Báo cáo Sáng kiến Biện pháp phát huy tính tích cực của học sinh trong việc sử dụng phương pháp thí nghiệm môn Khoa họ

docx 6 trang Chăm Nguyễn 01/07/2025 620
Bạn đang xem tài liệu "Báo cáo Sáng kiến Biện pháp phát huy tính tích cực của học sinh trong việc sử dụng phương pháp thí nghiệm môn Khoa họ", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docxbao_cao_sang_kien_bien_phap_phat_huy_tinh_tich_cuc_cua_hoc_s.docx

Nội dung tài liệu: Báo cáo Sáng kiến Biện pháp phát huy tính tích cực của học sinh trong việc sử dụng phương pháp thí nghiệm môn Khoa họ

  1. * Đối với phụ huynh: Phụ huynh cùng tham gia vào việc chuẩn bị đồ dùng thí nghiệm, mua đủ tài liệu học tập, đôn đốc nhắc nhở các em học bài và phối hợp với giáo viên trong việc đánh giá kết quả học tập của học sinh. Qua đó, giúp phụ huynh hiểu được một phần quá trình học tập của các em. * Đối với Ban lãnh đạo: Tôi chủ động đề xuất lên Ban lãnh đạo kế hoạch dạy học, bổ sung dụng cụ, đồ dùng thí nghiệm, để Ban lãnh đạo tạo điều kiện và giúp đỡ. * Đối với Thư viện - thiết bị: Cung cấp cho giáo viên những dụng cụ cần thiết của thí nghiệm. 1.3. Biện pháp thứ ba: Vận dụng các kỹ thuật dạy học tích cực trong việc hướng dẫn học sinh làm thí nghiệm * Đối với giáo viên: Kỹ thuật “Trình bày một phút” tiến hành như sau: Cuối hoạt động thí nghiệm, giáo viên yêu cầu học sinh suy nghĩ và trả lời: Điều quan trọng nhất các em được sau thí nghiệm là gì? Theo các em vấn đề gì quan trọng nhất chưa được giải đáp sau khi làm thí nghiệm? Kỹ thuật “Viết tích cực” tiến hành như sau: Giáo viên đặt câu hỏi: Sau khi tiến hành thí nghiệm, các em còn băn khoăn gì sau khi làm thí nghiệm? Các em suy nghĩ viết ra giấy trong thời gian 3 phút. Giáo viên giải đáp thắc mắc (nếu có) và chốt lại. * Đối với học sinh: Kỹ thuật “Trình bày một phút”: Câu trả lời học sinh đưa ra sẽ giúp củng cố quá trình học tập của các em. Tạo cơ hội cho học sinh tổng kết lại kiến thức đã học và đặt câu hỏi về những điều băn khoăn, thắc mắc bằng cách trình bày ngắn gọn, cô đọng với bạn cùng nhóm, cùng lớp. Học sinh suy nghĩ viết ra giấy. Các câu hỏi của học sinh được trình bày dưới nhiều hình thức khác nhau. Mỗi học sinh trình bày trước lớp trong thời gian một phút về những điều các em đã học được và những câu hỏi các em muốn giải đáp hay những vấn đề các em muốn tiếp tục tìm hiểu thêm sau khi làm thí nghiệm. Giúp học sinh tóm tắt nội dung đã học, phản hồi cho giáo viên về việc nắm kiến thức của các em và những chỗ các em còn băn khoăn, thắc mắc hoặc hiểu sai sau khi thực hành thí nghiệm. Kỹ thuật “Viết tích cực”: Học sinh suy nghĩ viết ra giấy trong thời gian 3 phút. Học sinh chia sẽ băn khoăn gì sau khi làm thí nghiệm. Tham gia giải đáp thắc mắc cùng giáo viên.
  2. 1.4. Biện pháp thứ 4: Sử dụng phương pháp "Bàn tay nặn bột" làm phương pháp chủ đạo trong quá trình giảng dạy * Đối với giáo viên: Tiến trình sư phạm của mỗi hoạt động trong bài dạy theo phương pháp Bàn tay nặn bột gồm 5 bước: * Bước 1: Tình huống xuất phát và câu hỏi nêu vấn đề Tình huống xuất phát hay câu hỏi nêu vấn đề là do giáo viên chủ động đưa ra. Tình huống xuất phát phải ngắn gọn, gần gũi và dễ hiểu đối với học sinh. Câu hỏi nêu vấn đề phải là một câu hỏi mở, không làm lộ kiến thức của bài. * Bước 2: Bộc lộ biểu tượng ban đầu Sau tình huống xuất phát và câu hỏi nêu vấn đề của giáo viên, học sinh sẽ bộc lộ biểu tượng ban đầu bằng cách chia sẻ những hiểu biết cá nhân của mình, cùng các bạn thảo luận; sau đó đại diện nhóm báo cáo về những hiểu biết của nhóm mình trước lớp. * Bước 3: Đề xuất câu hỏi và thiết kế thí nghiệm Học sinh sẽ đặt ra các câu hỏi thắc mắc cho sự chia sẻ của các nhóm và đề xuất thí nghiệm. Em sẽ đề ra giải pháp gì để giải đáp cho những thắc mắc của các bạn? * Bước 4: Tiến hành thực nghiệm tìm tòi nghiên cứu Học sinh thực hành thí nghiệm vẽ hoặc viết lại những suy nghĩ của nhóm mình và chia sẻ trước lớp. * Bước 5: Kết luận và hợp thức hóa kiến thức Giáo viên tóm tắt, kết luận và hệ thống lại để học sinh ghi vào vở. Sau đó, giáo viên cho học sinh đối chiếu lại với biểu tượng ban đầu, tự các em phát hiện ra cái sai để học sinh một lần nữa hiểu sâu về kiến thức của bài. * Đối với học sinh: Mỗi học sinh buộc phải có một quyển vở thí nghiệm do chính các em ghi chép theo cách thức và ngôn ngữ của các em. Học sinh đưa ra cách làm thí nghiệm của mình. Học sinh làm thí nghiệm theo nhóm. Học sinh cùng nhóm cùng bàn bạc, thảo luận về vấn đề thí nghiệm của mình và dự kiến những dụng cụ cần thiết. Giải thích một số hiện tượng. Học sinh tự rút ra kết luận tạm thời, phù hợp với sự vận dụng kiến thức của mình. Thực hiện các bước theo hướng dẫn của giáo viên. 1.5. Biện pháp thứ 5: Thực hiện có hiệu quả cách đánh giá kết quả học tập của học sinh * Đối với giáo viên:
  3. Thực hiện nghiêm túc cách đánh giá kết quả học tập của học sinh theo Thông tư số 22/2016/TT –BGD ĐT. Khi đánh giá thường xuyên cũng như đánh giá định kỳ, tôi luôn đề cao việc “Đánh giá vì sự tiến bộ của học sinh; coi trọng việc động viên, khuyến khích sự cố gắng trong học tập, rèn luyện của học sinh, giúp học sinh phát huy nhiều nhất khả năng; đảm bảo công bằng, khách quan”. Đối với học sinh có khả năng, tôi yêu cầu cả lớp tuyên dương bạn. Những em thực hành thí nghiệm còn lúng túng, tôi động viên: “Em cần tự tin với chính mình, tự tin sẽ giúp em thành công trong công việc”. Rồi hướng dẫn học sinh làm từng bước. Khi học sinh bước đầu có tiến bộ, tôi liền khen em để tạo thêm niềm tin cho em. * Đối với học sinh: Kết quả học tập hoạt động thực hành thí nghiệm của học sinh được rèn qua nhiều kỹ năng: Kỹ năng thực hành thí nghiệm, kỹ năng quan sát, kỹ năng hợp tác, kỹ năng phán đoán, .Đặc biệt là kỹ năng vận dụng kiến thức đã học vào thực tiễn. * Kết quả cụ thể: Với biện pháp này, tôi thực hiện từ tháng 11/2023 đến ngày 26 tháng 04 năm 2024, tôi thấy tiết học môn Khoa học có các hoạt động thí nghiệm đã trở nên hấp dẫn hơn, thu hút học sinh hơn, giúp các em tiếp thu bài dễ dàng. Học sinh được tri giác trực tiếp đối tượng nghiên cứu trong quá trình thí nghiệm. Qua đó phát triển năng lực nhận thức của học sinh. Phương pháp thí nghiệm không những làm sinh động nội dung học tập, nâng cao hứng thú, niềm tin của học sinh vào khoa học mà còn là động lực thúc đẩy học sinh yêu thích môn Khoa học. Trong giờ học, các em đã có hứng thú và làm việc tích cực. Các em vận dụng lý thuyết vào thực hành thí nghiệm một cách thành thạo, biết vận dụng vào thực tiễn. Kết quả tôi thu được sau khi áp dụng sáng kiến như sau: Học sinh nắm chắc Học sinh nắm chắc Học sinh chưa nắm Lớp TSHS lý thuyết và thực lý thuyết nhưng chắc lý thuyết, thực hành thí nghiệm thực hành thí hành thí nghiệm tốt. nghiệm chưa tốt. chưa tốt. SL TL % SL % TL % SL TL % 5/1 33 33 100 / / / / * Điểm mới của sáng kiến: Điểm mới của sáng kiến là vận dụng các kỹ thuật dạy học tích cực: Kỹ thuật “Trình bày một phút”, kỹ thuật “Viết tích cực” trong việc hướng dẫn học sinh làm thí nghiệm. Bên cạnh đó, tôi còn áp dụng tốt phương pháp "Bàn tay nặn bột" làm phương pháp chủ đạo trong quá trình giảng dạy. 2. Phạm vi ảnh hưởng: 2.1. Ứng dụng trong cơ quan, đơn vị, địa phương: Đề tài “ Biện pháp phát huy tính tích cực của học sinh trong việc sử dụng phương pháp thí nghiệm môn Khoa học lớp 5” đã áp dụng tại lớp 5/1 trường Tiểu học Thoại Ngọc Hầu rất khả thi
  4. và đã triển khai trong hội đồng sư phạm qua việc mở chuyên đề vào tháng 12, năm học 2023-2024. Các giáo viên khối lớp 4, khối lớp 5 đã áp dụng vào việc giảng dạy có hiệu quả cao. 2.2. Ứng dụng hoặc đã chuyển giao ứng dụng ngoài phạm vi cơ quan, đơn vị, địa phương trong tỉnh: Trong lần sinh hoạt chuyên môn lần một tháng 12 năm 2023 của khối lớp 5 Trường Tiểu học Lê Thánh Tông, thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long, tôi đã tham gia và chia sẻ những biện pháp trên và được lớp 5/4 áp dụng có kết quả như mong đợi. Cũng với biện pháp này, tôi đã triển khai đến khối lớp 4 và khối lớp 5 của trường Tiểu học Mỹ Thuận, huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long vào cuối tháng 12 năm 2023. Giáo viên chủ nhiệm lớp 4/4, lớp 5/4 đã áp dụng và có hiệu quả cao. 2.3. Ứng dụng hoặc đã chuyển giao ứng dụng ngoài phạm vi cơ quan, đơn vị, địa phương ngoài tỉnh: Biện pháp này được đăng lên cổng thông tin điện tử của nhà trường để các đồng nghiệp khác trong và ngoài thị xã tham khảo và áp dụng. C. Khả năng mở rộng phạm vi ảnh hưởng, tiềm năng khai thác hiệu quả của sáng kiến, đề tài Đối với đề tài “Biện pháp phát huy tính tích cực của học sinh trong việc sử dụng phương pháp thí nghiệm môn Khoa học lớp 5” đã áp dụng tại lớp 5/1 trường Tiểu học Thoại Ngọc Hầu rất khả thi và đã triển khai trong hội đồng sư phạm qua việc mở chuyên đề, năm học 2023-2024. Tôi đã chia sẻ biện pháp này ở khối lớp 5 trường Tiểu học Lê Thánh Tông, thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long trong sinh hoạt chuyên môn lần một của tháng 12 năm 2023; tôi đã triển khai đến khối lớp 4 và khối lớp 5 của trường Tiểu học Mỹ Thuận, huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long vào cuối tháng 12 năm 2023 đã áp dụng có hiệu quả cao. Từ đó, tôi mong muốn các giáo viên khối 4 và khối 5 trong tỉnh Vĩnh Long áp dụng các biện pháp này trong thời gian tới. Người báo cáo sáng kiến Đinh Thị Hồng Điệp