguyễn Thị Giới 1966 x x 25 Nguyễn Thị Thu Huyên 1982 x x 26 Đỗ Thị Trần 1965 x x 27 Đỗ Thị Huyền Trang 1990 x x 28 Đỗ Thị Quyên 1984 x x 29 Nguyễn Thị Loan 1984 x x 30 Nguyễn Thị Trang 1995 x x 31 Vũ Thị Hồng Nhung 1980 x x Cộng 26 03 02 0 06 25 * Tổng hợp số liệu thống kê: - Tổng số 31 cán bộ, giáo viên. Trong đó: 02 CBQL đạt trình độ trên chuẩn: Trình độ chuyên môn 02 đồng chí ĐHSP; trình độ chính trị: Trung cấp là 02 đồng chí. 29/29 giáo viên đạt trình độ chuẩn và trên chuẩn: 02 THSP, 03 CĐSP, 24 ĐHSP. Có chứng chỉ tin học: 31/31 đồng chí đạt 100% * Đánh giá xếp loại chuyên môn giáo viên đầu năm học 2018 – 2019 qua dự giờ. Môn học XL: Tốt XL Khá XL : ĐYC Yếu KPKH 5 4 2 0 Toán 4 3 2 0 Văn học 5 0 0 0 Âm nhạc 7 4 2 0 Tạo hình 5 3 1 0 Chữ cái 5 2 0 0
- GDTC (thể dục) 2 2 0 0 Cộng 33 18 7 0 * Đánh giá phân loại các mặt cuối năm của giáo viên Xếp loại phẩm chất, Chuyên môn Tổng số chính trị đạo đức lối TT sống Hồ sơ Tiết dạy giáo viên Yế Tốt Khá ĐYC Yếu Tốt Khá ĐYC Yếu Tốt Khá ĐYC u 1 29 29 24 5 0 20 9 0 Tổng 29 24 5 0 20 9 0 7.1.2.2. Danh hiệu thi đua Năm học BK tỉnh CSTĐCS LĐTT 2017- 2018 2 4 24 7.1.2.3. Số lượng lớp và trẻ Năm học Tổng Số nhóm lớp Số trẻ huy Nhóm trẻ Mẫu giáo Nhóm trẻ Mẫu giáo động 2018 – 2019 487 03 14 63 424 - Nhìn chung đội ngũ giáo viên nhiệt tình trong công tác, yêu nghề mến trẻ. Tích cực học tập để nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ. Luôn cố gắng phấn đấu vươn lên. Tuy nhiên cũng còn những phần hạn chế đó là: Trình độ chuyên môn không đồng đều, dẫn đến việc thực hiện nhiệm vụ năm học chưa được đồng bộ, kết quả chăm sóc giáo dục trẻ chưa cao . 7.1.2.4. Về chất lượng học sinh: * Nhà trẻ: Tổng 63 trẻ - Phát triển nhận thức: Đạt: 45/63 = 71.4% ; Chưa đạt: 18/63 = 28.6% - Phát triển tình cảm xã hội: Đạt: 50/63 = 79.3%; Chưa đạt: 13/63= 20.7% - Phát triển ngôn ngữ: 48/63= 76.1% ; Chưa đạt: 15/63 = 23.9% - Phát triển thể chất: Đạt: 43/63 = 68.2%; Chưa đạt: 20/63 = 31.8% * Mẫu giáo: 424 trẻ - Phát triển nhận thức: Đạt: 345/424 = 81.3%; Chưa đạt: 79/424 = 18.7% - Phát triển TCXH: Đạt: 355/424 = 83.7%; Chưa đạt: 69/424=16.3% - Phát triển ngôn ngữ: Đạt: 398/424 = 93.8%; Chưa đạt: 26/424 = 6.2% - Phát triển thể chất: Đạt: 348/424= 82%; Chưa đạt: 76/424 = 18% - Phát triển thẩm mỹ: Đạt: 395/424 = 93.1%; Chưa đạt: 29/424 = 6.9% 7.1.2.5. Về phía phụ huynh:
- Một số phụ huynh đã quan tâm đến việc học của con em mình nhưng sự quan tâm chưa đúng cách, chưa khoa học, còn yêu cầu giáo viên dạy trước chương trình cho con em mình. 7.1.2.6. Đánh giá những mặt khó khăn, thuận lợi, nguyên nhân hạn chế trong việc bồi dưỡng chuyên môn ở trường mầm non Thanh Vân. a) Thuận lợi Trường Mầm non Thanh Vân là trường có nhiều năm liên tục đạt thành tích tập thể lao động xuất sắc với sự quan tâm đầu tư về CSVC của UBND xã Thanh Vân, Phòng giáo dục và đào tạo huyện Tam Dương đây thực sự là môi trường thuận lợi cho việc đẩy mạnh chuyên môn trong nhà trường. - Đội ngũ CBQL, giáo viên, nhân viên 100% có trình độ chuẩn và trên chuẩn, đa phần còn rất trẻ, năng động, sẵn sàng tiếp nhận cái mới, yêu nghề, gắn bó với nhà trường, có tinh thần trách nhiệm, chấp hành kỷ luật chuyên môn tốt, có ý thức vươn lên trong công tác. - Cán bộ, giáo viên, nhân viên được đào tạo tin học cơ bản, 33/33 cán bộ, giáo viên, nhân viên có trình độ tin học văn phòng A,B. b) Khó khăn Trình độ chuyên môn của giáo viên trong nhà trường không đồng đều. Số học sinh trên một lớp đông, bởi vậy ảnh hưởng một phần đến chất lượng dạy và học của trẻ. Một số phụ huynh chưa nhận thức đúng về ngành học mầm non. c) Nguyên nhân của tồn tại hạn chế - Do điều kiện cơ sở vật chất còn nghèo nàn, các cấp, các ngành chưa thực sự quan tâm đến ngành học Mầm non, cụ thể như đồ dùng giảng dạy, đồ chơi phục vụ cho các hoạt động do cô giáo tự làm có độ bền chưa cao, tính thẩm mỹ chưa cao không gây được sự hứng thú chú ý của trẻ. - Do trình độ của giáo viên còn thấp, không đồng đều nhận thức về vị trí ngành học còn hạn chế, chưa sâu sắc dẫn đến công tác tự bồi dưỡng cho mình còn kém. - Hầu hết giáo viên chưa quan tâm đến đầu tư thích đáng trong việc tự nâng cao chất lượng giáo dục cho chính bản thân mình. - Do nhận thức của một số phụ huynh học sinh đối với ngành học còn hạn hẹp. Họ cho rằng Mầm non là nơi trông, gửi trẻ và coi nhẹ việc đưa con em mình đến trường. Qua khảo sát tình hình thực tế đầu năm tôi nhận thấy kết quả giờ dạy tốt còn thấp, bộ hồ sơ sổ sách xếp loại tốt còn chưa cao. Các lĩnh vực phát triển trẻ còn đạt thấp. Bản thân tôi thấy cần phải nghiên cứu tìm ra những biện pháp bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ giáo viên. Từ đó xây dựng ý thức học tập, giúp đội ngũ giáo viên cập nhật kiến thức, kỹ năng mới, bổ sung những
- kiến thức kỹ năng thiếu hụt. Giúp đội ngũ giáo viên luôn sẵn sàng tiếp cận với những đổi mới trong chuyên môn, nghiệp vụ, ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy để đáp ứng yêu cầu phát triển của ngành học. Có như vậy mới tạo được đội ngũ giáo viên hoàn thiện về nhân cách, có đủ trình độ về kiến thức chuẩn, tay nghề được nâng cao, vững vàng về chuyên môn nghiệp vụ. 7.2. Về khả năng áp dụng của sáng kiến Xuất phát từ cơ sở lý luận, căn cứ vào tình hình thực tiễn. Xuất phát từ nhận thức về tầm quan trọng của việc bồi dưỡng đội ngũ giáo viên, tôi đã quyết định khảo nghiệm, tham khảo ý kiến của đội ngũ cán bộ giáo viên nhà trường cũng như đội ngũ cán bộ quản lý, các chuyên viên ngành học mầm non huyện Tam Dương để đưa ra những phương pháp, biện pháp bồi dưỡng hữu hiệu nhất cho đội ngũ giáo viên trường Mầm non Thanh Vân. 7.2.1. Biện pháp 1: “Nâng cao trình độ chính trị, phẩm chất đạo đức cho đội ngũ giáo viên” Đất nước ta đã và đang bước vào thời kỳ đổi mới và thực hiện xây dựng con người mới năng động, sáng tạo, có đức, có tài. Chính vì thế việc bồi dưỡng nâng cao trình độ chính trị, phẩm chất đạo đức cho mỗi giáo viên là việc làm hết sức cần thiết. Người cán bộ quản lý phải biết giúp giáo viên nắm bắt kịp thời, hiểu và nhận thức đúng các chủ trương, đường lối chính sách của Đảng, Nhà nước. Đồng thời giúp cho giáo viên nắm bắt được một cách vững vàng, cụ thể mục tiêu giáo dục nói chung và mục tiêu ngành học mầm non nói riêng. Để có nhận thức đúng về vị trí, vai trò trách nhiệm của mình. Để thực hiện tốt công tác trên người cán bộ quản lý cần làm một số việc sau : - Bố trí, sắp xếp thời gian hợp lý cho giáo viên, Đảng viên trong nhà trường được học các Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng, chủ trương đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước do địa phương tổ chức. - Tổ chức Hội thi: “Kể chuyện tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” cho chị em giáo viên tham gia dự thi qua đó chị em được học tập và noi theo. - Tổ chức cho giáo viên tham gia các cuộc thi tìm hiểu về Đảng, về pháp luật, về ngành giáo dục. - Tổ chức thường xuyên đọc báo, chú trọng tới báo Đảng, báo giáo dục thời đại, các tạp chí mầm non. - Tổ chức sinh hoạt kỷ niệm theo các chủ điểm lớn. Tổ chức tốt các ngày hội lễ trong năm. Thông qua đó giáo dục nâng cao phẩm chất đạo đức cách mạng cho giáo viên. Kịp thời uốn nắn những biểu hiện lệch lạc. Giải quyết tốt các tình huống xảy ra trong nhà trường. - Người cán bộ quản lý còn phải là tấm gương sáng cho tập thể sư phạm nhà trường noi theo. 7.2.2. Biện pháp thứ hai: Tổ chức giáo viên học tập nghiên cứu nhiệm vụ năm học, các văn bản, chỉ thị, qui chế chuyên môn
- Trường mầm non là một tổ chức xã hội, tổ chức giáo dục, do đó có những nội qui, qui chế cụ thể. Mọi hoạt động của nhà trường cũng như những tác động quản lý đều phải dựa trên cơ sở luật pháp và những qui định của những văn bản đó. Chính vì vậy việc tổ chức cho giáo viên học tập nghiên cứu nhiệm vụ năm học, các văn bản, chỉ thị, qui chế chuyên môn là mọi việc làm cần thiết của người cán bộ quản lý nhà trường trong đầu năm học mới. *Mục đích Nhằm giúp cho giáo viên nắm được các chủ trương đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước, của ngành và cụ thể là mục tiêu, yêu cầu, nhiệm vụ mà năm học phải thực hiện, trên cơ sở thực hiện những nhiệm vụ trọng tâm của ngành trong năm học cũng như những mục tiêu, yêu cầu, nhiệm vụ của nhà trường. * Cách tiến hành Vào đầu năm học khoảng giữa tháng 8 tổ chức cho cán bộ giáo viên tham gia học lớp bồi dưỡng chính trị. Đồng chí bí thư chi bộ, hiệu trưởng nhà trường truyền đạt về tình hình chính trị, các quan điểm đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước cũng như của ngành. Triển khai nhiệm vụ năm học cũng như các văn bản của các cấp; Hàng tháng vào thứ năm tuần thứ nhất nhà trường tổ chức họp hội đồng nhà trường mười năm phút đầu tiên dành triển khai các văn bản, chỉ thị của các cấp, các nghành . Tổ chức thường xuyên cho giáo viên đọc báo, chú trọng báo giáo dục thời đại và tạp chí mầm non. Động viên giáo viên tham gia các cuộc thi tìm hiểu về Đảng, về pháp luật, về ngành giáo dục... 7.2.3. Biện pháp thứ 3: “Hướng dẫn giáo viên qui trình xây dựng kế hoạch chăm sóc giáo dục trẻ” Bác Hồ kính yêu dặn; “Làm phải có kế hoạch, có từng bước, việc gì cũng từ nhỏ dần đến to, từ dễ dần đến khó, từ thấp dần đến cao”. Chính vì vậy mà giáo viên phải xây dựng kế hoạch năm học của mình một cách hợp lý phù hợp với điều kiện của lớp mình và kế hoạch của nhà trường. Kế hoạch chăm sóc giáo dục trẻ phải chi tiết rõ ràng; phải có mục đích, yêu cầu, những phương pháp biện pháp, thời gian thực hiện và mục tiêu cần đạt cho mỗi công việc. Đối với giáo viên việc lập kế hoạch năm học là giúp giáo viên chủ động trong công việc, biết được những nhiệm vụ, mục đích, yêu cầu từ đó định hình nội dung công việc chăm sóc giáo dục trẻ trong một năm học . - Kế hoạch chăm sóc: Vệ sinh trường lớp, Vệ sinh cá nhân, Công tác tuyên truyền. - Kế hoạch giảng dạy: Hàng tuần, hàng tháng, năm.. Kế hoạch theo chủ đề.
- - Kế hoạch làm đồ dùng đồ chơi tự tạo: tham gia văn hoá văn nghệ, thể dục thể thao. * Các bước tiến hành - Ban giám hiệu nhà trường hướng dẫn giáo viên phác thảo những nét chính của kế hoạch, Đánh giá tình hình của lớp (Đặc điểm tâm sinh lý trẻ, đặc điểm phát triển trí tuệ, thể chất của trẻ, các tiền sử bệnh lý của trẻ..) xác định nhiệm vụ chủ yếu, các mục tiêu, xác định các điều kiện cần thiết (Đồ dùng, đồ chơi...). Xây dựng các phương án tối ưu để thực hiện tốt nhiệm vụ năm học. + Giáo viên xây dựng kế hoạch cụ thể và thực hiện kế hoạch. + Ban giám hiệu nhà trường kiểm tra đánh giá kế hoạch - Hàng tháng Ban giám hiệu dự giờ mỗi giáo viên ít nhất là một hoạt động, những giáo viên yếu kém thường được dự thêm giờ để kịp thời uốn nắn điều chỉnh những phần còn hạn chế. - Kiểm tra dưới nhiều hình thức: Báo trước, không báo trước, kiểm tra định kỳ. Có thể kiểm tra qua hồ sơ sổ sách, qua chuẩn bị đồ dùng, kiểm tra qua báo cáo của tổ chuyên môn, qua khảo sát trên trẻ. + Tuy nhiên trong quá trình kiểm tra, dự giờ, người cán bộ quản lý cần lưu ý một số vấn đề sau: - Đánh giá công minh, khách quan, dân chủ để người được kiểm tra thực sự cảm thấy phấn khởi, người đến kiểm tra vui vẻ, chân tình, tôn trọng người được kiểm tra. - Không trao đổi khi giáo viên đang giảng dạy, không làm cho giáo viên mất bình tĩnh và trẻ sợ sệt. - Khi nhận xét đánh giá toàn diện tuỳ theo mức độ và tính chất của giáo viên mà góp ý bồi dưỡng cho phù hợp. Chủ yếu nhìn vào sự cố gắng và khả năng vươn lên của từng người. Có như vậy người giáo viên mới cảm thấy thích được kiểm tra đồng thời hạn chế được những tư tưởng không đúng có thể xảy ra. Việc đánh giá công bằng, vô tư, chính xác có tác dụng động viên giáo viên rất nhiều khi cố gắng của họ được đánh giá đúng mức, được trân trọng. (Kết quả thanh tra kiểm tra, dự giờ phải được lưu lại ở hồ sơ giáo viên đầy đủ để làm cơ sở cho việc đánh giá cuối năm). 7.2.4. Biện pháp thứ 4: “Chỉ đạo tổ chuyên môn hướng dẫn giáo viên chuẩn bị tốt kế hoạch bài học (Giáo án)” Kế hoạch bài giảng (giáo án) là phần quan trọng không thể thiếu được của giáo viên đây là yêu cầu bắt buộc. Việc đầu tư tâm trí cho khâu thiết kế bài giảng có chất lượng là một trong những điều kiện cơ bản để thực hiện thành công bài giảng góp phần thực hiện mục tiêu bài giảng. Chính vì vậy nhà trường đã chỉ đạo tổ chuyên môn hướng dẫn giáo viên chuẩn bị tốt kế hoạch bài giảng (giáo án). Kế hoạch bài giảng phải đảm bảo nội dung mục đích yêu cầu. Bài
- giảng phải thể hiện tính sáng tạo, sự đầu tư tâm trí của giáo viên. Chuẩn bị tốt đồ dùng dạy học. Để đảm bảo kế hoạch bài giảng (giáo án) bản thân là một phó hiệu trưởng phụ trách chuyên môn tôi cần: - Chủ động có những hình thức yêu cầu giáo viên bổ sung kiến thức, tìm tòi đổi mới phương pháp dạy học. - Cử giáo viên nòng cốt xây dựng giáo án mẫu, dạy trên lớp cho giáo viên dự giờ đúc rút kinh nghiệm để học tập. - Ban giám hiệu cùng tổ chuyên môn kiểm tra bài soạn của giáo viên, rút kinh nghiệm cải tiến khâu thiết kế bài giảng của giáo viên. 7.2.5. Biện pháp 5: “Nâng cao trình độ chính trị, phẩm chất đạo đức cho đội ngũ giáo viên” Đất nước ta đã và đang bước vào thời kỳ đổi mới và thực hiện xây dựng con người mới năng động, sáng tạo, có đức, có tài. Chính vì thế việc bồi dưỡng nâng cao trình độ chính trị, phẩm chất đạo đức cho mỗi giáo viên là việc làm hết sức cần thiết. Người cán bộ quản lý phải biết giúp giáo viên nắm bắt kịp thời, hiểu và nhận thức đúng các chủ trương, đường lối chính sách của Đảng, Nhà nước. Đồng thời giúp cho giáo viên nắm bắt được một cách vững vàng, cụ thể mục tiêu giáo dục nói chung và mục tiêu ngành học mầm non nói riêng. Để có nhận thức đúng về vị trí, vai trò trách nhiệm của mình. Để thực hiện tốt công tác trên người cán bộ quản lý cần làm một số việc sau : - Bố trí, sắp xếp thời gian hợp lý cho giáo viên, Đảng viên trong nhà trường được học các Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng, chủ trương đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước do địa phương tổ chức. - Tổ chức Hội thi: “ Kể chuyện tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” cho chị em giáo viên tham gia dự thi, qua đó chị em được học tập và noi theo. - Tổ chức cho giáo viên tham gia các cuộc thi tìm hiểu về Đảng, về pháp luật, về ngành giáo dục. - Tổ chức thường xuyên đọc báo, chú trọng tới báo Đảng, báo giáo dục thời đại, các tạp chí mầm non. - Tổ chức sinh hoạt kỷ niệm theo các chủ điểm lớn. Tổ chức tốt các ngày hội lễ trong năm. thông qua đó giáo dục nâng cao phẩm chất đạo đức cách mạng cho giáo viên. Kịp thời uốn nắn những biểu hiện lệch lạc. Giải quyết tốt các tình huống xảy ra trong nhà trường. - Người cán bộ quản lý còn phải là tấm gương sáng cho tập thể sư phạm nhà trường noi theo. 7.2.6. Biện pháp 6: “Xây dựng kế hoạch tổ chức bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ” 7.2.6.1. Xây dựng kế hoạch:
- - Đứng trước thực trạng tình hình giáo viên trình độ chuyên môn chưa đồng đều, ngay từ đầu năm học tôi phân loại giáo viên và lập kế hoạch bồi dưỡng: - Khảo sát tình hình đội ngũ. - Tìm hiểu nghiên cứu những mô hình xây dựng đội ngũ đạt kết quả ở đơn vị bạn. - Học Tin học A, B để soạn giảng trên máy vi tính, và áp dụng CNTT vào bài giảng trên lớp. - Căn cứ vào số liệu đăng ký tôi đã xây dựng kế hoạch cụ thể. 7.2.6.2. Công tác bồi dưỡng theo kế hoạch: - Bước đầu tiên khi vào nhiệm vụ là giúp cho giáo viên nắm vững chương trình và yêu cầu của các nội dung học, bài học, làm chủ nội dung bài dạy xây dựng đầy đủ và chính xác các kiến thức, kỹ năng và giáo dục thái độ cho trẻ theo yêu cầu của chương trình, xác định đúng trọng tâm bài dạy. Biết quan tâm đến nhóm học sinh học tập yếu và biết mở rộng, nâng cao hợp lý kiến thức cho cả lớp hoặc cho học sinh khá giỏi, chỉ dẫn áp dụng kiến thức vào thực tế cuộc sống phù hợp với nội dung bài học. - Biết căn cứ vào nội dung, mục đích yêu cầu, đối tượng học sinh để lựa chọn phương pháp thích hợp, vận dụng nhuần nhuyễn các phương pháp giảng dạy. Việc vận dụng phương pháp phải đạt yêu cầu sau đây: + Trình bày rõ ràng, ngôn ngữ (nói và cử chỉ) chính xác, trong sáng, có củng cố khắc sâu. + Sử dụng đồ dùng dạy học (theo yêu cầu của bài) hợp lý. + Biết hướng dẫn phương pháp tìm tòi cho học sinh (phương pháp chung và phương pháp tiết học) + Biết tổ chức cho học sinh làm việc nhiều ở lớp. Mọi học sinh điều được làm việc theo khả năng của mình. + Biết gợi mở, hướng dẫn để học sinh tự tìm tòi kiến thức, có nhiều biện pháp phát huy tính chủ động của học sinh. + Quan tâm đến các đối tượng khác nhau trong bài học + Tiến trình tiết dạy hợp lý, thu hút được chú ý của mọi học sinh, phân phối thời gian thích hợp cho các phần, các khâu, giữa hoạt động của cô và trò. + Quan hệ cô trò thân ái. + Đánh giá hiệu quả tiết dạy thông qua kết quả học tập của học sinh. + Học sinh cả lớp hăng hái và có nền nếp học tập tốt, hầu hết biết trả lời những yêu cầu nội dung cô đưa ra. - Yêu cầu thực tế giáo dục hiện nay là cần phải quan tâm thiết thực đến chất lượng thực của học sinh, nên cần có đội ngũ vững tay nghề, giỏi về giáo dục mới đẩm bảo yêu cầu đặt ra. Chính điều đó mà phải có những biện pháp bồi dưỡng xây dựng giáo viên nhằm để đạt được mục tiêu cao về chất lượng học sinh, vừa thể hiện “nền tảng” của nhà trường. - Để có được 1 đội ngũ giáo viên khá – giỏi thì bản thân phải có biện pháp xây dựng nhiều giáo viên có tay nghề vững vàng, sử dụng tốt kỹ năng sư phạm, nắm vững kiến thức, thể hiện tốt thái độ sư phạm và đạt hiệu quả cao trong tiết dạy, đồng thời nâng cao chất lượng học sinh, đảm bảo đạt học sinh khá giỏi cao trong lớp của mình.
- - Việc bồi dưỡng xây dựng giáo viên thông qua năng lực dạy học và các năng lực giáo dục. Từ đó mọi giáo viên có một định hướng cụ thể để phấn đấu, đồng thời xác định xu hướng động cơ nghề nghiệp, tha thiết với nghề, thương trẻ như con, vươn lên dạy giỏi. - Giáo viên dạy giỏi của đơn vị tăng cao thì dẫn đến kết quả chất lượng giáo dục toàn diện trong học sinh đạt cao. Đảm bảo tốt nhiệm vụ năm học và tránh hiện tượng chạy theo thành tích trong giáo dục mà Bộ Giáo Dục và Đào Tạo đã phát động. - Chính vì vậy cho nên bản thân tôi lên kế hoạch thực hiện cụ thể công tác bồi dưỡng hàng tháng như sau: - Tháng 9 đầu năm học tôi dành 1 thời gian (khoảng 1 tuần) để trường tổ chức hướng dẫn cho giáo viên của mình thống nhất về phương pháp lên lớp, hướng dẫn và thống nhất làm hồ sơ sổ sách. Xây dựng kế hoạch năm học tháng tuần; trong đó có kế hoạch tuyên truyền, báo cáo lại toàn bộ các mục tiêu yêu cầu, nội dung, phương pháp dạy – học của tất cả các phân môn học, trang bị đầy đủ các tài liệu (Giáo án mẫu) về các tiết dạy theo chương trình. - Phân công mỗi giáo viên tự xây dựng kế hoạch giáo dục năm học, kế hoạch giảng dạy theo lứa tuổi mình phụ trách, sau đó tiến hành tập hợp các kế hoạch của giáo viên xây dựng theo ba độ tuổi chỉnh sửa và đưa hệ thống kế hoạch chủ điểm vào máy tính – áp dụng triển khai thực hiện kế hoạch này theo chương trình... Sau đó là chỉnh sữa giáo án cho giáo viên một cách cụ thể hóa. - Hướng dẫn giáo viên soạn giảng và ứng dụng công nghệ thông tin trên mỗi tiết dạy: + Hướng dẫn giáo viên soạn giảng bằng giáo án điện tử. + Hướng dẫn giáo viên thiết kế giáo án điện tử khi lên tiết dạy. - Tháng 10 và những tháng tiếp theo còn lại tôi lên kế hoạch bồi dưỡng chuyên môn, cho giáo viên về phương pháp giảng dạy chương trình giáo dục mầm non hiện hành, bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên là phương pháp sáng tạo...Song song với biện pháp xây dựng trên, tôi còn lập kế hoạch tổ chức bồi dưỡng nâng cao chất lượng giảng dạy. - Xây dựng chuyên đề dạy minh họa theo từng tháng cụ thể căn cứ vào trình độ chuyên môn, hoạt động mà giáo viên còn hạn chế để xây dựng chuyên đề. Để giáo viên học hỏi rút kinh nghiệm nên làm sao để mỗi giáo viên khắc sâu các chuyên đề để từ đó rút ra thành kiến thức, kỹ năng của mình. Việc thực hiện đổi mới phương pháp dạy học làm sao cho học sinh được phát huy tối đa tính tích cực sáng tạo chủ động trong việc học tập và vui chơi, biết cách học và tự học và có khả năng tư duy lôgic để tìm hiểu những vấn đề trong thực tiển, đáp ứng nhu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Giúp cho giáo viên biết cách lập kế hoạch học hoàn chỉnh và đạt mục tiêu đề ra, tự tin trong giảng dạy. 7.2.6.3 . Công tác bồi dưỡng theo chuyên đề Căn cứ theo kế hoạch của ngành và tình hình thực tế của nhà trường phó hiệu trưởng lên kế hoạch, sắp xếp các chuyên đề cần triển khai theo hàng tháng, hàng kỳ. Mỗi chuyên đề triển khai theo các bước sau :

