Báo cáo Sáng kiến Biện pháp giáo dục nhằm gây hứng thú giúp học sinh Lớp 2 tự tin, tích cực, chủ động tham gia các hoạt động học tập
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Báo cáo Sáng kiến Biện pháp giáo dục nhằm gây hứng thú giúp học sinh Lớp 2 tự tin, tích cực, chủ động tham gia các hoạt động học tập", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
bao_cao_sang_kien_bien_phap_giao_duc_nham_gay_hung_thu_giup.docx
Báo cáo Sáng kiến Biện pháp giáo dục nhằm gây hứng thú giúp học sinh Lớp 2 tự tin, tích cực, chủ độn.pdf
Nội dung tài liệu: Báo cáo Sáng kiến Biện pháp giáo dục nhằm gây hứng thú giúp học sinh Lớp 2 tự tin, tích cực, chủ động tham gia các hoạt động học tập
- 3 xem là tiền đề dẫn đến sự thành công của mỗi bài dạy. Hứng thú được xem như chất xúc tác, dẫn dắt, tạo cảm hứng và duy trì niềm đam mê học tập của học sinh. Đối tượng giảng dạy của tôi chính là học sinh tiểu học. Đây là lứa tuổi học sinh chuyển tiếp từ giai đoạn vui chơi sang giai đoạn học tập, khả năng tri giác của các em rất tốt, hứng thú ngày càng bộc lộ và phát triển rõ rệt. Đặc biệt là hứng thú nhận thức, hứng thú tìm hiểu thế giới xung quanh, các em thể hiện tính tò mò, ham hiểu biết. Tuy nhiên, sự phát triển hứng thú học tập của học sinh phụ thuộc trực tiếp vào việc tổ chức dạy học của giáo viên. Nhận thức được vị trí, vai trò và sự ảnh hưởng của sự hứng thú đối với học sinh trong học tập, tôi đã thực hiện một số biện pháp giáo dục nhằm gây hứng thú cho học sinh và đã thu được nhiều kết quả tích cực. Đó là lí do tôi muốn chia sẻ sáng kiến kinh nghiệm “Biện pháp giáo dục nhằm gây hứng thú giúp học sinh lớp 2 tự tin, tích cực, chủ động tham gia các hoạt động học tập”. II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP 1. Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến Học sinh có sự hứng thú trong giờ học cũng chính là giúp cho các thầy cô giáo có cảm hứng, say mê trong mỗi giờ lên lớp. Khổng Tử từng nói: “Biết mà học, không bằng thích mà học, thích mà học không bằng vui mà học." Niềm vui và sự ham thích sẽ là một động lực lớn giúp học sinh vượt qua khó khăn để vươn lên trong học tập. Xuất phát từ những cơ sở đó, thầy cô giáo phải có những nỗ lực nhất định để phát huy khả năng của mình. Trong mỗi giờ lên lớp các thầy cô giáo không ngừng tự học tập và nghiên cứu để tìm ra những giải pháp nhằm gây hứng thú cho học sinh để các học sinh yêu thích, say mê môn học. Năm học 2022 - 2023, tôi đều được Ban giám hiệu trường phân công làm giáo viên chủ nhiệm lớp 2. Được sự quan tâm, tư vấn của lãnh đạo nhà trường, tổ trưởng chuyên môn và các đồng nghiệp, tôi đã có nhiều cơ hội sáng tạo, thay đổi các phương pháp, hình thức tổ chức dạy học để gây hứng thú học tập giúp học sinh tự tin, tích cực, chủ động tham gia các hoạt động giáo dục. Trong quá trình thực hiện, tôi nhận thấy những yếu tố sau: 1.1. Về phía học sinh:
- 4 - Học sinh được sinh hoạt và học tập trong môi trường lành mạnh, cơ sở vật chất đầy đủ các trang thiết bị và đồ dùng dạy học cần thiết. - Thuận lợi là vậy nhưng lớp 2 là giai đoạn khi học sinh bắt đầu phát triển tư duy trừu tượng thay cho tư duy trực quan. Khối lượng kiến thức của một học sinh lớp 2 cần thu nhận là lớn hơn nhiều so với lớp 1. Liên tiếp là những kiến thức mới, tiết luyện tập rất ít sau mỗi tiết lí thuyết. Để nắm được đúng và đủ lượng kiến thức này, học sinh cần chuẩn bị cho mình một ý thức học tập tốt và tích cực. - Lực học của các em học sinh trong lớp không được đồng đều. - Một số học sinh còn tiếp thu thụ động, ngại phát biểu, tiếp thu chưa nhanh. Cuối tiết học thường uể oải, ít tập trung vào bài vì đặc điểm nhanh chán, dễ nhớ, mau quên của học sinh tiểu học. 1.2. Về phía nhà trường: - Gi viên: + Đa số giáo viên có tâm huyết với nghề, có tinh thần trách nhiệm cao. Một số giáo viên có kinh nghiệm giảng dạy, có nhiều phương pháp và hình thức tổ chức dạy học tốt nên đã xây dựng cho học sinh những năng lực, phẩm chất, kĩ năng sống tốt, giúp học sinh tự tin, tích cực, chủ động tham gia các hoạt động học tập. + Để nâng cao chất lượng giảng dạy, giáo viên cần có khả năng hiểu biết về nhiều phương diện của kiến thức, phải có khả năng truyền đạt kiến thức đến học sinh một cách có hiệu quả. Phải tận tâm với nghề, thân mật, gần gũi giúp đỡ học sinh, thúc đẩy tinh thần học tập hăng say đồng thời không ngừng đổi mới, bổ sung, cải tiến và hoàn thiện phương pháp giảng dạy để thích ứng với một nền giáo dục đang thay đổi. - Cơ s vật chất. Nhà trường có đầy đủ bàn ghế, trang thiết bị hiện đại và dụng cụ cần thiết phục vụ cho công việc dạy và học, có đủ sân chơi, bãi tập. Vườn trường và sân trường có nhiều loại cây, giúp học sinh được trải nghiệm và học tập. 1.3. Về phía phụ huynh học sinh: Một số học sinh là những học sinh nhà có điều kiện được gia đình bao bọc
- 5 nên các em còn ỷ lại, chưa tích cực chủ động tham gia các hoạt động của trường lớp nói chung và hoạt động học tập nói riêng, có một số học sinh nhút nhát, ít nói, ngại giao tiếp. Bên cạnh đó có một số phụ huynh do điều kiện công việc quá bận nên chưa quan tâm nhiều đến việc học tập của con em mình phó mặc cho giáo viên chủ nhiệm và nhà trường. 2. Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến: 2.1. Vấn đề cần giải quyết. Hứng thú là một thuộc tính tâm lí - nhân cách của con người. Hứng thú có vai trò rất quan trọng trong học tập và làm việc, không có việc gì người ta không làm được dưới ảnh hưởng của hứng thú. M.Gorki từng nói: Thiên tài nảy n từ tình yêu đối với công việc. Cùng với tự giác, hứng thú làm nên tính tích cực nhận thức, giúp học sinh học tập đạt kết quả cao, có khả năng khơi dậy mạch nguồn của sự sáng tạo. Trong khi đó, việc khảo sát thực tế dạy học ở tiểu học bằng nhiều con đường đã cho thấy nhiều học sinh tiểu học không có hứng thú trong học tập. Bản chất của dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo của người học phải xuất phát từ nhu cầu, động cơ và điều kiện của bản thân người học. Chúng ta cần phải chú ý đến đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi của người học, nhất là cần chú ý đến trình độ tư duy của các em. Trong dạy học, không được bắt ép, gò bó một lối suy nghĩ chung cho tất cả mọi người. Từ dạy và học thụ động sang dạy và học tích cực, giáo viên không còn đóng vai trò đơn thuần là người truyền đạt kiến thức, giáo viên trở thành người thiết kế, tổ chức, hướng dẫn, gợi m, cố vấn, trọng tài các hoạt động độc lập hoặc theo nhóm nhỏ để học sinh tự lực chiếm lĩnh nội dung học tập, chủ động đạt các mục tiêu kiến thức, kĩ năng, thái độ theo yêu cầu của chương trình. Để đạt được mục đích của việc đổi mới phương pháp dạy học nhằm gây hứng thú để học sinh tự tin, tích cực chủ động tham gia các hoạt động học tập , cần có sự vào cuộc, phối hợp của các nhà quản lý, người dạy và chính bản thân người học. Tạo hứng thú cho người học luôn là một vấn đề quan trọng trong hoạt động dạy - học. Bởi vì dạy - học là hoạt động phức tạp, trong đó chất lượng, hiệu quả phụ thuộc vào chủ thể nhận thức là người học.
- 6 Trong những năm gần đây, hứng thú học tập của học sinh ở những trường tiểu học nhìn chung vẫn còn bị hạn chế. Vậy phải làm sao và những phương pháp nào có thể khơi dạy niềm say mê học tập ở các em? Từ thực trạng trên, là giáo viên, tôi càng hiểu rõ hơn nhiệm vụ của mình. Chính vì vậy năm học vừa qua, tôi đã mạnh dạn thay đổi nội dung, phương pháp trong giảng dạy, đưa thêm những biện pháp nhằm gây hứng thú giúp học sinh lớp 2 tự tin, tích cực, chủ động tham gia vào các hoạt động học tập. 2.2. Tính mới của giải pháp: Năm học 2022 - 2023 là năm học thứ hai thực hiện Chương trình giáo dục phổ thông mới đối với lớp 2. Chương trình giáo dục phổ thông 2018 đòi hỏi học sinh phải tự học nhiều hơn; có nhiều nhiệm vụ hơn, yêu cầu vận dụng kiến thức vào cuộc sống, nhất là cuộc sống hàng ngày tại gia đình và cộng đồng. Chương trình giáo dục phổ thông 2018 cũng đã đặt ra những yêu cầu mới với mỗi giáo viên. Theo đó, vai trò của giáo viên là phải chuyển mạnh từ vị trí là "người dạy" sang vị trí là người "tổ chức, kiểm tra, định hướng" hoạt động học của học sinh. Thực hiện hiệu quả hơn, triệt để hơn yêu cầu về phương pháp dạy học "học qua Làm". Người thầy trên bục giảng là một nhà giáo dục chuyên nghiệp, mang đến cho học sinh một không gian học tập an toàn, vui vẻ và gần gũi. Đồng thời, giáo viên phải biết truyền cảm hứng để học sinh thích học, chủ động khám phá tri thức, rèn luyện kỹ năng và xây dựng thái độ học tập tích cực. Chương trình giáo dục phổ thông 2018 được xây dựng theo mô hình phát triển năng lực, thông qua những kiến thức cơ bản, thiết thực, hiện đại và các phương pháp tích cực hóa hoạt động của người học, giúp học sinh hình thành và phát triển những phẩm chất và năng lực mà nhà trường và xã hội kì vọng. Theo cách tiếp cận này, kiến thức được dạy học không nhằm mục đích tự thân. Nói cách khác, giáo dục không phải để truyền thụ kiến thức mà nhằm giúp học sinh hoàn thành các công việc, giải quyết các vấn đề trong học tập và đời sống nhờ vận dụng hiệu quả và sáng tạo những kiến thức đã học. Quan điểm này được thể hiện nhất quán ở nội dung giáo dục, phương pháp giáo dục và đánh giá kết quả giáo dục. Để giảng dạy tốt được chương trình giáo dục phổ thông 2018 và cụ thể là giảng dạy chương trình lớp 2 thì mỗi giáo viên là một nhà giáo dục với hai nhiệm vụ cốt lõi là giáo dục và giáo dưỡng, giáo viên có trách nhiệm trang bị
- 7 cho học sinh kiến thức, cách học để học sinh không ngừng phát triển nhận thức, trí tuệ, có thế giới quan khoa học, đồng thời tạo ra những cơ hội hoạt động và giao lưu trong đời sống lớp học, nhà trường. Hiệu quả thực sự của việc dạy học là học sinh biết tự học; tự hoàn thiện kiến thức và tự rèn luyện kỹ năng. Nhiệm vụ khó khăn và quan trọng nhất của giáo viên là làm sao cho học sinh thích học. Dạy học ở tiểu học phải làm cho học sinh cảm thấy biết thêm kiến thức của mỗi bài học ở mỗi môn học là có thêm những điều bổ ích, lý thú từ một góc nhìn cuộc sống. Những bài học trở nên gần gũi và thiết thực hơn. Lớp học có được tổ chức hài hòa, hợp lí kết hợp với sự điều hành linh hoạt thích đáng mới tạo ra cơ hội thuận lợi để học sinh học tập. Tổ chức lớp học là do sáng kiến của giáo viên nhưng thực hiện là bổn phận, là trách nhiệm của học sinh. Giáo viên nhận định, theo dõi và nhắc nhở thường xuyên để duy trì thái độ học tập tích cực ở học sinh và tạo ra môi trường thật sự hấp dẫn và lôi cuốn học sinh. Có như vậy, học sinh mới cảm thấy thoải mái và tiếp nhận kiến thức một cách dễ dàng. 2.3. Một số giải pháp: Bản chất của việc dạy học là truyền cảm hứng và đánh thức khả năng tự học của người học. Với mô hình dạy học truyền thống, lấy giáo viên là trung tâm, dạy học mang tính chất truyền thụ, người học tiếp nhận kiến thức một cách bị động thì người dạy dù có hứng thú và nỗ lực đến mấy mà chưa truyền được cảm hứng, chưa làm cho người học thấy cái hay, cái thú vị mà tri thức đem lại thì giờ dạy vẫn không hiệu quả. Người học chỉ tự giác, tích cực học tập khi họ thấy hứng thú. Hứng thú không tự nhiên nảy sinh và khi đã nảy sinh nếu không duy trì, nuôi dưỡng cũng có thể bị mất đi. Hứng thú được hình thành, duy trì và phát triển nhờ môi trường giáo dục với vai trò dẫn dắt, hướng dẫn, tổ chức của giáo viên. Giáo viên là người có vai trò quyết định trong việc phát hiện, hình thành, bồi dưỡng hứng thú học tập cho học sinh. Giúp học sinh óc hứng thú để tích cực tham gia các hoạt động học tập. Tôi có một số giải pháp sau: 2.3.1. Biện pháp 1: Tạo hứng thú học tập bằng cách làm cho học sinh nhận thức được mục tiêu, lợi ích của bài học Dạy học là quá trình trao đổi kiến thức giữa giáo viên và học sinh. Nếu giáo viên chỉ thuyết trình - quá trình dạy dạy học mà giáo viên làm trung tâm -
- 8 có gì nói nấy thì những gì giáo viên giảng chỉ là kiến thức một chiều, hoặc, kiến thức mang cái nhìn cá nhân của chính giáo viên đó. Có thể học sinh đã biết những kiến thức ấy hoặc biết hơn kiến thức ấy hay đó là một nội dung không hữu ích đối với cuộc sống hiện tại và tương lai của chúng. Hứng thú là một thuộc tính tâm lí mang tính đặc thù cá nhân. Hứng thú có tính lựa chọn. Đối tượng của hứng thú chỉ là những cái cần thiết, có giá trị, có sức hấp dẫn với cá nhân. Vậy vấn đề gì thu hút sự quan tâm, chú ý tìm hiểu của học sinh? Trả lời được câu hỏi này nghĩa là người giáo viên đã biến đổi những nhiệm vụ học tập khô khan phù hợp với những mong muốn, nhu cầu, sở thích, nguyện vọng (tất nhiên là phải tích cực, chính đáng) của học sinh. Trong quá trình dạy học môn Đạo đức ( Bộ sách Kết nối tri thức với cuộc sống) - môn học gắn bó với các tình huống thực tế, nhiều học sinh không tích cực trong môn học này vì nghĩ rằng việc xử lí tình huống và làm bài tập trong sách bài tập rất đơn điệu. Theo kinh nghiệm của mình, tôi thấy bản thân giáo viên dạy khi soạn giáo án cần thay đổi nội dung các bài tập sao cho phù hợp với đối tượng học sinh trong lớp. Dựa vào những đặc điểm đó, giáo viên đưa ra các hành vi cần xử lí tình huống và liên hệ thực tế với bản thân học sinh. Ví dụ 1: Khi dạy bài “Vẻ đẹp quê hương em”, giáo viên có thể tạo hứng thú trong tiết học bằng cách cho học sinh thảo luận nhóm, cùng nhau giới thiệu về quê hương theo gợi ý. +) Quê hương em ở đâu? +) Quê em có những cảnh đẹp gì? +) Con người quê hương em như thế nào? +) Em thích nhất điều gì ở quê hương em? +) Tình cảm của em đối với quê hương như thế nào? Yêu cầu học sinh trao đổi để đóng góp ý kiến, giúp bạn trong nhóm hoàn thành nhiệm vụ. Thông qua hoạt động trên, giáo viên vừa giúp học sinh mạnh dạn, tự tin bộc lộ quan điểm, vừa hình thành cho học sinh kĩ năng tự giải quyết vấn đề. Ví dụ 2: Khi dạy bài “Kính trọng thầy giáo, cô giáo”, giáo viên cho học sinh hoạt động theo nhóm để thảo luận câu hỏi trước khi vào bài: “Tại sao phải
- 9 kính trọng thầy, cô giáo? Em đã làm gì để thể hiện sự kính trọng thầy giáo, cô giáo?” học sinh khi được trao đổi, thảo luận, giúp học sinh hình thành tư duy phản biện sẽ giúp các em hiểu lợi ích của bài học. Giáo viên cần cho học sinh hiểu được lợi ích của bài học thông qua nội dung các bài học, môn học khác nhau. Khi dạy bài “Cần làm gì để bảo vệ môi trường sống của thực vật và động vật?” (Môn Tự nhiên và xã hội - Kết nối tri thức với cuộc sống) học sinh sẽ hiểu được sự cần thiết phải bảo vệ môi trường sống của thực vật và động vật, những việc có thể làm để bảo vệ, hạn chế sự thay đổi môi trường sống của thực vật và động vật. Qua đó các em thực hiện được một số việc làm giúp bảo vệ môi trường sống của thực vật, động vật và khuyên mọi người xung quanh cùng thực hiện. Giáo viên khuyến khích học sinh liên hệ với bản thân và gia đình mình, những người xung quanh để hiểu hơn về tác dụng của việc bảo vệ môi trường sống của thực vật và động vật. Không những vậy, giáo viên có thể giúp học sinh nhận ra tính lợi ích của một nội dung nào đó thông qua những lời dẫn dắt vào bài hay trong quá trình làm bài. Với mỗi bài học cụ thể, giáo viên cần giúp cho học sinh nhận ra tính lợi ích của một nội dung nào đó, ví dụ như: - Để tr thành một người bạn tốt, điều đầu tiên em cần học là phải yêu quý bạn bè thông qua hành động và lời nói của mình. (bài Yêu quý bạn bè - môn Đạo đức) - Để các em biết cách tham gia giao thông cũng như phân biệt được một số biển báo giao thông giúp đảm bảo an toàn khi tham gia hoạt động giao thông (bài Hoạt động giao thông - môn Tự nhiên và xã hội) - Sau bài học này, em sẽ cắm được những lọ hoa đẹp và làm được những chiếc đèn lồng xinh xắn! (bài Tay khéo, tay đảm và Vui Trung thu - môn Hoạt động trải nghiệm) - Muốn lập được thời gian biểu của mình, học sinh phải biết xem đồng hồ và nắm được thời gian tham gia từng hoạt động trong ngày. (bài Ngày - giờ, giờ - phút môn Toán, bài Thời gian biểu - môn Tiếng Việt) - Để học sinh biết c rộng của cái bàn, cửa sổ,.... (bài Thực hành và trải nghiệm đo độ dài - môn Toán).
- 10 Như vậy, hứng thú học tập trước hết được tạo ra bằng cách làm cho học sinh ý thức được lợi ích của việc học để tạo động cơ học tập. Mục tiêu này có thể được trình bày một cách tường minh ngay trong tài liệu học tập hoặc có thể trình bày thông qua các tình huống dạy học cụ thể. Chúng ta cần làm cho các em nhận thức về lợi ích của việc học một cách tích cực và thiết thực. 2.3.2. Biện pháp 2: Tạo hứng thú học tập bằng cách khơi dậy tính tò mò, kích thích sự chú ý của học sinh với kiến thức mới Để hình thành phát triển hứng thú nhận thức của học sinh, tôi thường chú ý đến: - Tiến hành dạy học ở mức độ phù hợp nhất đối với trình độ phát triển của học sinh. Một nội dung quá dễ hoặc quá khó sẽ đều không gây được hứng thú. Giáo viên cần biết dẫn dắt để học sinh luôn tìm thấy cái mới, có thể tự lực tìm thấy kiến thức, cảm thấy mình mỗi ngày một trưởng thành. - Phát huy tối đa hoạt động tư duy tích cực của học sinh. Tốt nhất là những tình huống có vấn đề đòi hỏi phải dự đoán, nêu giả thiết, tranh luận giữa những ý kiến trái ngược. Trong thực tế, hứng thú của học sinh được khơi dậy từ những chi tiết việc chỉ ra vẻ đẹp của một từ, cái hay của một tình tiết truyện. Ngay cả những vấn đề lí thuyết khô khan cũng đều có thể gây hứng thú cho học sinh nếu chúng ta biết lựa chọn ngữ liệu khai thác. Ví dụ 1: Khi học bài tập đọc “Họa mi hót” (Tiếng Việt 2 - tập 2), giáo viên cho học sinh quan sát tranh và đặt những câu hỏi mang tính gợi mở và đưa cho học sinh những tình huống cần phỏng đoán như: + Bức tranh vẽ cảnh gì? + Em nhìn thấy những hình ảnh nào trong tranh? + Những hình ảnh đó thể hiện cảnh, mùa nào trong năm? + Em thích nhất hình ảnh nào trong bức tranh? Khi đưa ra những câu hỏi này, học sinh sẽ thích thú hơn khi được dự đoán nội dung bài học, thu hút sự tìm tòi nội dung của bài. Ví dụ 2: Khi dạy bài tập đọc “Bóp nát quả cam” (Tiếng Việt 2 – tập 2) một lời vào bài hấp dẫn cho giờ tập đọc: “Trong giờ tập đọc này, các em sẽ
- 11 được đọc và tìm hiểu về một vị anh hùng tuổi nhỏ, tài cao. Tương truyền thu nhỏ, vị anh hùng này đã rất ham mê cung kiếm, thao luyện võ nghệ, học tập binh thư. Khi mới 15 tuổi, thiếu niên này đã hừng hực chí lớn muốn diệt giặc, bảo vệ sự toàn vẹn cho non sông đất nước. Người anh hùng nhỏ tuổi là ai? Chúng ta hãy cùng nhau học bài Bóp nát quả cam để trả lời câu hỏi này”. Chỉ cần một lời dẫn ngắn gọn, học sinh sẽ cảm thấy có hứng thú để tìm hiểu bài. Ví dụ 3: Khi dạy bài Nói và nghe “Sự tích cây khoai lang” (Tiếng Việt 2 - tập 2), giáo viên có thể cho học sinh quan sát 4 bức tranh và đưa ra dự đoán của mình về các sự việc và kết cục của câu chuyện. Nhờ hoạt động này học sinh có thể thoải mái sáng tạo, tưởng tượng và tích cực chủ động nhằm tăng khả năng hứng thú của học sinh trước khi vào bài. Không những vậy, nó còn giúp học sinh tập trung chú ý và suy nghĩ sâu hơn nội dung câu chuyện muốn nói. 2.3.3. Biện pháp 3: Tạo hứng thú học tập dựa vào việc trao quyền chủ động cho học sinh tiếp cận vào nội dung học. Tạo hứng thú học tập bằng cách trao quyền chủ động cho học sinh tiếp cận vào nội dung môn học là một phương pháp dạy học tích cực. Và con đường tôi lựa chọn là dạy học theo dự án. Dạy học theo dự án là một hình thức dạy học mà học sinh được học dưới sự điều khiển và giúp đỡ của các giáo viên, nhưng phải tự giải quyết nhiệm vụ học của mình, nó đòi hỏi sự kết hợp cả về mặt lý thuyết và thực hành. Thông qua quá trình nó sẽ tạo ra những sản phẩm học tập. Có thể nói, dạy học theo dự án là một mô hình học tập hiện đại mà học sinh được làm trung tâm của buổi học. Các giáo viên sẽ hướng dẫn thực hiện nhằm giúp phát triển kiến thức cùng các kỹ năng của các em thông qua các nhiệm vụ học tập. Các học sinh được khuyến khích tìm tòi và thực hành kiến thức được học để tạo ra các sản phẩm của chính mình. Đây là một chương trình học xây dựng dựa trên những câu hỏi quan trọng và được lồng ghép các nội dung chuẩn. Biến các học sinh thành “chuyên gia” trong một vấn đề: Bạn sẽ ngạc nhiên khi thấy học sinh có động lực đến thế nào nếu bạn yêu cầu các em thuyết trình về một đề tài theo nhóm hoặc cá nhân. Các em sẽ cảm thấy hứng thú và có trách nhiệm khi trở thành chuyên gia trong một vấn đề cụ thể. Việc chuẩn bị cho các dự án hoặc các buổi thuyết trình mới lạ sẽ giúp học sinh thấy hứng thú hơn khi học. Và đây cũng là một cách hay để bạn làm mới chương trình học và tạo
- 12 sự thú vị cho buổi học. Khi các học sinh thuyết trình về một chủ đề cho trước thì các bạn cùng lớp cũng sẽ có hứng thú học hơn. Đôi khi học sinh sẽ cảm thấy nhàm chán nếu lúc nào cũng ở thế bị động, chính vì vậy khi các bạn cùng lớp đứng thuyết trình về một đề tài, các em sẽ cảm thấy mới mẻ và hứng thú hơn. Tôi thường sử dụng phương pháp dạy học theo dự án để tạo hứng thú cho học sinh, giúp học sinh chủ động nắm kiến thức và tìm cách tiếp cận vào các vấn đề của môn học. Tùy vào từng quỹ thời gian khác nhau mà thực hiện dự án khác nhau. Đối với cá nhận tôi khi áp dụng phương pháp dạy học này, tôi thường đưa ra những dự án mang tính tích hợp nhiều nội dung hoạt động như tìm hiểu, nghiên cứu, giải quyết, lên kế hoạch, . với sự tham gia đa dạng như cá nhân, nhóm. Tôi khuyến khích được tham gia chọn đề tài, nội dung học tập phù hợp với khả năng và hứng thú cá nhân. Dạy học theo dự án đòi hỏi nhiều kĩ năng ở người học, không những phát huy tính tự học, tự nghiên cứu, giải quyết vấn đề của học sinh mà còn đòi hỏi sự cộng tác làm việc, phân công công việc giữa các thành viên trong nhóm. Đây chính là yếu tố then chốt giúp dạy học theo dự án có thể kích thích hứng thú học tập của người học. Đối với những học sinh đã quá quen với các lớp học truyền thống, điều này là sự chuyển đổi từ việc làm theo mệnh lệnh sang thực hiện các hoạt động tự định hướng; từ việc ghi nhớ, nhắc lại sang khám phá, tích hợp và trình bày; từ chỗ lắng nghe và thụ động sang giao tiếp, chịu trách nhiệm; từ việc chỉ biết đến sự kiện, thuật ngữ và nội dung sang tìm hiểu các quá trình; từ lý thuyết sang thực hành; từ chỗ lệ thuộc vào giáo viên sang được trao quyền chủ động. Ví dụ 1: Ví dụ minh họa cho phương pháp dạy học dự án (môn học: Tự nhiên và xã hội) + Mục đích của dự án (tích hợp trong tiết Hoạt động giao thông): Học sinh thêm hiểu biết về các loại đường giao thông, nêu được một số phương tiện giao thông và phân biệt được một số loại biển báo giao thông; Vận dụng được trong thực tế cuộc sống khi tham gia giao thông. Có ý thức thực hiện và tuyên truyền người khác tuân thủ các quy định khi tham gia giao thông. + Thời gian chuẩn bị : 3 ngày + Các giai đoạn thực hiện dự án: a. Chuẩn bị - Học có thể lựa chọn bạn đồng hành để thành lập nhóm. Học sinh sẽ thảo
- 13 luận với nhau để chọn đề tài có thể thực hiện được và gọi tên theo từng nhóm theo khả năng thực hiện. (Ví dụ tên đề tài các nhóm đã đặt : Một ngày với Hải Hậu, Giao thông quê tôi, Tôi yêu Hải Hậu, ) - Xây dựng kế hoạch thực hiện: Các thành viên trong nhóm sẽ cùng nhau xác định những công việc cần làm (người tìm kiếm thông tin, người thu thập ảnh/người viết lời bình/người làm album, .) và phân công theo nhóm nhỏ. - Học sinh cùng giáo viên thảo luận và đưa ra những tiêu chí đánh giá dự án (thông tin chính xác, ngắn gọn/hình ảnh tiêu biểu/thuyết trình được sản phẩm/nộp sản phẩm đúng thời gian quy định, ) b. Thực hiện dự án - Học sinh được phân công nhận nhiệm vụ theo nhóm và thực hiện nhiệm vụ của mình (Ví dụ nhóm Một ngày với Hải Hậu: phân công bạn tìm về những loại đường giao thông ở Hải Hậu, bạn tìm về các loại phương tiện giao thông ở Hải Hậu, bạn tìm các loại biển báo giao thông có ở địa phương) - Học sinh có thể tìm nguồn giúp đỡ như thầy cô, bạn bè, cha mẹ khi cần. - Nhóm cử đại điện thường xuyên phản hồi thông tin, báo cáo cho giáo viên. c. Kết thúc dự án: - HS tiến hành giới thiệu sản phẩm trước lớp. - HS tự đưa gia nhận xét và đánh giá cho sản phẩm của nhóm bạn và nhóm mình theo các tiêu chí đã đặt ra. - HS trưng bày sản phẩm tại lớp. Ví dụ 2: Giáo viên trao quyền chủ động cho học sinh trong những phần nội dung hoặc hoạt động phù hợp với năng lực tổ chức và tìm hiểu của học sinh (Phần tìm hiểu bài trong một số tiết Đọc với nội dung đơn giản, phần báo cáo trong tiết sinh hoạt lớp, tự tổ chức trong các hoạt động trong phần Khởi động, ) Ví dụ 3: Giáo viên có thể tạo cơ hội cho học sinh chủ động chuẩn bị một số tiết sinh hoạt lớp theo chủ đề như Tết Trung thu, 20/10, 20/11, Tết Nguyên đán, 8/3,

