Báo cáo Giải pháp Giúp học tốt từ vựng Tiếng Anh cho học sinh khối Lớp 4, trường Tiểu học Lý Thường Kiệt
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Báo cáo Giải pháp Giúp học tốt từ vựng Tiếng Anh cho học sinh khối Lớp 4, trường Tiểu học Lý Thường Kiệt", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
bao_cao_giai_phap_giup_hoc_tot_tu_vung_tieng_anh_cho_hoc_sin.docx
Báo cáo Giải pháp Giúp học tốt từ vựng Tiếng Anh cho học sinh khối Lớp 4, trường Tiểu học Lý Thường.pdf
Nội dung tài liệu: Báo cáo Giải pháp Giúp học tốt từ vựng Tiếng Anh cho học sinh khối Lớp 4, trường Tiểu học Lý Thường Kiệt
- 3 học sinh khối lớp 4, trường Tiểu học Lý Thường Kiệt” 2. Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài. Trên cơ sở khảo sát thực trạng học tiếng Anh của học sinh trường Tiểu học Lý Thường Kiệt, từ đó phân tích, so sánh, rút ra phương pháp phù hợp nhằm nâng cao chất lượng dạy và học từ vựng Tiếng Anh, thông qua đó để đề ra các phương pháp giúp học sinh ghi nhớ từ vựng một cách có hiệu quả, nhằm xây dựng, bồi dưỡng, mở rộng vốn từ của các em, từ đó nâng cao chất lượng dạy và học để đạt mục tiêu học ngoại ngữ của chương trình GDPT 2018 là: “Học ngoại ngữ để giao tiếp”. Giúp học sinh củng cố kiến thức về từ vựng, tăng hứng thú, lòng say mê, yêu thích môn Tiếng Anh, phát huy khả năng học môn tiếng Anh cho các em, và trên hết là các em có thể trang bị cho bản thân mình một số kiến thức cho những bậc học tiếp theo cũng như trong tương lai các em về sau. 3. Đối tượng nghiên cứu. Nghiên cứu tiến hành trên học sinh khối lớp 4 tại trường Tiểu học Lý Thường Kiệt, xã Cư Bông, huyện Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk năm học 2023 – 2024. 4. Giới hạn của đề tài. Đề tài chỉ nghiên cứ u một số giải pháp giúp học sinh ghi nhớ tốt từ vựng tiếng Anh cho học sinh khối lớp 4 ở trường Tiểu học Lý Thường Kiệt. 5. Phương pháp nghiên cứu. • Phương pháp nghiên cứu tài liêụ : Sử dụng tổng thể các phương pháp nghiên cứu tài liệu gồm: phân loại tài liệu, phân tích tài liệu, đọc, ghi chép và tóm tắt tài liệu khoa học của các công trình khoa học đã nghiên cứu từ đó rút ra cơ sở lý luận của đề tài đang nghiên cứu. • Phương pháp điều tra. • Phương pháp kiểm tra, đánh giá. • Phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp. • Phương pháp thực hành sư phạm.
- 4 • Phương pháp điều tra bằng phiếu h ỏi: Đặt các câu hỏi điều tra về sự hứng thú của học sinh về việc học tiếng Anh hiện nay, từ đó rút ra phương pháp nhằm cải thiên và nâng cao chất lượng hoc sinh. • Phương pháp trình bày bản thống kê và xử lý số liệu: (Tính theo tỷ lệ %)
- 5 PHẦN NỘI DUNG 1. Cơ sở lý luận. Theo chương trình GDPT (Ban hành kèm theo Thông tư số 32/2018/TT- BGDĐT ngày 26 tháng 12 năm 2018 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo), môn Tiếng Anh chính thức là môn học bắt buộc từ lớp 3 đến lớp 12, và được xây dựng theo quan điểm lấy năng lực giao tiếp là mục tiêu của quá trình dạy học, lấy học sinh làm trung tâm. Mục tiêu sau khi hoàn thành chương trình Tiểu học, học sinh có thể: Giao tiếp đơn giản bằng tiếng Anh thông qua 4 kỹ năng: nghe, nói đọc, viết, trong đó nhấn mạnh hai kỹ năng nghe và nói; Có kiến thức cơ bản và tối thiểu về tiếng Anh, bao gồm ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp; Có thái độ tích cực đối với việc học tiếng Anh, biết tự hào, yêu quý và trân trọng nền văn hóa và ngôn ngữ của dân tộc mình; Hình thành cách học tiếng Anh hiệu quả, tạo cơ sở cho việc học ngoại ngữ trong tương lai. Trong việc dạy và học tiếng Anh, từ vựng là một trong ba thành tố tạo thành hệ thống kiến thức ngôn ngữ và đóng vai trò là phương tiện, điều kiện hình thành và phát triển kỹ năng giao tiếp. Trong bất kỳ một ngôn ngữ nào, vai trò của từ vựng cũng hết sức quan trọng. Không thể hiểu ngôn ngữ mà không hiểu biết từ vựng. Một từ vựng đơn lẻ cũng không thể điễn đạt được điều muốn nói. Như vậy việc học từ vựng và rèn luyện kĩ năng sử dụng từ vựng là yếu tố hàng đầu trong việc truyền thụ và tiếp thu một ngôn ngữ nói chung và tiếng Anh nói riêng. Với một ngôn ngữ mới đối với các em học sinh Tiểu học ở vùng nông thôn như nơi tôi đang công tác lại càng khó hơn, các em không thể sử dụng và phát triển được cả bốn kỹ năng nghe, nói, đọc, viết. Vì vậy, cần phải sử dụng những phương pháp hiệu quả để phát huy được tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh, nhưng phải phù hợp với đặc trưng môn học, phù hợp với đối tượng học sinh, bồi dưỡng năng lực tự học, hợp tác, rèn luyện, vận dụng các từ vựng đã được học, từ đó đem lại niềm vui, hứng thú đối với việc học từ vựng của các em. 2. Thực trạng vấn đề nghiên cứu.
- 6 a. Thuận lợi Môn Tiếng Anh đã và đang ngày càng nhận được nhiều sự quan tâm của học sinh, phụ huynh học sinh, chính quyền địa phương và các cấp lãnh đạo. Hàng năm môn Tiếng Anh được nhà trường bổ sung nhiều đồ dùng, thiết bị phục vụ cho công tác dạy và học, bố trí phòng Tiếng Anh riêng, có ti vi thông minh, kết nối Internet. Đội ngũ giáo viên trẻ, nhiệt tình, luôn biết tìm tòi, sáng tạo, áp dụng những điều mới, hiệu quả vào công tác dạy và học, đáp ứng mục tiêu giáo dục hiện nay. Hằng năm, giáo viên Tiếng Anh cũng được tham gia các đợt tập huấn, bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ. Đi cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin, giúp giáo viên có nguồn tư liệu, học liệu phong phú, đa dạng, phục vụ cho quá trình dạy học, làm giảm đi rất nhiều gánh nặng về công tác soạn giảng, hồ sơ, sổ sách. b. Khó khăn Trường TH Lý Thường Kiệt là một trường nằm ở xã Cư Bông, một xã vùng sâu vùng xa của huyện, đa số học sinh trên địa bàn là con em của những gia đình khó khăn, bố mẹ thuần nông, các em chưa có mọi điều kiện tốt để học tập, một số học sinh được trang bị máy tính hay điện thoại thông minh nhưng hỗ trợ cho việc học chưa nhiều. Hơn thế, năm học 2023-2024 Trường Tiểu học Bùi Thị Xuân (huyện M’Đrắc – tỉnh ĐăkLăk) giải thể, 268 hộ dân tái định cư về xã nhà, 249 học sinh của trường này chuyển về tiếp tục học tập tại trường Tiểu học Lý Thường Kiệt, gia đình các em vẫn còn đang trong quá trình ổn định về chỗ ở, nơi làm việc, nhiều gia đình còn đi qua về lại giữa hai xã để làm nương rẫy, để các con ở nhà đứa lớn chăm đứa bé, nên các em chưa nhận được nhiều sự quan tâm, phần lớn các em còn rất nhút nhát, thiếu tự tin, ngại phát âm và thực hành giao tiếp. Địa bàn trường có hơn 77% là học sinh dân tộc thiểu số, trong đó có khoảng 15% học sinh dân tộc tại chỗ (Ê đê), khả năng tiếp thu của các em chậm, các em bị rào cản của tiếng Mẹ đẻ khá lớn.
- 7 Môn Tiếng Anh là môn học không phải phụ huynh nào cũng biết. Vì thế, việc hỗ trợ học sinh học tập ở nhà là còn nhiều hạn chế. Đây là năm học đầu tiên sử dụng bộ sách giáo khoa Tiếng anh 4 I learn Smart Start, thời gian nghiên cứu và trải nghiệm còn ít, nên giáo viên có thể chưa khám phá hết ý tưởng cũng như hiệu quả sử dụng sách. Dạy học trong một tập thể lớp, trình độ nhận thức có nhiều cấp độ khác nhau, một số em có ý thức học tập nghiêm túc, tuy nhiên có không ít học sinh không hứng thú, không tập trung, lười học, dẫn đến không nhớ được từ vựng ở cả hình thức lời nói và chữ viết, các em rất mau quên và dễ dàng lẫn lộn giữa từ này với từ khác. Do vậy, nhiều học sinh đâm ra chán học. Ngoài ra thời gian trên lớp không nhiều cũng khiến cho việc luyện tập từ vựng còn hạn chế. Năm học 2023-2024, tôi được phân công giảng dạy tiếng anh khối lớp 4. Qua trực tiếp giảng dạy, tôi nhận thấy bốn kỹ năng của các em còn rất nhiều hạn chế, cụ thể: ▪ Về kỹ năng nghe: Các em nghe nhưng không hiểu nội dung của bài dẫn đến không trả lời được câu hỏi mà đề bài đặt ra, hoặc các em nghe được từ vựng, nhưng không viết chính xác được từ đó. ▪ Về kỹ năng nói: Các em ngại giao tiếp, nói chưa nói trôi chảy, phát âm sai, bị “bí từ” nên dẫn đến “bí ý tưởng nói” ▪ Về kỹ năng đọc: Các em không đọc được, đọc còn chậm, đọc mà không hiểu, hiểu ít hoặc hiểu sai nội dung bài đọc. ▪ Về kỹ năng viết: Các em không viết được, viết sai chính tả các từ đã được học, dẫn đến không áp dụng được các từ vào câu. * Bước đầu làm quen với môn học mới và khó nên các em còn thiếu hứng thú, chán nản. Tôi đã tiến hành một phiếu khảo sát về hứng thú với môn tiếng Anh đối với học sinh khối lớp 4 đầu học kì I năm học 2023-2024 và có kết quả như sau:
- 8 Học kì/ Tổng số Thích Bình thường Không thích Đầu HKI 25/113 54/113 34/113 113 học sinh (22,1%) (47,8%) (30,1%) Qua bảng thống kê ta thấy nhiều học sinh không thích học tiếng Anh (30,1%), HS thích thấp (22,1%). Theo tìm hiểu, nguyên nhân các em cho rằng môn học này khó, các em chán nản. * Trước khi đưa ra giải pháp, tôi cũng tiến hành khảo sát khả năng ghi nhớ từ vựng và vận dụng từ vựng vào các kỹ năng của các em học sinh khối lớp 4, qua một bài kiểm tra đánh giá năng lực đầu học kì I, và thu được kết quả như sau: Học kì/ Tổng số Hoàn thành tốt Hoàn thành Chưa hoàn thành Đầu HKI 29/113 50/113 34/113 113 học sinh (25,7%) (44,2%) (30,1%) Kết quả trên cho chúng ta thấy tỉ lệ học sinh chưa hoàn thành cao (30,1%), học hoàn thành tốt thấp ( 25,7%) . Những con số này đặt ra nhiệm vụ cần giải quyết vô cùng to lớn, và cho thấy vai trò của giải pháp, để góp phần nâng cao chất lượng trong công tác dạy và học từ vựng cho học sinh. 3. Nội dung và hình thức của giải pháp. a. Mục tiêu của giải pháp Đối với việc học ngôn ngữ của học sinh, đặc biệt là việc học từ vựng của học sinh Tiểu học vẫn còn nhiều hạn chế, các em chưa ghi nhớ được nhiều từ, dẫn đến tâm lí sợ môn học này khiến cho hiệu quả của quá trình học chưa cao. Tâm lí của các em là thích chơi hơn học, thích hình ảnh, hoạt động hơn lí thuyết. Chính vì vậy, giáo viên cần sử dụng biện pháp, kĩ thuật phù hợp để học thông qua chơi, khơi
- 9 dậy hứng thú, say mê học tập cho học sinh, để các em tập trung chú ý, tích cực, chủ động tham gia các hoạt động. Tạo cho học sinh một môi trường học tập ngôn ngữ tự nhiên, thoải mái, không gò bó, nặng nề. Giúp các em hệ thống từ vựng một cách dễ dàng, và ghi nhớ từ vựng một cách tự nhiên, lâu dài. Từ đó, các em có thể vận dụng vốn từ vào các kĩ năng một cách có hiệu quả. b. Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp • Thứ nhất: dạy và học từ vựng bằng phương pháp TPR (Total Physical Response – phản xạ toàn bộ) ▪ Tạo cho học sinh có một môi trường học tập thú vị và thoải mái. Học sinh được học ngôn ngữ không những bằng âm thanh, hình ảnh, mà còn lẫn vận động, giúp cho các em tiếp thu ngôn ngữ một cách tự nhiên, dễ dàng ghi nhớ và lưu trữ ngôn ngữ lâu dài. ▪ Cách thức thực hiện: - Chuẩn bị: Giáo viên chuẩn bị slide Powpoint hoặc Flashcards về từ hoặc cụm từ. Giáo viên giới thiệu các từ hoặc cụm từ bằng cách chiếu slide hoặc dùng Flashcard. - Luyện phát âm: Giáo viên đi từng từ/ cụm từ một, cho học sinh nghe và đọc theo để tạo hiệu ứng đám đông, rồi sau đó cho đọc cá nhân để sửa lỗi phát âm. - Ghép từ vựng vào hành động: Giáo viên đọc to từ/ cụm từ vừa học, kết hợp hành động để mô tả từ/ cụm từ đó, sau đó cho học sinh vừa nói và hành động theo. - Ôn lại: Khi đã hoàn tất cả các từ/ cụm từ cần học. Giáo viên cho cả lớp luyện tập, lặp lại các từ/ cụm từ kết hợp hành động. Có thể kết hợp tổ chức trò chơi dựa vào các hoạt động, yêu cầu học sinh nêu từ/ cụm từ và ngược lại. Hình ảnh các bạn HS khối 4 nhảy, đọc từ kết hợp hoạt động
- 10 Ví dụ: Unit 4: Activities, Lesson 2 (Tiếng Anh 4 - I learn Smart Start): sau khi hoàn thành các bước dạy từ vựng về hoạt động, và cho học sinh kết hợp đọc các từ vựng kết hợp các hành động của cơ thể. Tôi cho 1 bạn lên bốc 1 bức tranh bất kì, và dùng hoạt động của cơ thể để mô tả từ vựng được thể hiện trong tranh, các học sinh khác ở dưới dựa vào hoạt động mà bạn diễn đạt, giơ tay đặt câu hỏi, và câu trả lời. Mỗi câu mà các em đặt đúng sẽ nhận được 1 sticker. “ Is he/she ? – Yes, he/she is/ No, he/she isn’t. He’s /She’s .”. “Are they ? - Yes, they are/ No, they aren’t. They’re ....” • Thứ hai: hệ thống từ vựng theo chủ điểm bằng sơ đồ tư duy ▪ Học sinh củng cố các từ vựng đã học bằng cách hệ thống mối quan hệ, móc nối giữa các từ vựng với nhau, từ đó nắm được bức tranh toàn cảnh của các từ vựng theo từng chủ điểm. Giúp học sinh dễ dàng hình dung, và ghi nhớ từ vựng. Học sinh được phát triển không những năng lực ngôn ngữ, mà còn phát triển tư duy, thẩm mĩ, bằng việc vẽ, thiết kế mối quan hề giữa các từ vựng với nhau. ▪ Cách thức thực hiện:
- 11 - Chuẩn bị: Giáo viên liệt kê trước các chủ điểm từ vựng lớn trong sách. Khi học đến chủ điểm nào, giáo viên cho học sinh ôn tập các từ vựng liên quan đến chủ điểm. Học sinh chuẩn bị cho mình bút màu, giấy A3, hoặc tận dụng mặt sau của các tranh, ảnh, lịch - Khám phá: Giáo viên đưa ra một bản đồ tư duy mẫu cho học sinh xem và giải thích về các nhánh, đường vẽ và đối tượng được thể hiện trên đó. Giáo viên định hướng cho các em không nhất thiết phải vẽ giống như bản đồ tư duy mẫu mà giáo viên đưa ra, mà có thể tự do thiết kế nhưng đảm bảo về nội dung. - Thực hành: Từ hình ảnh trung tâm là chủ đề chính, học sinh vẽ các nhánh con, gọi là nhánh cấp 1, thể hiện các từ vựng nhánh cấp 1. Tiếp đến từ nhánh cấp 1, lại triển khai thêm các nhánh con của nhánh cấp 1, là nhánh cấp 2, thể hiện từ vựng nhánh cấp 2, Cứ tiếp tục như thế cho đến nhánh cuối cùng. Học sinh sử dụng màu sắc, bố trí thông tin đều quanh hình ảnh trung tâm, hoặc có thể dùng hình ảnh để minh họa cho các từ vựng trong bản đồ tư duy. Các em cũng không nên vẽ hết tờ giấy mà để một số khoảng trống để có thể thêm vào các nhánh là các từ mà các em sẽ học sau này. Như vậy thì bản đồ tư sẽ không nhất thiết vẽ và hoàn thành ngay một lần, mà nó còn có thể tiếp tục được hoàn thiện khi các em gặp các từ vựng mới liên quan đến chủ điểm đó. - Vận dụng: Sau khi học sinh đã hoàn thành, giáo viên lựa chọn một vài bản đồ tư duy tiêu biểu của học sinh, trưng bày lên bảng, cho học sinh vận dụng các từ vựng vào trong các câu trúc được minh họa trong bản đồ. - Ví dụ: Sau khi dạy xong Unit 1: Animals (Tiếng Anh 4), cho HS củng cố lại các từ vựng về chủ đề động vật bằng cách cho HS vẽ sơ đồ tư duy các động vật mà các em đã được học, kết hợp cấu trúc câu. Tôi đưa ra mẫu bắt đầu từ trung tâm là 3 cấu trúc câu, sau đó yêu cầu HS hoàn thành sơ đồ tư duy của mình. Sau khi HS hoàn thành, tôi chọn một số sản phẩm của học sinh, trưng bày lên bảng, cho HS thực hành hỏi và trả lời theo sơ đồ tư duy được trưng bày trên bảng.
- 12 Hình ảnh các bạn học sinh lớp 4C đang vẽ bản đồ tư duy về chủ điểm “animals” Sản phẩm bàn đồ tư duy của các em HS khối lớp 4 • Thứ ba: Áp dụng một số trò chơi tạo hứng thú cho học sinh luyện tập và ghi nhớ từ vựng ❖ Game 1: "Things snatchs" ▪ Học sinh luyện tập từ vựng trong môi trường thoải mái, vui vẻ. Đối với trò chơi này, giúp cho học sinh phát âm, nhận diện từ, rèn kỹ năng nghe cho tất cả các đối tượng học sinh, đặc biệt là học sinh yếu kém. Trong quá trình học ngôn ngữ, tiến hành hoạt động này nhiều lần có thể dần hình thành năng lực ngôn ngữ cho các em. ▪ Cách thức thực hiện: - Chuẩn bị: Giáo viên chuẩn bị sẵn các vật thật hoặc các tranh nhỏ, đơn giản minh họa từ vựng.
- 13 - Chia nhóm, phổ biến luật chơi: Giáo viên chia học sinh thành các nhóm nhỏ (4-6 HS) và nêu yêu cầu trò chơi: Mỗi nhóm sẽ cử ra 1 HS là nhóm trưởng, các HS khác trong nhóm ngồi quay mặt vào nhau. HS đặt các vật/tranh mà giáo viên giao cho mỗi nhóm lên bàn. Giáo viên phổ biến luật chơi và ấn định thời gian hoặc số lượt chơi. - Thực hành: Nhóm trưởng sẽ lần lượt gọi tên đồ vật, hoặc lần lượt nói to từng từ vựng bất kì được minh họa trong tranh bằng tiếng Anh, các HS còn lại trong nhóm nghe và nhanh tay lấy vật/bức tranh bạn mình vừa gọi tên, bạn nào lấy được đúng vật/ bức tranh đó sẽ nhận được 1 sticker. Sau khi hết thời gian hoặc số lượt chơi đã được ấn định từ trước, bạn nào lấy được nhiều vật/bức tranh đúng nhất sẽ giành chiến thắng. Sau đó, mỗi học sinh sẽ cho cả nhóm xem lại những vật/bức tranh mình vừa lấy được, lần lượt đọc lại các từ vựng thể hiện trong vật/ bức tranh. Các bạn còn lại chú ý lắng nghe xem bạn mình đã gọi đúng tên vật, hoặc nói đúng từ vựng được thể hiện trong bức tranh chưa và sửa lỗi. Hình ảnh các bạn HS lớp 4A đang chơi với các vật thật Ví dụ: Unit 4: Activities (tiếng Anh 4). Để luyện tập các từ vựng về các hoạt động đã được học, giáo viên chuẩn bị các bộ tranh nhỏ minh họa các từ vựng về hoạt động đó. GV chia HS thành 6 - 8 nhóm, GV nêu thể lệ trò chơi và ấn định thời gian, phát mỗi nhóm 1 bộ tranh nhỏ, HS cử 1 nhóm trưởng đại diện mỗi nhóm nêu

