Báo cáo Sáng kiến Biện pháp dạy tốt phân môn Luyện từ và câu Lớp 4B trường Tiểu học và Trung học cơ sở Phước Hòa
Bạn đang xem tài liệu "Báo cáo Sáng kiến Biện pháp dạy tốt phân môn Luyện từ và câu Lớp 4B trường Tiểu học và Trung học cơ sở Phước Hòa", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
bao_cao_sang_kien_bien_phap_day_tot_phan_mon_luyen_tu_va_cau.docx
Nội dung tài liệu: Báo cáo Sáng kiến Biện pháp dạy tốt phân môn Luyện từ và câu Lớp 4B trường Tiểu học và Trung học cơ sở Phước Hòa
- - HS đọc bài Trung thu độc lập và ghi lại từ cùng nghĩa với từ ước mơ Bài tập 2: Học sinh thảo luận nhóm đôi Tìm thêm những từ cùng nghĩa với ''Ước mơ'' - 1 em tìm từ bắt đầu từ tiếng ''ước'' - 1 em tìm từ bắt đầu từ tiếng ''mơ'' Bài tâp 3: Nêu yêu cầu ghép thêm vào sau từ ước mơ những từ ngữ thể hiện sự đánh giá cao: (Từ ngữ để chọn: đẹp đẽ, viển vông, cao cả, lớn, nho nhỏ, kỳ quặc, dại dột, chính đáng.) Học sinh thảo luận nhóm 4 - Đánh giá cao: ước mơ cao đẹp, ước mơ chính đáng, ước mơ cao cả, ước mơ lớn. - Đánh giá không cao: ước mơ bình thường, ước mơ nho nhỏ. - Đánh giá thấp: ước mơ kỳ quặc, ước mơ dại dột, ước mơ viển vông. Bài tập 4: Nêu ví dụ về 1 loại ước mơ nói trên Bài này cho học sinh làm việc cá nhân. 1.1.4.2. Dạy dạng bài cung cấp kiến thức mới và thực hành luyện tập: Tôi thường tổ chức cho học sinh làm bài tập ở phần nhận xét (mục I) theo các hình thức phát huy tính tích cực của học sinh như: trao đổi theo nhóm cặp, chung cả lớp, tự làm cá nhân, qua đó tự rút ra kết luận theo các điểm cần ghi nhớ về kiến thức. Qua phân tích và nhận xét các ngữ liệu học sinh tự rút ra những kiến thức cần nắm vững- Ghi nhớ (mục II). Sau đó học sinh thực hành luyện tập theo từng bài tập ở mục luyện tâp để nắm chắc và bước đầu vận dụng được kiến thức đã học. Tuy nhiên, đối với đối tượng học sinh tôi còn hạn chế về Tiếng Việt, khi hướng dẫn mục nhận xét, tôi chủ động dẫn dắt gợi ý trao đổi chung cả lớp để từ đó rút ra những điểm cần ghi nhớ kiến thức một cách nhanh gọn. Trong quá trình thực hành luyện tập (mục III) tôi cho học sinh nhắc lại kiến thức liên quan bài tập để học sinh dễ thực hiện bài tập, tổ chức cho học sinh làm bài trong nhóm trên cơ sở vận dụng kiến thức đã học để học sinh học tốt giúp đỡ học sinh còn chậm để hoàn thành nhiệm vụ bài tập. Đối tượng học sinh tôi còn chậm Tiếng Việt tôi thường chú ý hướng dẫn nắm vững yêu cầu bài tập, làm thử trên bảng lớp một phần bài tập cụ thể trước khi học sinh thực hành làm vào vở bài tập. Sau đó tôi tổ chức đánh giá kết quả làm bài của học sinh để củng cố, uốn nắn kịp thời. Ví dụ: Khi dạy bài ''Câu kể'' ''Ai làm gì?'' (Tuần 17) Bài tập 1: Đọc đoạn văn sau: Trên nương mỗi người một việc. Người lớn thì đánh trâu ra cày. Các cụ già thì nhặt cỏ đốt lá. Mấy chú bé bắc bếp thổi cơm. Các bà mẹ lom khom tra ngô. Các em bé ngủ khì trên lưng mẹ. Lũ chó sủa om cả rừng và tìm xem trong mỗi câu trên các từ ngữ chỉ hoạt động. - Chỉ người hoặc vật hoạt động. Thì học sinh có thể tìm được: 3
- + Từ chỉ hoạt động: đánh trâu ra cày, nhặt cỏ đốt lá, ngủ khì trên lưng mẹ, bắc bếp thổi cơm, lom khom tra ngô, sủa om cả rừng. + Từ chỉ người hoặc vật hoạt động: người lớn, các cụ già, mấy chú bé, các em bé, lũ chó. Lúc này giáo viên gạch chân những từ mà các em đã tìm được. Sau đó tiến hành hỏi: Em hãy đặt câu hỏi cho từng từ ngữ chỉ hoạt động? Thì học sinh nêu: Người lớn làm gì? Các cụ già làm gì? Ngoài ra GV có thể cho HS “thực hành giao tiếp’’. Với phương pháp này không chỉ hướng học sinh vận dụng lí thuyết được học vào thực hiện các nhiệm vụ của quá trình giao tiếp mà còn là phương pháp cung cấp lí thuyết cho học sinh. Trong quá trình giao tiếp chẳng hạn, khi dạy xong bài luyện từ và câu Câu kể Ai làm gì? giáo viên có thể cho học sinh làm việc theo nhóm 4-6 để các em tự giới thiệu về gia đình mình. Sau khi các em thảo luận các em trong nhóm có thể tự giới thiệu về công việc của bố mẹ mình, anh chị, ông, bà. Như thế sẽ tạo ra không khí giờ học và giúp các em hiểu nhau hơn. Khi vận dụng phương pháp này thì chúng ta đã kiểm tra được kĩ năng sử dụng từ đặt câu và giúp học sinh rèn được kĩ năng học tập mới. 1.1.5. Tạo hứng thú cho học sinh: Trong dạy học, tạo hứng thú cho học sinh là rất quan trọng. Nó gần như quyết định hiệu quả của việc dạy học. Luyện từ và câu được đánh giá là khô khan trong các phân môn Tiếng Việt. Vì vậy tạo hứng thú cho học sinh lại càng quan trọng. Khi học sinh có hứng thú, các em sẽ tự giác, chủ động học tập thì giờ dạy mới diễn ra nhẹ nhàng, học sinh chủ động nắm được kĩ năng, kiến thức. Để tạo hứng thú cho học sinh, tôi thường tạo cho các em không khí sẵn sàng học tập ngay trong từng hoạt động như sau: Khởi động: Đây cũng là một bước quan trọng. Đó không chỉ đơn giản là nêu yêu cầu cần đạt của tiết học mà còn là bước tạo không khí sôi nổi, thu hút các em vào giờ học. Có thể giới thiệu bài bằng nhiều cách: liên hệ kiến thức trong chủ điểm đang học bằng trò chơi, hỏi đáp . Ví dụ: Khi giới thiệu bài bài luyện từ và câu ở tuần 9 bài: Mở rộng vốn từ: Ước mơ tôi giới thiệu như sau: Cho cả lớp chơi trò chơi “ Đoán ô chữ”. GV chia lớp thành hai đội, mở đĩa cho HS nghe bài hát Ước mơ và có thể có gợi ý: Tên bài hát cũng là nội dung chủ điểm mà chúng ta đang học. Yêu cầu học sinh đoán. Đội nào giải được ô chữ là đội giành chiến thắng, được tuyên dương. Đội đoán chưa đúng sẽ phải hát chung một bài. Sau đó GV giới thiệu: Tiết Luyện từ và câu hôm nay chúng ta sẽ mở rộng vốn từ, thành ngữ thuộc chủ điểm này. Theo cách giới thiệu bài trên, không những tạo hứng thú cho các em sẵn sàng tiết học mà ca từ của bài hát cũng góp phần gợi ý thông tin cho học sinh làm các bài tập trong tiết học. VD khác: Sử dụng phương pháp hỏi đáp khi khởi động để vào bài Mở rộng vốn từ Trung thực - Tự trọng tuần 5 SGK trang 48-49. GV đặt câu hỏi: Cậu bé Chôm 4
- trong truyện Những hạt thóc giống có đức tính gì đáng quý ?( trung thực). Vậy theo em trung thực là gì? Còn tự trọng, em hiểu thế nào là tự trọng? (HS nêu ý kiến như: tôn trọng/ ) GV: Để giúp các em biết thêm nhiều từ, nắm được nghĩa và cách dùng các từ ngữ theo chủ điểm Trung thực - Tự trọng. Hôm nay chúng ta sẽ Mở rộng vốn từ theo chủ điểm này. Rõ ràng các cách giới thiệu bài trên đã tạo được không khí học tập, thu hút được sự chú ý của học sinh. Để thu hút học sinh vào bài học, ngoài giới thiệu bài thì trong khi tổ chức, hướng dẫn làm bài tập tôi cũng luôn tạo không khí học tập để khơi gợi sự hứng thú đối với học sinh. Ví dụ: Khi tổ chức làm bài tập 3 ở tiết LTVC tuần 3 trang 33 SGK TV lớp 4 tập một: Tôi hướng dẫn cách làm bài tương tự như trò chơi Rung chuông vàng, cách làm như sau: - Bước 1: Cho học sinh nắm yêu cầu - Bước 2: Phổ biến cách làm: Học sinh suy nghĩ, lần lượt viết vào bảng con các từ thích hợp trong ngoặc để hoàn chỉnh các câu thành ngữ. Sau thời gian quy định HS sẽ giơ bảng. Em nào chưa đúng sẽ bị loại đứng sang một bên và phải hát một bài hoặc làm 1 động tác gây cười cho cả lớp mới được quay lại “ sàn thi đấu” - Bước 3: Cho HS làm bài. GV chốt lời giải đúng. Sau đó đọc thuộc các câu thành ngữ đã hoàn chỉnh. a, Hiền như bụt ( đất ) b, Lành như đất ( bụt ) c, Dữ như cọp d, Thương nhau như chị em gái Ngoài ra để tạo hứng thú học tập cho học sinh, người giáo viên cần phải biết vận dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực như kĩ thuật chia nhóm, kĩ thuật động não, kĩ thuật “ Công đoạn”. Ví dụ: Bài tập 1 trang 17 SGK tiết Luyện từ và câu Mở rộng vốn từ Nhân hậu- Đoàn kết .GV chia 4 nhóm, nhóm 1 làm câu a, nhóm 2 làm câu b, nhóm 3 làm câu c, nhóm 4 làm câu d. Chẳng hạn câu a, nhóm 1 tìm được các từ như thể hiện lòng nhân hậu, tình cảm yêu thương đồng loại: tình thân ái, yêu quý, xót thương. Sau đó chuyển sang nhóm 2, nhóm 2 bổ sung thêm các từ: cảm thông, đồng cảm tiếp tục chuyển sang nhóm 3, nhóm 3 bổ sung thêm từ nhân ái, chuyển sang nhóm 4, nhóm này bổ sung tiếp từ tha thứ. Cuối cùng chuyển về nhóm 1. Nhóm 1 xem và hoàn thiện lại sau đó dán bảng trình bày. Tương tự như trên, các nhóm khác cũng làm bài của nhóm mình, bổ sung bài cho các nhóm khác. Theo cách tổ chức này, các em rất thích thú và quan trọng là đảm bảo cho mọi học sinh đều được làm tất cả các phần của bài tập. * Tóm lại: Khi dạy học giáo viên cần vận dụng linh hoạt các hình thức và phương dạy học sẽ làm cho lớp học sôi nổi, gây hứng thú cho học sinh. Trong giờ học giáo viên cần tạo cơ hội cho mọi đối tượng học sinh được nói, được làm việc góp phần tác động đến khả năng tư duy của học sinh để học tốt môn học. Ngoài việc dạy học ở trên lớp nên tổ chức cho học sinh những giờ học ngoại khóa thật bổ ích 5
- như tổ chức các trò chơi đố vui để học các hội thi tìm từ nhanh, đặt câu đúng để các em tăng thêm vốn hiểu biết tạo ra sự thi đua, hứng khởi trong học tập Tiếng Việt nói chung và phân môn Luyện từ và câu nói riêng. Tuy nhiên phải làm sao trong lúc học mà chơi , không biến giờ học thành giờ chơi. Ngoài ra giáo viên cũng nên tổ chức cho các em đi tham quan thực tế học tập để các em mở rộng vốn kiến thức về quê hương, đất nước để giúp đỡ các em hiểu hơn về cuộc sống, từ đó làm giàu thêm vốn từ. Hay từ trong cuộc sống hằng ngày của các em thường giao tiếp với thầy cô, bạn bè, cha, mẹ ..học sinh phải nắm bắt được điều đó để điều chỉnh cho học sinh trong hoạt động giao tiếp. 1.2. Phân tích tình trạng của giải pháp đã biết (nếu là giải pháp cải tiến giải pháp đã biết trước đó tại cơ sở): Về phía giáo viên, trong nhiều năm qua việc giúp HS hiểu sâu sắc về các dạng bài tập Luyện từ và câu là một vấn đề không đơn giản. Qua thực tế giảng dạy, tôi nhận thấy đa phần giáo viên có thể hiện cải tiến phương pháp giảng dạy trên lớp, nắm vững tinh thần đổi mới phương pháp dạy học “ Lấy học sinh làm trung tâm”, nhiều tiết dạy gây hứng thú học tập cho học sinh. Tuy nhiên, qua dự giờ, thăm lớp đồng nghiệp, tôi nhận thấy vẫn còn hạn chế trong việc hướng dẫn học sinh nắm bắt kiến thức chưa thật sự triệt để nên quá trình Dạy- Học còn thiên về diễn giảng. Việc hướng dẫn cho HS mở rộng vốn từ có định hướng, trang bị cho học sinh các kiến thức cơ bản về Tiếng Việt gắn với các tình huống giao tiếp thường gặp mang tính chất máy móc, không mở rộng cho các em nắm sâu kiến thức của bài. Về phía HS, trường tôi nói chung và lớp tôi đang chủ nhiệm nói riêng có 100% học sinh là con em người dân tộc thiểu số, gia đình làm nghề nông. Ba mẹ phải đi làm ăn xa, ít quan tâm nhắc nhở việc học tập của con em. Hằng ngày, ngoài giờ lên lớp phải phụ giúp gia đình, ít có thời gian tự học, trình độ tiếp thu bài của các em chậm. Tiếng Việt là ngôn ngữ thứ hai của các em. Vốn từ rất ít, ngôn ngữ nghèo nàn. Các em còn rụt rè trong giao tiếp với thầy cô và bạn bè. Đa phần các em chỉ biết làm bài tập mà không hiểu tại sao phải làm như vậy, học sinh không có hứng thú trong việc giải quyết các kiến thức. 1.3. Nội dung đã cải tiến, sáng tạo để khắc phục những nhược điểm hiện tại (nếu là giải pháp cải tiến giải pháp đã biết trước đó tại cơ sở): Chất lượng học tập luôn là vấn đề được quan tâm hàng đầu của không những giáo viên đứng lớp, mà còn là vấn đề được cả cộng đồng quan tâm. Đặc biệt đối với chất lượng học tập của học sinh cấp Tiểu học ở vùng sâu, vùng xa nơi mà đại bộ phận dân số có cuộc sống còn lắm vất vả, khó khăn. Việc học tập của con em đồng bào được “khoán trắng” cho người giáo viên đứng lớp. Nhưng chất lượng học tập vẫn là con số cuối cùng để đánh giá khả năng và tinh thần trách nhiệm của giáo viên. Với trách nhiệm và sự sáng tạo của bản thân, tôi quyết tâm tìm biện pháp giúp các em học tốt thật sự tất cả các môn trong chương trình. 6
- Trong thời gian qua, thực hiện một số biện pháp giúp học sinh học tốt phân môn Luyện từ và câu lớp 4 đã nêu ở trên, tôi luôn giúp học sinh nắm được kiến thức trong phân môn “Luyện từ và câu”: Hướng dẫn học sinh hiểu được từ mới, phát triển kĩ năng, kỹ xảo sử dụng từ ngữ, học sinh còn biết nhận diện xác định các dạng bài tập, phân tích kỹ, chính xác yêu cầu của đề bài, từ đó có hướng cho hoạt động học tập của mình. Để đạt được các điều đó, tôi luôn chú ý những điều sau: - Trong quá trình giảng dạy phải thật cẩn thận không bao giờ nóng vội, mà phải luôn xem xét phương pháp giảng dạy của mình để điều chỉnh phương pháp sao cho phù hợp với việc nhận thức của học sinh, gây được hứng thú học tập cho các em. - Phải nghiên cứu để nhận thức rõ về vị trí, nhiệm vụ của phần kiến thức vừa dạy. Điều chỉnh sao cho phù hợp với đặc điểm học sinh lớp mình, đề ra hướng giải quyết cho từng dạng bài tập. - Không ngừng học hỏi trao đổi với đồng nghiệp để nghiên cứu đổi mới phương pháp dạy và học nhằm nâng cao chất lượng. Trong giảng dạy, giáo viên không được áp đặt học sinh mà coi nhiệm vụ học của học sinh là quan trọng, là nhân tố chủ yếu cho kết quả giáo dục. Luôn gợi mở khám phá tìm tòi biện pháp tốt nhất cho học sinh nắm chắc kiến thức. Rèn cho học sinh cách tư duy thông minh, sáng tạo, làm việc độc lập, nâng cao kết quả tự học của mình. Tạo cho học sinh có niềm vui và có hứng thú đặc biệt trong học tập. - Tôi luôn giảng dạy theo nguyên tắc từ những điều đơn giản đến nâng cao, khắc sâu... - Việc sử dụng phương pháp dạy học gắn chặt với các hình thức tổ chức dạy học. Tuỳ theo mục tiêu, nội dung, đối tượng và điều kiện cụ thể mà có những hình thức tổ chức thích hợp như: học cá nhân, học nhóm; học trong lớp, học ở ngoài lớp... Cần chuẩn bị tốt về phương pháp đối với các giờ thực hành để đảm bảo yêu cầu rèn luyện kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn, nâng cao hứng thú cho người học. Tích cực vận dụng công nghệ thông tin trong dạy học. 1.4. Khả năng áp dụng của sáng kiến: Áp dụng trong lĩnh vực giảng dạy 1.5. Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến: - Khi lập kế hoạch bài học, giáo viên phải đặt ra những tình huống trong giờ dạy ngoài dự kiến của mình để có thể kịp thời xử lý, đồng thời tạo cho giờ học sinh động, hấp dẫn thu hút và phát huy được tính chủ động, sáng tạo của học sinh. - Tận dụng thời gian rèn luyện cho học sinh thói quen sử dụng nói đúng, nói hay, sử dụng đúng từ ngữ trong nói và viết. - Rèn nhiều hơn các đối tượng còn chậm để các em vươn lên cùng các bạn. - Thường xuyên tổ chức sinh hoạt chuyên môn về chuyên đề phân môn Luyện từ và câu để giáo viên học hỏi và nắm chắc phương pháp dạy học nhất là cách dạy các dạng bài trong phân môn này đồng thời học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau trong quá 7
- trình dạy học. Rút ra những ưu điểm và nhược điểm để áp dụng phù hợp đối với từng dạng bài. - Đảm bảo về cơ sở vật chất, thiết bị khi dạy học. 1.6. Hiệu quả sáng kiến mang lại: Thông qua một số biện pháp giúp cho học sinh học tốt phân môn Luyện từ và câu trong thời gian qua, tôi thấy: Học sinh sẵn sàng đón nhận học phân môn này bất kỳ lúc nào. Đó cũng nói lên học sinh đã bắt đầu yêu thích môn học, mạnh dạn nêu ý kiến của mình. Tỉ lệ học sinh dùng từ chính xác, từ hay tăng lên, kĩ năng viết văn có tiến bộ rất nhiều. Tình hình học tập của học sinh được nâng lên rõ rệt trên nhiều phương diện, nhất là mặt chất lượng học của môn Tiếng Việt được tăng lên theo chiều hướng tích cực, đó là những tín hiệu vui. Đặc biệt, những em nhút nhát nay đã mạnh dạn hơn. Các em có hứng thú, tập trung, thi đua, vui vẻ, tích cực trong học tập. Chính vì thế mà tiết học luôn diễn ra một cách nhẹ nhàng, tự nhiên, sinh động và hiệu quả hơn, làm cho lớp học trở nên thân thiện, gần gũi đối với học sinh, tạo cho các em có cảm giác mỗi ngày đến trường là một ngày vui và học tập có tiến bộ rõ rệt. 2. Những thông tin cần được bảo mật: Không 3. Danh sách những thành viên đã tham gia áp dụng thử hoặc áp dụng sáng kiến lần đầu: Không 4. Hồ sơ kèm theo : Kế hoạch bài dạy minh họa, Ảnh chụp minh họa ví dụ dạng bài tập để mở rộng và hệ thống hoá vốn từ. Trên đây là một số kinh nghiệm nhỏ mà bản thân tôi đã rút ra trong việc thực hiện nhiệm vụ chuyên môn. Đồng thời tôi cũng chia sẻ cùng đội ngũ giáo viên của mình và được ứng dụng vào thực tiễn, bước đầu đem lại hiệu quả thiết thực. Tôi rất mong được sự đóng góp, chia sẻ ý kiến của Hội đồng khoa học các cấp và đồng nghiệp để tôi có thêm những kinh nghiệm nhằm góp phần vào công tác giáo dục đào tạo trong những năm tiếp theo đạt được hiệu quả cao hơn. Xin chân thành cảm ơn! Phước Hòa, ngày 26 tháng 3 năm 2022 Người báo cáo Đặng Thị Trị 8
- KẾ HOẠCH BÀI DẠY - LỚP 4 LUYỆN TỪ VÀ CÂU Tiết CT: 17 BÀI: MỞ RỘNG VỐN TỪ: ƯỚC MƠ I. Yêu cầu cần đạt: - Biết thêm một số từ ngữ về chủ điểm Trên đôi cánh ước mơ; bước đầu tìm được một số từ cùng nghĩa với từ ước mơ bắt đầu bằng tiếng ước, bằng tiếng mơ (BT1, BT2) ; ghép được từ ngữ sau từ ước mơ và nhận biết được sự đánh giá của từ ngữ đó (BT3), nêu được ví dụ minh họa về một loại ước mơ ( BT4). - Rèn kĩ năng dùng từ, đặt câu - HS có biết tạo cho mình những ước mở được đánh giá cao II. Đồ dùng dạy học: - GV: + Các sile bài giảng + Bảng nhóm và bút dạ cho BT2, BT4 - HS: vở BT, bút, ... III. Các hoạt động dạy- học chủ yếu: Hoạt động của GV Hoạt động của HS 1. Khởi động: (4’) Cho cả lớp chơi trò chơi “ Đoán ô - HS nghe nhạc và xung phong đoán ô chữ chữ”. GV chia lớp thành hai đội, mở đĩa cho HS nghe bài hát Ước mơ và có thể có gợi ý: Tên bài hát cũng là nội dung chủ điểm mà chúng ta đang học. Yêu cầu học sinh đoán. Đội nào giải được ô chữ là đội giành chiến thắng, được tuyên dương. Đội đoán chưa đúng sẽ phải hát chung một bài. Sau đó GV giới thiệu: Tiết Luyện từ và câu hôm nay chúng ta sẽ mở rộng vốn từ, thành ngữ thuộc chủ điểm này. - GV ghi đề bài - HS nhắc lại đề 2. Thực hành:(30’) Mục tiêu: - Biết thêm một số từ ngữ về chủ điểm: Trên đôi cánh ước mơ; bước đầu tìm được một số từ cùng nghĩa với từ ước mơ bắt đầu bằng tiếng ước, bằng tiếng mơ (BT1, BT2); ghép được từ ngữ sau từ ước mơ và nhận biết được sự đánh giá của từ ngữ đó (BT3), nêu được VD minh hoạ về một loại ước mơ (BT4). Cách tiến hành: Cá nhân-Nhóm-Cả lớp Hướng dẫn HS làm bài Bài 1: Gọi HS đọc yêu cầu - 1 em đọc. - Yêu cầu HS đọc thầm bài Trung thu - Cá nhân từng HS đọc thầm đoạn văn độc lập tìm từ đồng nghĩa với từ ước phát hiện từ đồng nghĩa với từ ước mơ: mơ mơ ước, mơ tưởng - Gọi HS trả lời: - HS trả lời + Mong ước có nghĩa là gì ? - HS khác nhận xét + Mơ tưởng có nghĩa là gì ? 9
- - GV kết luận lời giải đúng. - Cả lớp chú ý Bài 2: Gọi HS đọc yêu cầu - 1 em đọc, lớp đọc thầm. - Phát giấy và bút dạ cho các nhóm - HS thảo luận nhóm đôi tìm từ đồng nghĩa làm bài. với từ ước mơ trong các từ cho trước ghi vào giấy và đại diện nhóm xung phong trả lời các nhóm khác nhận xét - GV kết luận - HS chú ý theo dõi + Giải nghĩa 1 số từ không đồng nghĩa để học sinh hiểu: ước hẹn, ước đoán, mơ màng... Bài 3: Gọi HS đọc yêu cầu và nội - HS nêu yêu cầu và nội dung bài tập. dung. - Nhóm 4 em thảo luận, làm bài vào - Phát phiếu và yêu cầu HS thảo luận phiếu. làm bài theo nhóm 4. - Gọi HS trình bày, GV kết luận lời - Đại diện nhóm trình bày giải đúng. Bài 4: Gọi HS đọc yêu cầu - HS nêu và nắm yêu cầu. - Gọi HS phát biểu ý kiến. Sau mỗi HS - HS suy nghĩ xung phong trả lời một loại nói GV nhận xét xem các em tìm ví ước mơ. Mời bạn nhận xét dụ đã phù hợp với nội dung chưa? - GV nhận xét, chốt ý 3.Vận dụng: (1’) - Ghi nhớ các từ ngữ cùng chủ điểm - HS chú ý lắng nghe. - Lập kế hoạch để thực hiện những ước mơ của em - Nhận xét tiết học. Dặn HS về làm lại bài tập. IV. ĐIỀU CHỈNH- BỔ SUNG ..................................................................................................................................... ..................................................................................................................................... ******************************* 10
- ẢNH CHỤP MINH HỌA TRONG GIỜ HỌC TẠI LỚP VỀ: VÍ DỤ DẠNG BÀI TẬP ĐỂ MỞ RỘNG VÀ HỆ THỐNG HÓA VỐN TỪ Ví dụ: Khi dạy bài: Mở rộng vốn từ ''Ước mơ'' Tiếng Việt 4/ trang 87 Bài tập 1: Học làm việc cá nhân Bài tập 2: Học sinh thảo luận nhóm đôi Bài tâp 3: Học sinh thảo luận nhóm 4 Bài tập 4: Nêu ví dụ về 1 loại ước mơ nói trên Bài này cho học sinh làm việc cá nhân. 11

