Báo cáo Biện pháp Xây dựng và sử dụng bài tập nhận thức trong dạy học phần đặc điểm chung của tự nhiên - Địa lí 12 theo định hướng PISA
Bạn đang xem tài liệu "Báo cáo Biện pháp Xây dựng và sử dụng bài tập nhận thức trong dạy học phần đặc điểm chung của tự nhiên - Địa lí 12 theo định hướng PISA", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
bao_cao_bien_phap_xay_dung_va_su_dung_bai_tap_nhan_thuc_tron.doc
Nội dung tài liệu: Báo cáo Biện pháp Xây dựng và sử dụng bài tập nhận thức trong dạy học phần đặc điểm chung của tự nhiên - Địa lí 12 theo định hướng PISA
- Từ những lí do trên, để nâng cao chất lượng dạy học, đáp ứng mục tiêu giáo dục hiện nay, tôi đã chọn đề tài: “Xây dựng và sử dụng bài tập nhận thức trong dạy học phần đặc điểm chung của tự nhiên - Địa lí 12 theo định hướng PISA". 2. Nội dung của biện pháp 2.1. Khái quát về chương trình đánh giá học sinh quốc tế PISA PISA là viết tắt của cụm từ tiếng Anh “Programme for International Student Assessment - Chương trình đánh giá học sinh quốc tế” do OECD khởi xướng và chỉ đạo, nhằm tìm kiếm các chỉ số đánh giá tính hiệu quả, chất lượng của hệ thống giáo dục của mỗi nước tham gia, qua đó rút ra các bài học về chính sách đối với giáo dục phổ thông. PISA được thực hiện bắt đầu từ năm 2000 với đối tượng HS trong độ tuổi PISA. Quy mô của PISA là rất lớn, có tính toàn cầu và được thực hiện đều đặn theo chu kỳ ba năm một lần tạo điều kiện cho các quốc gia có thể theo dõi sự tiến bộ của nền giáo dục đối với việc phấn đấu đạt được các mục tiêu giáo dục cơ bản. PISA kiểm tra mức hiểu biết và vận dụng trong ba lĩnh vực: đọc hiểu, toán học và khoa học. Cho đến nay, PISA là khảo sát giáo dục duy nhất đánh giá về năng lực phổ thông của HS độ tuổi 15 - độ tuổi kết thúc giáo dục bắt buộc ở hầu hết các quốc gia. PISA là một trong những nỗ lực đầu tiên xây dựng một hệ thống đánh giá mang theo triết lý giáo dục và phương pháp giảng dạy đáp ứng những nhu cầu của thời đại. 2.2. Mục tiêu đánh giá của PISA PISA tập trung vào đánh giá 3 mảng năng lực chính: Năng lực toán học phổ thông (Mathematical literacy); Năng lực đọc hiểu phổ thông (Reading literacy); Năng lực khoa học phổ thông (Science literacy). Đó là những kiến thức và kỹ năng cần thiết cho mỗi HS bước vào cuộc sống trưởng thành và quá trình học tập suốt đời của mình. Năng lực toán học phổ thông: Là năng lực của một cá nhân để nhận biết và hiểu về vai trò của toán học trong thế giới, biết dựa vào toán học để đưa ra những suy đoán có nền tảng vững chắc vừa đáp ứng được các nhu cầu của đời sống cá nhân, vừa như một công dân biết suy luận, có mối quan tâm và có tính xây dựng. Năng lực đọc hiểu phổ thông: Là năng lực hiểu, sử dụng và phản hồi lại ý kiến của một cá nhân sau khi đọc một văn bản. Khái niệm học và đặc biệt là học suốt đời đòi hỏi phải mở rộng cách hiểu về việc biết đọc. Biết đọc không chỉ còn là yêu cầu của suốt thời kì tuổi thơ trong nhà trường phổ thông, thay vào đó nó còn trở thành một nhân tố quan trọng trong việc xây dựng, mở rộng những kiến thức cá nhân, kĩ năng và chiến lược của mỗi cá nhân trong suốt cuộc đời khi họ tham gia vào các tình huống khác nhau cũng như trong mối quan hệ với người xung quanh. 2
- Năng lực khoa học phổ thông: Là năng lực của một cá nhân biết sử dụng kiến thức khoa học để xác định các câu hỏi và rút ra kết luận dựa trên chứng cứ để hiểu và đưa ra quyết định về thế giới tự nhiên thông qua hoạt động của con người thực hiện việc thay đổi thế giới tự nhiên. 2.3. Cách đánh giá trong bài tập PISA Các kiểu câu hỏi được sử dụng khi thiết kế các bài tập nhận thức theo định hướng PISA. Các mức trả lời: Có ba mức trả lời: Mức đầy đủ, mức chưa đầy đủ, không đạt. Các câu trả lời được đánh giá dựa vào mức độ HS hiểu văn bản hoặc chủ đề trong câu hỏi. “Mức đầy đủ” không nhất thiết chỉ là những câu trả lời hoàn hảo hoặc đúng hoàn toàn. “Không đạt” không có nghĩa là hoàn toàn không đúng. Đối tượng đánh giá: Học sinh ở độ tuổi từ 15 trở lên đang theo học ở chương trình phổ thông và giáo dục thường xuyên. 2.4. Khái niệm bài tập nhân thức trong dạy học Địa lí BTNT là đối tượng nhận thức của học sinh, bất kì bài tập nhận thức nào cũng chứa đựng bên trong nó một tình huống xung đột, mâu thuẫn giữa cái đưa ra và cái cần tìm. Mà việc nhận thức nó là nguồn gốc tư duy. Bài tập nhận thức Địa lí cũng vậy phải chứa đựng tình huống có vấn đề, đặt học sinh trước một khó khăn, một mâu thuẫn giữa điều đã biết và chưa biết, nếu không có điều kiện này thì không phải là bài tập nhận thức Địa lí. Giữa câu hỏi và bài tập nhận thức Địa lí có quan hệ với nhau, bài tập nhận thức Địa lí có thể nêu dưới dạng câu hỏi nhưng không phải bất cứ câu hỏi nào cũng là bài tập nhận thức, kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh. Như vậy, khác với các loại bài tập khác, vận dụng những kiến thức đã học, giải bài tập để rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo. Còn đối với BTNT Địa lí giải bài tập là dựa trên cơ sở những kiến thức cũ đã học để nghiên cứu, tư duy và phát hiện kiến thức mới. 2.5. Các dạng bài tập nhận thức trong dạy học Địa lí Trong chương trình địa lí 12, những kiến thức Địa lí rất rộng lớn ngay cả phần Đặc điểm chung của tự nhiên cũng thể hiện nhiều nội dung, kiến thức như: Đất nước nhiều đồi núi, thiên nhiên chịu ảnh hưởng sâu sắc của Biển, Thiên nhiên nhiệt đới ẩm gió mùa, Thiên nhiên phân hoá đa dạng Việc phân loại BTNT thường nhiều loại do hệ thống BTNT có đặc tính phức tạp về nội dung và đa dạng phong phú về hình thức với nhiều kiểu, loại, dạng khác nhau. Người giáo viên cần phân loại các BTNT sao cho phù hợp, khoa học với nội dung kiến thức và năng lực học sinh. Trong dạy học Địa lí có thể phân ra các loại 3
- BTNT như sau: Các nhóm BTNT nhằm nghiên cứu tài liệu, tìm ra kiến thức mới; Các nhóm BTNT nhằm cũng cố kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo trong Địa lí; Các nhóm BTNT nhằm khái quát hóa và hệ thống hóa kiến thức; Các nhóm BTNTN nhằm kiểm tra, đánh giá kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo. 2.6. Quy trình xây dựng các bài tập nhận thức trong dạy học Địa lí theo định hướng PISA Quy trình xây dựng hệ thống bài tập nhận thức theo định hướng PISA trong dạy học Địa lí THPT cần thực hiện những bước sau: Bước 1: Dựa vào mục tiêu, kiến thức cần đạt được trong bài từ đó lựa chọn những đơn vị kiến thức phù hợp. Khi xây dựng hệ thống bài tập Địa lí 12 - phần đặc điểm chung của tự nhiên theo định hướng PISA, cần lựa chọn những đơn vị kiến thức không chỉ có ý nghĩa về mặt địa lí mà còn gắn liền với thực tiễn với đời sống của cá nhân và cộng đồng như: Ảnh hưởng của tự nhiên đến sự phát triển kinh tế - xã hội; đến đời sống và chất lượng cuộc sống ; Phát huy được năng lực khoa học, năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề, năng lực đọc hiểu vấn đề của HS nhưng không quá khó, quá trìu tượng làm mất đi bản chất địa lí. Bước 2: Thiết kế bài tập theo hướng tiếp cận PISA theo hình thức - Xây dựng phần dẫn là các tình huống có vấn đề để học sinh tư duy, đưa ra các vấn đề cần giải quyết hoặc xây dựng phần dẫn là tình huống gắn liền với thực tiễn, gần gũi với đời sống con người để thu hút sự quan tâm của học sinh. - Xây dựng các câu hỏi liên quan đến vấn đề thực tiễn - Đưa ra các phương án trả lời có thể có của học sinh. Tuỳ thuộc vào năng lực học sinh để có thể đưa ra các mức độ yêu cầu: nhận biết, thông hiểu và vận dụng được các đối tượng địa lí. Có ba mức trả lời: Mức đầy đủ, mức chưa đầy đủ, không đạt. Các câu trả lời được đánh giá dựa vào mức độ HS hiểu văn bản hoặc chủ đề trong câu hỏi Bước 3: Áp dụng bài tập vào thực tiễn dạy học và thực tiễn đời sống. Bước 4: Rút kinh nghiệm và hoàn thiện bài tập. 2.7. Cách thức sử dụng các bài tập nhận thức trong dạy học Địa lí theo định hướng PISA: Sử dụng khi dạy bài mới, luyện tập, ôn tập, tự học ở nhà, kiểm tra, đánh giá. 2.8. Thiết kế xây dựng các dạng bài tập nhận thức theo định hướng PISA và vận dụng vào dạy học phần đặc điểm chung của tự nhiên - Địa lí 12 THPT Các dạng bài tập nhận thức theo định hướng PISA khi dạy phần đặc điểm chung của tự nhiên - Địa lí 12 THPT 4
- Trong phạm vi của biện pháp, bản thân tập trung vào xây dựng và sử dụng các bài tập nhận thức ở phần đặc điểm chung của tự nhiên - Địa lí 12 theo định hướng PISA, với các dạng bài theo những năng lực được đánh giá trong PISA nhằm phục vụ cho việc dạy học theo định hướng phát triển năng lực. Đó là các dạng bài tập phát triển năng lực tính toán, năng lực đọc hiểu, năng lực vận dụng kiến thức khoa học Địa lí. 2.8.1. Bài tập phát triển năng lực đọc hiểu * Đọc hiểu bản đồ: Trong bài tập đọc hiểu bản đồ, lời dẫn được xây dựng là bản đồ, học sinh dùng kĩ năng đọc bản đồ kết hợp với kiến thức đã học, thông tin đi kèm (nếu có) để giải các yêu cầu của bài tập. Khi đọc bản đồ HS sẽ đọc được sự phân bố, các mối quan hệ, thực trạng phát triển của các sự vật hiện tượng địa lí trong quá trình tự nhiên và xã hội. Thông qua các bài tập này HS không những rèn luyện kĩ năng đọc bản đồ mà còn tự lĩnh hội được nhiều kiến thức và hình thành năng lực cho bản thân. Trang 6- 7 Atlat Địa lí Việt Nam và hình 6 SGK Câu hỏi 1. Quan sát Trang 6- 7 Atlat Địa lí Việt Nam kết hợp hình 6 và kiến thức SGK, hãy nhận xét về đặc điểm địa hình Việt Nam? 2. Địa hình nước ta được chia thành mấy khu vực, đó là những khu vực nào? 3. Nêu các giải pháp để phát huy các thế mạnh ở khu vực đồi núi nước ta. Gợi ý trả lời *Mức đầy đủ: Học sinh phải trình bày được các ý sau 5
- Câu 1. Đặc điểm địa hình Việt Nam - Địa hình đồi núi chiếm phần lớn diện tích nhưng chủ yếu là đồi núi - Cấu trúc địa hình khá đa dạng - Địa hình của vùng nhiệt đới ẩm gió - Địa hình chịu tác động mạnh mẽ của con người. Câu 2. Địa hình nước ta được chia thành 2 khu vực, đó là khu vực đồi núi (gồm khu vực Đông Bắc, khu vực Tây Bắc, Trường Sơn Bắc, Trường Sơn Nam và khu vực đồng bằng ( châu thổ sông, đồng bằng ven biển) 3. Nêu các giải pháp để phát huy các thế mạnh ở khu vực đồi núi nước ta. - Cần có chính sách thu hút đầu tư, cơ sở vật chất, thu hút nguồn lao động lành nghề, tập trung phát triển công nghiệp, cây công nghiệp, bảo vệ vốn rừng... * Mức chưa đầy đủ: Chỉ nêu được 1/2 số ý trên. * Không đạt: Chỉ trả lời được 1/3 số ý trên, không trả lời hoặc trả lời sai. Tương tự có thể , đọc hiểu bản đồ khí hậu trang 9, sông ngòi trang 10, ... * Đọc hiểu biểu đồ: Thông qua thể hiện nội dung trên biểu đồ, lời dẫn ở các biểu đồ, học sinh có thể đọc được đặc điểm, quy mô, cơ cấu, xu hướng phát triển của các sự vật, hiện tượng địa lí tự nhiên, dân cư, kinh tế, xã hội. Ví dụ: Biểu đồ thể nhiệt độ và lượng mưa ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh (Nguồn:Bài tập 1, trang 50, SGK Địa lí 12) Câu hỏi 1. Quan sát biểu đồ, hãy nhận xét và so sánh chế độ nhiệt, chế độ mưa của 2 điểm trên. 2. Tại sao có sự phân hóa chế độ nhiệt và chế độ mưa giữa 2 miền? Gợi ý trả lời *Mức đầy đủ Câu 1. Quan sát biểu đồ, nhận xét và so sánh chế độ nhiệt, chế độ mưa của 2 điểm trên. 6
- Khái quát: Chế độ nhiệt, chế độ mưa của Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh khác nhau do tác động của các nhân tố gây mưa khác nhau. Cụ thể: - Nhiệt độ trung bình năm của TP. Hồ Chí Minh cao hơn Hà Nội ( nhiệt độ tăng dần từ Bắc vào Nam, do ảnh hưởng gió mùa ( tháng nhiệt độ thấp, tháng nhiệt độ cao của 2 địa điểm) - Tổng lượng mưa: TP. Hồ Chí Minh (1931mm) > Hà Nội (1676mm) - Tháng mưa cực đại, tháng mưa cực tiểu: (Tháng mưa cực đại: Hà Nội tháng 8, TP. Hồ Chí Minh tháng 9, Tháng mưa cực tiểu: Hà Nội tháng 1, Tp. Hồ Chí Minh tháng 2) Câu 2. Sỡ dĩ có sự phân hóa chế độ nhiệt và chế độ mưa giữa 2 miền? - TP. Hồ Chí Minh mưa nhiều hơn Hà Nội vì có mưa suốt mùa mưa (phân tích). Hà Nội mưa ít hơn vì vào mùa hạ ảnh hưởng của gió mùa Tây Nam từ Bắc Ấn Độ Dương đến không mạnh, một số ngày lại chịu ảnh hưởng của gió phơn Tây Nam. - Mùa mưa Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh trùng với thời gian hoạt động của gió mùa mùa hạ. Riêng TP. Hồ Chí Minh kéo dài hơn vì hoạt động gió mùa Tây Nam kéo dài. - Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh tháng mưa cực đại là do hoạt động dải hội tụ nhiệt đới. - Sự phân hóa chế độ nhiệt do ảnh hưởng các loại gió: Hà Nội chịu ảnh hưởng gió mùa mùa đông ( nhiệt độ hạ thấp 2 - 3 tháng), TP. Hồ Chí Minh nhiệt độ cao quanh năm. * Mức chưa đầy đủ: Chỉ trả lời được 1 trong 2 ý trên. * Không đạt: Không trả lời hoặc trả lời sai. * Đọc hiểu bảng số liệu: Ở bài tập đọc hiểu bảng số liệu (BSL), HS dùng kĩ năng đọc bảng số liệu kết hợp với kiến thức đã học để giải các yêu cầu của bài tập. Qua bài tập đọc hiểu bảng số liệu HS vừa rèn luyện được kĩ năng vừa tự lĩnh hội được nhiều kiến thức cho bản thân. Ví dụ: Cho BSL: Nhiệt độ trung bình tại một số địa điểm (Đơn vị ºC) Địa điểm Nhiệt độ trung bình Nhiệt độ trung bình Nhiệt độ trung bình tháng I tháng VII năm Lạng Sơn 13,3 27 21,2 Hà Nội 16,4 28,9 23,5 Huế 19,7 29,4 25,1 Quy Nhơn 23 29,7 26,8 TP. Hồ Chí Minh 5,8 27,1 27,1 (Nguồn:Bài tập 2, trang 44, SGK Địa lí 12) Câu hỏi 7
- 1. Dựa vào BSL, hãy nhận xét sự thay đổi nhiệt độ từ Bắc vào Nam và giải thích nguyên nhân của sự thay đổi đó. 2. Sự thay đổi nhiệt độ từ Bắc vào Nam, đặc biệt là vào mùa đông, địa phương em thường ứng dụng trong sản xuất nông nghiệp như thế nào? Hiệu quả của việc ứng dụng đó có cao không? * Mức đầy đủ: Trả lời được tất cả các ý trên. Gợi ý trả lời Câu 1. Học sinh nêu ra được các ý - Nhiệt độ trung bình năm: Tăng dần từ Bắc vào Nam (dẫn chứng). Do Miền Nam gần xích đạo, góc nhập xạ lớn, không chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc...( Nhiệt độ tháng tháng 1: thấp dần từ Bắc vào Nam; Nhiệt độ tháng tháng 7: có sự đồng đều trong cả nước - Biên độ nhiệt: Giảm dần từ Bắc vào Nam (dẫn chứng). Do miền Bắc chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc, thời gian hai lần Mặt Trời lên thiên đỉnh gần nhau, càng vào Nam gió mùa càng suy yếu, thời gian hai lần Mặt Trời lên thiên đỉnh xa nhau - Phân mùa: Miền Bắc chia làm hai mùa ( đông, hạ), Miền Nam 2 mùa (mưa, khô). Câu 2. Sự thay đổi nhiệt độ từ Bắc vào Nam, đặc biệt là vào mùa đông địa phương em thường ứng dụng trong sản xuất nông nghiệp như trồng các giống rau, cây vụ đông (ưa lạnh, ẩm). Địa phương em ứng dụng hiệu quả trong việc đảm bảo rau trong mùa đông cho vùng và sản phẩm hàng hóa trên thị trường (tuy nhiên tùy thuộc vào sự chăm sóc và thời tiết) * Mức chưa đầy đủ: Chỉ trả lời được một số ý trên. * Không đạt: Không trả lời hoặc trả lời sai và không đưa ra được những ứng dụng trong sản xuất nông nghiệp * Đọc hiểu hình ảnh: Hình ảnh được coi là một phương tiện trực quan có sức thuyết phục cao trong việc tổ chức các hoạt động cho HS, hình ảnh có vai trò điển hình hóa, phản ánh sự chân thật của đối tượng nhận thức. Bài tập đọc hiểu hình ảnh mang tính thực tiễn cao, những hình ảnh từ thực tiễn được sử dụng để xây dựng lời dẫn cho các bài tập nhận thức theo PISA. 8
- ( Nguồn: internet) Câu hỏi 1. Dựa vào hình ảnh trên em hãy cho biết những thiên tai do ảnh hưởng của biển Đông? 2. Đưa ra những giải pháp để phòng tránh thiên tai do biển Đông gây ra? Gợi ý trả lời *Mức đầy đủ Câu 1. Hình ảnh trên cho biết những thiên tai do ảnh hưởng của biển Đông là: - Bão: trung bình có 9 - 10 cơn bão xuất hiện ở Biển Đông, liên hệ Việt Nam... - Sạt lở ven biển - Nạn cát bay, cát chảy lấn chiếm ruộng vườn làng mạc, làm hoang hóa đất đai Câu 2. Những giải pháp để phòng tránh thiên tai do biển Đông gây ra là: - Sử dụng hợp lí nguồn lợi thiên nhiên biển. - Phòng chống ô nhiễm môi trường biển và ô nhiêm môi trường. - Dự báo chính xác, kịp thời di chuyển, hướng đi, đường đi của Bão - Quy hoạch dân cư tránh vùng hay bị thiên tai như sạt lở bờ biển, cát hóa... - Thường xuyên kiên cố hệ thống đê điều, nhà cửa, các công trình giao thông... * Mức chưa đầy đủ: Chỉ trả lời được 1/2 số ý trên. * Không đạt: Không trả lời hoặc chỉ trả lời được dưới 3 ý. * Đọc hiểu văn bản: Đây là một dạng bài tập dễ xây dựng vì văn bản được GV xây dựng làm lời dẫn cho bài tập rất đa dạng, có thể do GV xây dựng dựa trên kiến 9
- thức địa lí, nguồn trích dẫn từ SGK, từ các nguồn thông tin mang tính chất địa lí do GV tham khảo tài liệu. Thông qua đọc hiểu văn bản HS kết hợp với các thông tin có trong văn bản và kiến thức đã học để giải quyết yêu cầu bài tập. Thực trạng rừng ngập mặn ở nước ta hiện nay Theo các chuyên gia nghiên cứu, tổng diện tích rừng ngập mặn của Việt Nam là khoảng 200.000 ha. Đứng trong top đầu các quốc gia có diện tích rừng ngập mặn trên toàn thế giới. Tuy nhiên, diện tích các khu rừng ngập mặn đang bị đe dọa nghiêm trọng. Thu hẹp diện tích và ảnh hưởng đến toàn bộ hệ sinh thái. Tình trạng suy giảm là do nạn chặt phá rừng vẫn đang diễn ra hàng ngày. Người dân đắp bờ kè làm đầm nuôi trồng thủy hải sản. Ngoài ra, còn có các yếu tố như gió bão, sóng biển làm sạt lở diện tích, ô nhiễm môi trường và chính sách quản lý của nhà nước chưa chú trọng (Tổng điều tra Rừng ngập mặn năm 2020 (TĐT) do Tổng Cục Thống kê thực hiện) Câu hỏi: Đọc văn bản trên và sự hiểu biết của bản thân, trả lời một số câu hỏi sau: Câu 1. Em hiểu thế nào là rừng ngập mặn? Câu 2. Vai trò của rừng ngập mặn đến sự phát triển tự nhiên và kinh tế - xã hội của Việt Nam. Gợi ý trả lời: *Mức đầy đủ: Học sinh trả lời được các nội dung sau. Câu 1. Khái niệm về rừng ngập mặn Rừng ngập mặn là khu rừng gồm nhiều cây sống trong các khu vực nước ngập mặn ven biển. Trong vùng khí hậu nhiệt đới và cận nhiệt đới. Điểm đặc biệt là nơi đây không phải loài cây nào cũng sống được. Chỉ có những thực vật điển hình ở vùng nước ngập mặn mới sinh trưởng và phát triển tốt. Câu 2. Vai trò của rừng ngập: Rừng ngập mặn là nguồn cây xanh điều hòa không khí, lá chắn phòng hộ ven biển...,mang lại nhiều giá trị về lợi ích kinh tế cho người dân: Rừng ngập mặn cung cấp nhiều dược liệu, chất đốt, nguyên liệu cho một số ngành công nghiệp. Tạo môi trường thuận lợi cho người dân nuôi trồng thủy hải sản. Địa điểm tham quan, tìm hiểu, khám phá về hệ sinh thái rừng ngập mặn. * Mức chưa đầy đủ: Chỉ trả lời được 2/4 ý trên. * Không đạt: Không trả lời hoặc chỉ trả lời được dưới 1/2 ý lớn. 2.8.2. Bài tập phát triển năng lực vẽ biểu đồ Cho bảng số liệu: Lượng mưa trung bình tháng của một số địa điểm (Đơn vị: mm) Tháng I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII Hà Nội 18,6 26,2 43,8 90,1 188,5 230,9 288,2 318,0 265,4 130,7 43,4 23,4 Huế 161,3 62,6 47,1 51,6 82,1 116,7 95,3 104,0 473,4 795,6 580,6 297,4 10
- TP. Hồ 13,8 4,1 10,5 50,4 218,4 311,7 293,7 269,8 327,1 266,7 116,5 48,3 Chí Minh (Nguồn: Sách giáo khoa Địa lí 12 - Nâng cao) 1. Vẽ biểu đồ thích hợp nhất thể hiện lượng mưa của Hà Nội, Huế và TP. Hồ Chí Minh. 2. Sắp xếp theo thứ tự lương mưa trung bình năm của các địa điểm trên Gợi ý trả lời: Câu 1. Vẽ biểu đồ *Mức đầy đủ : Học sinh vẽ được theo các yêu cầu sau. - Biểu đồ thích hợp nhất là biểu đồ đường: 3 đường - Biểu đồ phải đảm bảo tính chính xác, trực quan, thẩm mỹ, có tên biểu đồ, đơn vị các cột và bảng chú giải. Sai dạng biểu đồ: Không cho điểm * Mức chưa đầy đủ: Thiếu 1 số bước theo yêu cầu. * Không đạt: Sai dạng biểu đồ Câu 2. Lượng mưa trung bình năm của các địa điểm trên từ lớn đến nhỏ? Giải thích tại sao? - Tổng lượng mưa từ lớn đến nhỏ: Huế lớn nhất (2868mm)> Tp. Hồ Chí Minh (1931mm) > Hà Nội (1676mm) - Giải thích: Huế mưa nhiều nhất vì các yếu tố gây mưa ở Huế nhiều (gió mùa, frông, dải hội tụ nhiệt đới, bão...) hoạt động trùng lên nhau trong cùng một thời gian. TP. Hồ Chí Minh mưa nhiều hơn Hà Nội vì có mưa suốt mùa mưa (phân tích). Hà Nội mưa ít hơn vì vào mùa hạ ảnh hưởng của gió mùa Tây Nam từ Bắc Ấn Độ Dương đến không mạnh, một số ngày lại chịu ảnh hưởng của gió fơn Tây Nam. * Mức chưa đầy đủ: Thiếu 1 ý theo yêu cầu. * Không đạt: Không trả lời hoặc chỉ trả lời được dưới 1 ý nhỏ. 2.8.3. Bài tập phát triển năng lực tính toán Trong phần đặc điểm chung của tự nhiên Việt Nam - chương trình Địa lí 12, có nhiều nội dung đòi hỏi HS phải biết vận dụng năng lực tính toán như: Tổng lượng mưa, tổng lượng nhiệt, cán cân nhiệt, cán cân ẩm, biên độ nhiệt, Có thể thấy năng lực tính toán là một trong những năng lực quan trọng cần hình thành cho HS trong dạy học Địa lí theo định hướng phát triển năng lực. Ví dụ: Cho bảng số liệu: Nhiệt độ và lượng mưa trung bình tháng của Huế Tháng I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII Nhiệt độ 19,7 20,9 23,2 26,0 28,0 29,2 29,4 28,8 27,0 25,1 23,2 20,8 (0C) 11
- Lượng 2 161,3 62,6 47,1 51,6 82,1 116,7 95,3 104,0 473,4 795,6 580,6 mưa(mm) 297,4 (Nguồn: Sách giáo khoa Địa lí 12 - Nâng cao) Câu hỏi: 1.Tính nhiệt độ trung bình năm, lượng mưa trung bình năm của Huế. 2. Tính biên độ nhiệt và tổng lượng mưa của Huế. Gợi ý trả lời: *Mức đầy đủ Câu 1. - Tính nhiệt độ trung bình năm theo công thức: cộng tổng nhiệt độ 12 tháng chia 12. HS áp dụng để tính - Tính lượng mưa trung bình năm theo công thức: cộng lượng mưa 12 tháng chia 12. HS áp dụng để tính Câu 2. - Biên độ nhiệt bằng nhiệt độ tháng cao nhất - nhiệt độ tháng thấp nhất Tổng lượng mưa = lượng mưa tháng 1 + + lượng mưa tháng 12 * Mức chưa đầy đủ: Chỉ tính được mật độ dân số mà chưa sắp xếp được thứ tự * Không đạt: Không trả lời hoặc chỉ trả lời được dưới 1 ý lớn. 2.8.4. Bài tập phát triển năng lực vận dụng kiến thức khoa học địa lí Ở dạng bài tập này, các câu hỏi sẽ được thiết kế dựa trên các tình huống của đời sống thực và không chỉ giới hạn trong cuộc sống thường ngày của các em trong nhà trường. Các câu hỏi trong khoa học của PISA tập trung vào các chủ đề về bản thân, gia đình, cộng đồng và kết nối toàn cầu. Trong phần đặc điểm chung của tự nhiên - chương trình Địa lí 12, những đặc điểm của tự nhiên ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất, sự phát triển kinh tế và đời sống con người Đối với những bài tập nhận thức theo dạng định hướng PISA ở dạng này, HS sẽ giải một cách khoa học bằng việc áp dụng các kiến thức của khoa học Địa lí trong một tình huống đưa ra. HS phải có khả năng đưa ra các kết nối rõ ràng và hợp lí giữa các căn cứ khoa học và kết luận. Việt Nam - quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề của biến đổi khí hậu. Việt Nam có khí hậu nhiệt đới gió mùa. Do lãnh thổ Việt Nam trải dài qua nhiều vĩ tuyến và địa hình phức tạp nên sự khác nhau về khí hậu giữa các vùng khá lớn và rõ nét. Sự đa dạng về địa hình và vị trí địa lý khiến Việt Nam hằng năm hứng chịu tác động của nhiều loại hình thiên tai có nguồn gốc khí tượng thủy văn như bão, áp thấp nhiệt đới, ngập lụt, lũ quét trong mùa mưa và nắng nóng, hạn hán, rét hại, xâm nhập mặn trong mùa khô. Trong 61 năm qua, nhiệt độ trung bình năm của Việt Nam (thời 12

