Báo cáo Sáng kiến Các giải pháp để dạy học theo hướng tiếp cận năng lực học sinh đạt hiệu quả ở lớp chủ nhiệm
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Báo cáo Sáng kiến Các giải pháp để dạy học theo hướng tiếp cận năng lực học sinh đạt hiệu quả ở lớp chủ nhiệm", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
bao_cao_sang_kien_cac_giai_phap_de_day_hoc_theo_huong_tiep_c.docx
Báo cáo Sáng kiến Các giải pháp để dạy học theo hướng tiếp cận năng lực học sinh đạt hiệu quả ở lớp.pdf
Nội dung tài liệu: Báo cáo Sáng kiến Các giải pháp để dạy học theo hướng tiếp cận năng lực học sinh đạt hiệu quả ở lớp chủ nhiệm
- 3 Để thực hiện sáng kiến này tôi đã sử dụng các phương pháp sau: - Phương pháp nghiên cứu đặc điểm tâm sinh lí của học sinh để phát huy những tiềm năng của học sinh. - Phương pháp phân tích và tổng kết kinh nghiệm. - Phương pháp quan sát. - Phương pháp vận dụng các kĩ thuật dạy học tích cực để kiểm nghiệm như: kĩ thuật đối thoại giao tiếp, kĩ thuật cộng tác nhóm, kĩ thuật đặt câu hỏi... - Sử dụng các phương pháp dạy học tích cực: Phương pháp học tập cộng tác theo tiến trình giải quyết vấn đề; phương pháp bàn tay nặn bột,... Phần II. PHẦN NỘI DUNG 1. Một số vấn đề có liên quan Muốn đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tiếp cận năng lực học sinh thì mỗi chúng ta phải hiểu được năng lực là gì? Làm thế nào để các năng lực được hình thành và phát triển? Dạy học theo hướng tiếp cận năng lực học sinh là như thế nào? Năng lực là tổ hợp những thuộc tính độc đáo của cá nhân, phù hợp với những yêu cầu của một hoạt động nhất định, đảm bảo yêu cầu cho hoạt động đó có hiệu quả. Vậy trong quá trình học thì năng lực của học sinh chỉ được thể hiện rõ và hình thành thông qua các hoạt động. Để năng lực được hình thành thông qua các hoạt động thì việc giáo viên tổ chức các hoạt động trong một giờ học hay một hoạt động giáo dục là vô cùng cần thiết. Để các hoạt động trong một giờ học đảm bảo thì việc thiết kế bài học và sử dụng các phương pháp dạy học cũng như hình thức tổ chức các hoạt động là chủ đạo. Vì vậy phải đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tiếp cận năng lực học sinh là một nhiệm vụ thường xuyên và liên tục trong quá trình dạy học để hình thành và phát triển năng lực của học sinh. Mỗi một học sinh đều có những tiềm năng thế mạnh và tiềm ẩn những kỹ năng khác nhau để hình thành năng lực. Chỉ có điều ai là người giúp các em những năng lực ấy được hình thành? Vậy mỗi người thầy, cô chúng ta sẽ làm gì và làm như thế nào để phát huy được những tiềm năng tiềm ẩn trong mỗi học sinh. Bản thân tôi nghĩ để có thể đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tiếp cận năng lực học sinh thì đòi hỏi giáo viên phải không ngừng học tập nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ. Tuy nhiên, ở đây không phải giáo viên nào có trình độ học vấn cao, tốt nghiệp giỏi thì sẽ giảng dạy tốt rèn học sinh tốt. Việc dạy học sinh hình thành kiến thức qua mỗi bài học thì điều đó có thể đơn giản nhưng để dạy và hình thành cho học những năng lực và biến các năng lực ấy trở thành thói quen như cơm ăn nước uống
- 4 hàng ngày để các em có thể tự chủ trong mọi tình huống mỗi ngày điều đó mới thật sự là khó khăn. Khó khăn đó không phải là chúng ta không làm được. Vậy muốn làm được thì giáo viên phải biết tìm các biện pháp cho chính mình để rèn học sinh hình thành năng lực để việc dạy học theo hướng tiếp cận năng lực đạt hiệu quả như: Rèn sự mạnh dạn tự tin; cách thiết kế bài học theo hướng tiếp cận năng lực học sinh; kĩ thuật đặt câu hỏi qua các mức độ; linh hoạt sử dụng các phương pháp học tập tích cực: Học tập cộng tác theo tiến trình giải quyết vấn đề, phương pháp bàn tay nặn bột; phát triển kĩ năng hội thoại giao tiếp trong giờ học,... Qua quá trình công tác, bản thân tôi nhận thấy giáo viên cần chú ý quan sát đến các đối tượng học sinh, đặc biệt là học sinh nhút nhát, chưa mạnh dạn trước tập thể, e ngại khi gặp người ngoài...Để từ đó tìm ra nhiều phương pháp dạy học mới tích cực kích thích tính mạnh dạn tự tin của các em, để các học sinh có sự chủ động tìm tòi mới trong các buổi học, tiết học. Đồng thời dạy học cần bám sát chương trình, thường xuyên thay đổi hình thức tổ chức, phương pháp dạy học trong các tiết học để tạo cho các em có cơ hội được bày tỏ được chia sẻ, được nói nhiều dần các em sẽ thành thói quen và không sợ sệt khi phát biểu ý kiến. Ngoài ra cần phải tạo sự thật gần gũi, quan tâm đến các em và tìm hiểu đến từng hoàn cảnh gia đình của các em học sinh để chia sẻ, động viên các em học sinh kịp thời, để các em tự tin khi đến trường. Năng lực không chỉ được hình thành qua những tiết học mà còn được hình thành nhiều qua các hoạt động ngoại khóa, các hoạt động trải nghiệm sáng tạo. Qua các hoạt động ngoại khóa các em được giao lưu được tiếp xúc, được trải nghiệm với môi trường rộng hơn như vậy năng lực của các em sẽ được hình thành và phát triển hơn. Trong năm học 2019 - 2020 trường tôi đã tổ chức nhiều hoạt động trải nghiệm như: Ngày tết trung thu, Tết làm điều hay, Tuyển chọn MC, Ngày hội mổ heo đất...qua các hoạt động đó học sinh được giao tiếp được chia sẻ, được và chạm với nhiều đối tượng nên có ảnh hưởng trực tiếp đến sự hình thành năng lực của các em. Ngoài các cuộc trải nghiệm theo quy mô trường chúng tôi luôn tăng cường các cuộc trải nghiệm theo quy mô khối, lớp và có kế hoạch chi tiết cụ thể được ban giám hiệu duyệt trước khi tổ chức cho các em. Trải nghiệm theo quy mô lớp càng nhiều thì việc hình thành các kĩ năng cho học sinh càng có tác dụng vì vậy tôi khá chú trọng khi tổ chức cho học sinh tham gia. Học sinh là những người trực tiếp tham gia các hoạt động trải nghiệm nên ngay từ đầu năm tôi đã cho học sinh xây dựng ý tưởng xem trong năm các em thích được trải nghiệm những gì. Mỗi 1 học sinh sẽ có kế hoạch trải nghiệm riêng, tổng hợp lại các ý tưởng của học sinh tôi sẽ chắt lọc và lựa chọn các hoạt động trải nghiệm phù hợp với đối tượng, kinh tế và
- 5 tình hình thực tế của học sinh trong lớp. Từ đó đưa ra được kế hoạch trải nghiệm cho lớp trong năm học. Mỗi tháng 1 lần với các cuộc trải nghiệm lớn gắn với chủ điểm và hoạt động của trường. Ngay từ đầu năm học tôi đã cho học sinh thành lập ban tổ chức các sự kiện để các em có thể tự điều hành một buổi sinh hoạt hay một buổi tổ chức sinh nhật thậm chí là một buổi hoạt động trải nghiệm...Còn trong mọi thời gian khi học sinh đến trường tôi luôn có biện pháp rèn kĩ năng cho học sinh thông các các trải nghiệm nhỏ như: kĩ năng sắp xếp sách vở, kĩ năng vệ sinh cá nhân, kĩ năng nói với người lớn tuổi... Do có kế hoạch chi tiết cụ thể và sự chuẩn bị chu đáo sau mỗi buổi trải nghiệm đó tôi cảm nhận được học sinh lớp tôi các em đã trưởng thành hơn, mạnh dạn hơn và chủ động các năng lực giao tiếp, tự giải quyết vấn đề đã tiến bộ hơn rất nhiều. Sau những buổi trải nghiệm tôi đã ghi lại cảm nhận của từng học sinh từ những cảm nhận đó tôi sẽ có hướng rèn cho từng học sinh ở giai đoạn tiếp theo. Giáo viên phải làm bằng cái “tâm” của mình mới cảm nhận được sự sâu sắc khi cho các em trải nghiệm. Nếu trải nghiệm xong rồi để đấy thì có lẽ việc làm chúng ta tổ chức ra chỉ mang tính hình thức, chống đối mà thôi. 2. Thực trạng. Trường Tiểu học Thị trấn Tân Dân được đổi tên thành Trường Tiểu học Thị trấn Tân An từ ngày 15/4/2020. Trường học nằm ở trung tâm thị trấn Tân An. Hoàn cảnh gia đình học sinh không đồng đều. Dân cư không phải hoàn toàn là người bản địa mà do có nhiều người di cư từ nơi khác đến nên cách sống đa dạng hóa. Có nhiều gia đình buôn bán kinh tế khá giả nhưng cũng có nhiều gia đình học sinh còn có hoàn cảnh éo le như: mồ côi cả cha lẫn mẹ, hộ nghèo.... đặc biệt là các em ở tổ dân phố Long Trì. Kinh tế gia đình gặp nhiều khó khăn nên ngoài việc học ở trường các em phải lo phụ giúp gia đình. Bố mẹ đi làm công ty, làm ăn xa, mải buôn bán làm kinh tế không có điều kiện sát sao với con cái nên việc dạy dỗ các cháu hầu như phó mặc cho thầy cô ở trường. Do đặc thù ở thị trấn nên học sinh được giao tiếp, va chạm nhiều nên trong mỗi bản thân học sinh đều có sự mạnh dạn tự tin là yếu tố để hình thành năng lực tốt. Dân cư các nơi di cư về sinh sống hầu hết là tầng lớp trí thức và buôn bán nên học sinh có những nhận thức vượt trội hơn so với học sinh ở vùng nông thôn xa trung tâm. Năm học 2019 - 2020, tôi được nhà trường phân công giảng dạy lớp 3C, tổng số học sinh 31 em trong đó có 18 học sinh nam và 13 học sinh nữ. Là một lớp học các em còn bé và có rất nhiều học sinh hiếu động. Có nhiều học sinh có hoàn cảnh khó khăn như mồ côi cha, mồ côi mẹ, cả bố và mẹ đều đi nước ngoài nên chưa có sự quan tâm chu đáo, chặt chẽ của gia đình. Hơn nữa, còn một số em ở các thôn xa trung tâm ít có điều kiện tiếp xúc nơi đông người nên còn nhút nhát, ngại giao tiếp, ít phát biểu chưa tự tin, một số em nói năng cộc lốc, không biết diễn đạt hết ý của
- 6 mình, còn một số em khả năng tập trung trong giờ học kém. Nhiều em không biết nói lời cảm ơn, xin lỗi trong những tình huống thực tiễn. Vì vậy để lôi cuốn học sinh vào bài học và hình thành được năng lực cho học sinh qua từng hoạt động học thì việc đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tiếp cận học sinh là vấn đề cần thiết. 3. Đề xuất các giải pháp 3.1. Rèn kĩ năng cộng tác và kĩ năng lắng nghe qua các tiết học Để việc dạy học theo hướng tiếp cận năng lực học sinh đạt hiệu quả thì điều đầu tiên tôi quan tâm đó là kĩ năng cộng tác và kĩ năng lắng nghe của học sinh trong quá trình học. Không phải tự dưng những kĩ năng đó sẽ được hình thành trong mỗi học sinh mà phải do giáo viên chúng ta rèn luyện. Nếu dạy học theo hướng tiếp cận năng lực học sinh mà chúng ta rèn được những kĩ năng đó thành thói quen thì qua mỗi hoạt động học năng lực của học sinh sẽ được thể hiện một cách rõ ràng. Kĩ năng cộng tác và kĩ năng lắng nghe của học sinh trong quá trình học hiện nay đang là một vấn đề rất được quan tâm. Để hình thành cho học sinh 2 kĩ năng này thành thói quen thì bản thân tôi cảm thấy không phải đơn giản. Ở lớp tôi chủ nhiệm thì quả thật 2 kĩ năng này ở học sinh vô cùng mờ nhạt. Vì vậy ngay từ đầu năm học tôi đã chú tâm rèn cho các em. Hình thành kĩ năng cộng tác: * Tôi cho học sinh làm việc cá nhân xong và tôi đã tự định hình ra các bước để cho học sinh thực hiện việc cộng tác (ban đầu phải là sự cộng tác có chủ định của cô giáo). Các bước đó là: Bước 1: Yêu cầu học sinh chia sẻ nhóm đôi Bước 2: Yêu cầu học sinh chia sẻ nhóm 3 Bước 3: Yêu cầu học sinh chia sẻ nhóm 4 Bước 4: Yêu cầu học sinh chia sẻ với các thành viên trong nhóm 4 (không chỉ chia sẻ theo các cạnh của hình vuông mà phải chia sẻ theo cả đường chéo của hình vuông). Sơ đồ chia sẻ nhóm 4 khi học sinh tương tác. HS HS HS HS Khi tự định hình ra các bước như vậy thì tôi cho học sinh tập cộng tác và tập xong thì học sinh tự nói với bạn để nhớ được mình phải làm gì khi mình làm bài xong bài tập (Quá trình này mất phải đến 1, 2 tuần). Khi tập nhiều thì dần sẽ hình thành được thói quen. Lúc đó học sinh sẽ chủ động cộng tác và không cần nhớ đến các bước của cô nữa. Khi đã thành thói quen thì học sinh không những cộng tác
- 7 chia sẻ ở nhóm 4 mà có thể đi ra khỏi chỗ muốn hỏi bạn và cộng tác với các bạn ở dãy bên. Lúc này học sinh đã thật sự chủ động. Khi đã thành thói quen thì học sinh đã chủ động “cộng tác”. Có vấn đề bản thân mình khó hiểu hay gặp khó khăn trong quá trình học là các em đã tự tìm kiếm sự trợ giúp của bạn cũng như của cô. Ở lớp tôi khi làm như vậy tôi cảm thấy thật sự hiệu quả. Trong một thời gian khoảng 3,4 tuần những học sinh có năng lực tốt các em đã tham gia sâu vào quá trình học và sự cộng tác của các em thể hiện rõ. Như em Trần Duy Hưng, Phan Anh Huy, Trần Thùy Linh các em đã luôn thể hiện “ Không biết thì hỏi” và đã chủ động giúp đỡ, chia sẻ hướng dẫn bạn của mình trong quá trình học. * Hình thành kĩ năng lắng nghe: Khi sự cộng tác được hình thành thì học sinh sẽ dẫn biết lắng nghe. Ban đầu cũng phải tập cho học sinh khi bạn nói, cô nói tất cả lớp mắt phải nhìn vào bạn, vào cô. Tôi cũng phải luyện tập cho học sinh đến 1 tuần liên tục Sau đó cho học sinh biết được tác dụng của việc lắng nghe. Tập cho học sinh lên chia sẻ với các bạn về sở thích của mình nhưng các bạn không nghe và đặt câu hỏi cho học sinh: Nhìn các bạn không nghe mình nói em có cảm nhận như thế nào? Các em đã nhận ra rằng khi mình nói người khác không nghe thì bản thân mình đã không được người khác tôn trọng, các em sẽ thấy buồn. Từ đó muốn được người khác tôn trọng thì mình phải biết tôn trọng người khác và mỗi em sẽ biết cố gắng lắng nghe bạn. Sau một thời gian khoảng 2 tuần tôi rèn thường xuyên và liên tục thì tôi cảm thấy thật sự hiệu quả. Khi học sinh có kĩ năng lắng nghe thì cũng đã giúp tôi phần nào việc giữ trật tự của học sinh trong lớp. Kĩ năng lắng nghe thật sự quan trọng trong quá trình học. Nghe – nhìn – nói của học sinh như 3 mắt xích liên kết chặt chẽ với nhau nó tạo động lực cho giáo viên để hình thành năng lực cho chính các em qua từng hoạt động và nhiệm vụ bài học. Vậy kĩ năng cộng tác và kĩ năng lắng nghe của học sinh được hình thành và trở thành thói quen thì nó chính là tiền đề để tôi “Định hướng cho học sinh tham gia sâu vào các cuộc hội thoại trong tiết học” phát triển năng lực học sinh. Để phản biện, giao tiếp được trong tiết học thì giáo viên phải rèn cho học sinh kĩ năng lắng nghe tích cực. Đó là khả năng ngừng suy nghĩ và làm việc của mình để hoàn toàn tập trung vào những gì mà bạn nói, cô nói. Kĩ năng lắng nghe nó bao gồm các hoạt động liên quan đến nhau và hầu như đều xảy ra theo một chuỗi liên tiếp. Đó là: tham dự- diễn giải- ghi nhớ- đánh giá- đáp lại. Việc lắng nghe đòi hỏi sự phối hợp các hoạt động thể chất và tinh thần nên nó bị chi phối bới các rào cản về cả hai hoạt động đó. Khi đã có kĩ năng lắng nghe tích cực thì học sinh sẽ có những phản hồi tích cực. Để có kĩ năng phản biện thì học sinh phải có các kĩ năng sau: quan sát, diễn giải, phân tích, suy luận, đánh giá, giải thích.
- 8 Bởi vậy, muốn rèn cho học sinh thói quen lắng nghe tích cực cần phải rèn cho học sinh nhận biết và sửa chữa những rào cản đó. Học sinh lắng nghe, chia sẻ 3.2. Sử dụng các kĩ thuật dạy học tích cực: giao tiếp - đối thoại - phản biện trong quá trình dạy học Trong dạy học theo phương pháp nào đi chăng nữa thì việc sử dụng kĩ thuật dạy học là hết sức cần thiết. Nó là một yếu tố quan trọng quyết định đến sự thành công trong tiết học. Đôi khi chúng ta sẽ có sự nhầm lẫn giữa kĩ thuật dạy học và phương pháp dạy học. Để tránh sự nhầm lẫn đó tôi nghĩ mình cần nắm rõ và hiểu kĩ thuật dạy học nó là những biện pháp, cách thức hành động của giáo viên trong các tình huống hành động nhỏ nhằm thực hiện và điều khiển quá trình dạy học. Các Kĩ thuật dạy học chưa phải là các phương pháp dạy học độc lập mà là những thành phần của phương pháp dạy học. Khi dạy học theo định hướng lấy học sinh làm trung tâm thì việc sử dụng các kĩ thuật dạy học tích cực là việc làm thường xuyên và liên tục. Từ các kĩ thuật dạy học mà giáo viên sử dụng nó sẽ góp phần hình thành năng lực và phẩm chất của học sinh qua bài học. Đó cũng là yêu cầu của Thông tư 22 đặt ra. Học xong một bài học thì ngoài việc đạt được chuẩn về kiến thức, kĩ năng thì học sinh còn phải đạt được mục tiêu về năng lực, phẩm chất. Để hình thành và phát triển năng lực cho học sinh, tôi rất chú trọng sử dụng kĩ thuật tổ chức cho học sinh phát biểu, phản biện (giao tiếp – đối thoại) trong bài học. Bởi vì ngôn ngữ gắn liền với tư duy, chỉ khi học sinh có sự hiểu biết về nội dung bài học thì
- 9 các em mới có kiến thức để phản biện hay hỏi những thắc mắc của mình với bạn với cô. Để định hướng cho học sinh tham gia sâu vào các cuộc hội thoại trong tiết học, ban đầu học sinh rất khó đặt câu hỏi để bắt đầu cuộc hội thoại khi học sinh chưa thành thói quen. Vì vậy tôi đã chủ động đặt câu hỏi cho học sinh trả lời trước sau đó cho học sinh đặt lại câu hỏi đó với bạn của mình một vài lần cho học sinh quen cách hỏi (thời điểm này gần như cho học sinh bắt trước cách hỏi) lúc này thì cả học sinh chưa mạnh dạn hay chưa biết đặt câu hỏi để hỏi đáp cũng dám phát biểu đặt lại câu hỏi cô giáo định hướng để hỏi bạn. Chỉ cần làm mẫu một vài lần học sinh sẽ biết cách đặt câu hỏi và cuộc hội thoại sẽ diễn ra tự nhiên. Khi đã nhận thức được hỏi bạn những gì tôi sẽ cho học sinh chuẩn bị câu hỏi trước ở nhà bằng cách cho học sinh xem bài trước. Hôm sau có những môn gì, mỗi môn các em chỉ cần đặt 2 đến 3 câu hỏi và ghi ra nháp để ngày mai hỏi bạn trong tiết học. Các câu hỏi của từng môn sẽ được tôi trực tiếp kiểm tra trong giờ truy bài, hoặc tôi cho học sinh tự kiểm tra chéo nhau trong giờ truy bài. Khi có sự dám sát học sinh sẽ có ý thức chuẩn bị. Khi đã có sự chuẩn bị thì học sinh sẽ chủ động và tự tin hơn khi tham gia vào hoạt động hội thoại giao tiếp trong tiết học. Học sinh chuẩn bị câu hỏi ở nhà Học sinh đã biết đặt câu hỏi trong quá trình hội thoại và kĩ năng chia sẻ của học sinh đã tốt tôi sẽ định hướng cho cuộc hội thoại diễn ra lâu hơn và sâu hơn. Tôi đã phát triển cuộc hội thoại đa chiều cho các em. Tức không chỉ 1
- 10 học sinh hỏi 1 học sinh trả lời mà lôi cuốn nhiều học sinh tham gia vào một cuộc hội thoại kể cả giáo viên khi học sinh cần sự trợ giúp và khi học sinh khó khăn thì giáo viên chủ động tham gia vào cuộc hội thoại để tháo gỡ khó khăn cho học sinh. Trong quá trình dạy học khi rèn cho học sinh, tôi khá ấn tượng khi sử dụng kĩ thuật giao tiếp - đối thoại - phản biện trong tiết toán lớp 3 khi thực hiện phép chia số có ba chữ số cho số có một chữ số (phép chia có dư và thương có chữ số 0). Nhiều câu hỏi của học sinh để tạo ra cuộc hội thoại phản biện khiến tôi thật sự bất ngờ. Tư duy của các em được phát triển và năng lực của các em đã được hình thành một cách thật sự 917 3 9 305 0 1 0 17 15 2 Khi học sinh đã thực hiện xong phép chia của mình ra bảng con, tôi cho một học sinh lên bảng chia sẻ để tạo ra cuộc hội thoại. Ban đầu tôi chỉ định hướng học sinh bằng cách giới thiệu các tên gọi như: số dư của lượt chia thứ nhất, thứ hai, thứ ba, phép chia có mấy lượt chia... Sau đó tôi “thả” học sinh tự tham gia vào cuộc hội thoại để giao tiếp – phản biện. Học sinh chia sẻ bài đặt ra các câu hỏi vào cuộc hội thoại. Vậy cuộc hội thoại lúc này ở đây là gì? Đó chính là cuộc giao tiếp để làm rõ bài làm của bạn thông qua các hệ thống câu hỏi. Ban đầu để định hướng cuộc hội thoại tôi là người đã chủ động giơ tay như một người học sinh để xin đặt câu hỏi trước. Câu hỏi đặt ra là: “Bạn cho mình hỏi trong phép chia của bạn số dư của lượt chia thứ nhất bằng bao nhiêu?” Từ câu hỏi đó học sinh trên bảng trả lời và chỉ vào chữ số 0 màu đỏ. Sau đó tôi để 2,3 học sinh dưới lớp đặt câu hỏi cho học sinh có bài làm được chia sẻ theo lối tư duy đó. Sau đó cho học sinh đứng chia sẻ đặt lại câu hỏi cho các học sinh dưới lớp. Trong quá trình cuộc hội thoại diễn ra giữa học sinh – học sinh nếu học sinh gặp khó khăn tôi đã chủ động tương tác và tham gia vào cuộc hội thoại đó để cùng tháo gỡ với học sinh. Có thể định hướng cho học sinh mời học sinh khác biết câu trả lời hoặc là giáo viên giải thích để làm rõ hơn câu trả lời. Như vậy tôi đã hình thành được cuộc hội thoại “ đa chiều” cho học sinh. Từ đó học sinh đặt ra được các câu hỏi trong cuộc hội thoại. Các câu trả lời đó chính là đã làm rõ “ vấn đề” trong phép chia . Học sinh đưa ra các câu hỏi :
- 11 - Số dư của lượt chia thứ hai trong phép chia bằng bao nhiêu? - Số dư của lượt chia thứ ba trong phép chia bằng bao nhiêu? - Trong số 17 thì chữ số 7 ở đâu ra? - Để thực hiện phép chia này bạn dựa vào bảng chia mấy? - Trong phép chia của bạn số bị chia là bao nhiêu? số chia là bao nhiêu? - Muốn tìm số dư ở lượt chia thứ nhất, thứ hai, thứ ba bạn làm thế nào? - Muốn thử lại phép chia này bạn làm như thế nào? - Quy trình để thực hiện một lượt chia của bạn là gì? ( Chia, nhân ngược, trừ) - Phép chia của bạn là phép chia hết hay phép chia có dư? Vì sao? - Số dư của phép chia như thế nào với số chia? ... Từ một phép chia tưởng chừng chỉ có thể nhận xét đúng sai nhưng khi có sự tham gia định hướng của học sinh thì có rất nhiều câu hỏi để làm rõ vấn đề cho học sinh chia sẻ. Đó là cách duy trì một một cuộc hội thoại diễn ra lâu và sâu đạt hiệu quả. Nếu giáo viên không có cách thì học sinh sẽ không biết đặt câu hỏi hay, mà chỉ đặt những câu hỏi không trọng tâm làm mất thời gian của tiết học và năng lực của học sinh không được hình thành từ kiến thức bài học đó là điều tôi đặc biệt quan tâm. Cũng từ câu hỏi “Muốn thử lại phép chia này bạn làm như thế nào?” của học sinh tôi đã linh hoạt phát triển thành một dạng toán mới “ Tìm số bị chia trong một phép chia có dư” và từ câu hỏi “Số dư của phép chia như thế nào với số chia?” tôi đã mở rộng ra cách tìm số dư lớn nhất trong một phép chia có dư bằng số chia trừ đi 1 để cho các học sinh khá giỏi nắm được và giải được các bài toán khó hơn ngoài chương trình sách giáo khoa. Khi cuộc hội thoại – giao tiếp – phản biện diễn ra sâu và thành thói quen thì việc dạy học theo hướng tiếp cận năng lực học sinh sẽ đạt hiệu quả tốt. Nhiều năng lực của học sinh được hình thành và phát triển giúp các em tự tin tham gia trong quá trình học tập cũng như khi xử lí các tình huống trong cuộc sống. Kĩ thuật dạy học này có ý nghĩa lớn lao đối với học sinh trong quá trình học.Ý nghĩa thứ nhất xuất hiện khi học sinh lần đầu tiên xây dựng trong tâm trí mình những ý tưởng cơ bản về nội dung kiến thức mình cần chiếm lĩnh đó là quá trình tư duy. Ý nghĩa thứ hai nảy sinh khi học sinh sử dụng những ý tưởng, hiểu biết của mình về nội dung kiến thức một cách hữa hiệu dùng để hỏi bạn hỏi cô, lúc này quá trình tư duy sẽ chuyển sang giai đoạn giao tiếp – phản biện, đối thoại. Lúc này năng lực của học sinh sẽ được bộc lộ rõ. Đối với học sinh Tiểu học thì ban đầu sử dụng kĩ thuật này ắt sẽ gặp nhiều khó khăn vì vốn từ của các em còn hạn chế, nhận thức chưa được sâu rộng đồng thời sự
- 12 mạnh dạn tự tin cũng là rào cản khi các em tham gia đối thoại, phản biện trong giờ học. Vì vậy để sử dụng kĩ thuật này có hiệu quả thì người giáo viên có vai trò hết sức quan trọng trong việc định hướng, dẫn dắt, lôi cuốn học sinh với tình huống của bài học. Phải tạo cho học sinh cơ hội được nói, được phát biểu, được bày tỏ trong mọi lúc mọi nơi khi học sinh tới trường. Có như vậy mới dần bóc được lớp vỏ nhút nhát vốn cố hữa trong con người mỗi học sinh. Trong tiết học để cuộc hội thoại của học sinh diễn ra sâu và lâu điều này không phải dễ. Trong lớp có nhiều đối tượng học sinh, có những học sinh đã mạnh dạn và còn học sinh còn nhút nhát vì vậy tôi đã có tìm cho mình những cách làm riêng như vậy để giúp các em có đủ tự tin để tham gia vào cuộc hội thoại giao tiếp trong các tiết học để hình thành được các năng lực từ nội dung bài học. Để sử dụng kĩ thuật này có hiệu quả tôi thiết nghĩ giáo viên phải dần hình thành cho học sinh thói quen chia sẻ, thói quen hỏi đáp trong giờ học. Những câu hỏi xoay quanh nhiệm vụ học tập. Để học sinh biết đặt câu hỏi hay biết phản biện lẫn nhau thì học sinh phải có kiến thức và làm chủ kiến thức trong quá trình học. Vì vậy trong các tiết học hàng ngày giáo viên phải là người định hướng dẫn dắt cho học sinh và hướng dẫn các em khi các em chưa có kĩ năng đối thoại. Để cuộc đối thoại trong giờ học có hiệu quả thì điều tất yếu cần phải cho học sinh chuẩn bị bài trước khi đến lớp đồng thời định hướng cho học sinh cách hỏi bạn. Có thể yêu cầu học sinh ghi lại những câu hỏi mình muốn hỏi bạn qua một bài tập hoặc một tình huống học tập. Hoặc trong các tiết học hàng ngày giáo viên cần đặt nhiều câu hỏi để cho học sinh biết cách hỏi. Khi học sinh đã nhận biết và thành thói quen thì tất cả những điều giáo viên muốn hỏi học sinh để khắc sâu bài hay mở rộng bài đều được truyền tải đến học sinh và chính học sinh là những người làm chủ được những kiến thức đó. Và khi đó năng lực của học sinh mới thực sự được hình thành. Để có sự giao tiếp tốt trong tiết học hay trong một tình huống học tập thì giáo viên phải dành cho học sinh thời gian tư duy cá nhân sau đó mới phát biểu trong nhóm, trong lớp. Điều này là thật sự cần thiết. Chỉ khi đã trải qua quá trình tư duy thì học sinh mới nhận thức được vấn đề và thực hiện được việc giao tiếp. Khi sử dụng kĩ thuật này trong dạy học nếu không biết định hướng và chắt lọc sẽ có hạn chế đó là mất nhiều thời gian. Vì vậy giáo viên dù không làm chủ cuộc đối thoại nhưng phải là người định hướng cho cuộc đối thoại của học sinh để đảm bảo về chất lượng cũng như số lượng cuộc giao tiếp trong 1 hoạt động học. Khi thường xuyên và liên tục tổ chức kĩ thuật dạy học phản biện – giao tiếp thì năng lực học sinh được hình thành rõ rệt là điều kiện thuận lợi để tôi thiết kế bài học và sử dụng các phương pháp dạy học tích cực để dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh.
- 13 3.3. Cách thiết kế bài học theo hướng tiếp cận năng lực và sử dụng các phương pháp dạy học tích cực. Trong quá trình dạy học để học sinh hình thành được năng lực thì cách thiết kế giáo án theo hướng tiếp cận năng lực là điều rất quan trọng. Đòi hỏi giáo viên phải tư duy và đưa ra các định hướng, các dự kiến, các tình huống có thể xảy ra trong giờ học để xử lý một cách triệt để. Nếu thiết kế giáo án theo mạch thẳng thì năng lực của học sinh ít được hình thành và không nảy sinh được những tình huống có vấn đề phát triển được tư duy của học sinh. Với bản thân tôi trong quá trình dạy học để thiết kế một giáo án theo hướng tiếp cận năng lực học sinh thì trước tiên tôi chú trọng đó là phần mục tiêu bài học. Mục tiêu bài học tôi xây dựng bám sát vào đối tượng học sinh của lớp tôi. Do năng lực chỉ được hình thành từ những hoạt động nên ngay từ phần mục tiêu về kiến thức kĩ năng tôi đã sử dụng các động từ để thể hiện. Mỗi một động từ là thể hiện một hoạt động mà học sinh phải thực hiện trong tiết học. Đó cũng chính là từng hoạt động tôi sẽ thiết kế trong bài. Trong quá trình dạy học tôi luôn chú trọng đến việc dạy học phân hóa học sinh nên tôi đã xác định mục tiêu kiến thức kĩ năng theo các mức độ. Từ những mục tiêu về kiến thức kĩ năng đó tôi sẽ đưa ra được các mục tiêu về năng lực. Quả thật đôi khi mỗi giáo viên chúng ta còn đưa ra những mục tiêu về năng lực rất chung chung, có khi những mục tiêu về năng lực của bài này sẽ lấy làm mục tiêu của bài khác. Vậy để thể hiện rõ được năng lực của từng bài từng môn học trước hết tôi dựa vào 3 nhóm năng lực của thông tư 22 cần đạt: Tự phục vụ, tự quản; hợp tác; tự học và giải quyết vấn đề. Và tiếp cận với những năng lực cốt lõi của “Chương trình giáo dục phổ thông mới” (gồm 3 năng lực chung, 7 năng lực đặc thù). Sau đó đưa ra những năng lực đặc thù của từng môn học, từng bài học dựa trên mục tiêu về kiến thức kĩ năng. Trong từng bài phải xác định được một năng lực đặc trưng của tiết học đó để hình thành. Ví dụ trong môn toán khi xây dựng mục tiêu về năng lực thì các mục tiêu ấy phải là mục tiêu về: Giao tiếp – hợp tác toán học; năng lực giải quyết vấn đề toán học (phát hiện vấn đề, định hướng giải quyết vấn đề, thực hiện và trình bày được cách thức giải quyết vấn đề ở mức độ đơn giản, kiểm tra xem xét giải pháp); tư duy lập luận toán học (tóm tắt bài toán bằng ngôn ngữ toán học); sử dụng công cụ phương tiện toán học. Với mục tiêu về năng lực có những mục tiêu của từng bài khi học sinh đã được hình thành từ những tiết học trước thì những bài sau mục tiêu ấy nếu có xuất hiện theo một quá trình thì lúc đó phải đưa ra ở mức độ là phát triển chứ không phải là hình thành nữa. Xác định và thực hiện được như vậy thì năng lực của học sinh sẽ được hình thành và phát triển theo một quá trình mà không bị đứt quãng. Khi xây dựng mục tiêu về phẩm chất học sinh cần đạt sau mỗi tiết học tôi dựa vào 4 nhóm phẩm chất của Thông tư 22: chăm học, chăm làm; tự tin, trách nhiệm;

