Báo cáo Biện pháp Xây dựng thực đơn nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc - Nuôi dưỡng trẻ trong Trường Mầm non

docx 21 trang Chăm Nguyễn 17/02/2026 110
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Báo cáo Biện pháp Xây dựng thực đơn nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc - Nuôi dưỡng trẻ trong Trường Mầm non", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docxbao_cao_bien_phap_xay_dung_thuc_don_nham_nang_cao_chat_luong.docx

Nội dung tài liệu: Báo cáo Biện pháp Xây dựng thực đơn nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc - Nuôi dưỡng trẻ trong Trường Mầm non

  1. Nghiên cứu, tìm ra các biện pháp xây dựng thực đơn đạt về lượng, cân đối về chất cho trẻ trong trường mầm non nhằm nâng cao chất lượng bữa ăn cho trẻ, giúp trẻ ăn ngon miệng, để công tác chăm sóc nuôi dưỡng trẻ của nhà trường đạt kết quả tốt nhất, đồng thời tạo niềm tin đối với phụ huynh khi gửi con em mình tới trường. 3. Thời gian, đối tượng, phạm vi nghiên cứu: 3.1. Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 9 năm 2024 đến tháng 4 năm 2025. 3.2. Đối tượng nghiên cứu: Các biện pháp xây dựng thực đơn nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ trong trường mầm non. 3.3. Phạm vi nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu trên 240 trẻ mầm non từ 24 tháng đến 72 tháng tuổi tại trường mầm non nơi tôi công tác. PHẦN II: NỘI DUNG CỦA SÁNG KIẾN 1. Hiện trạng của vấn đề: 1.1 Đặc điểm tình hình: Trường mầm non tôi công tác là một trường nhỏ, trẻ tập trung tại hai điểm trường. Trong năm học vừa qua, nhà trường đã rất quan tâm và chú trọng tới công tác chăm sóc nuôi dưỡng trẻ. Chính vì vậy chất lượng chăm sóc nuôi dưỡng trẻ ngày càng đạt kết quả cao. Đảm bảo 100% trẻ ăn bán trú tại trường, tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng, thấp còi, béo phì đã giảm so với năm học trước, không để tình trạng ngộ độc thực xảy ra tại trường, thường xuyên thay đổi thực đơn đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng cho trẻ tại trường. Tuy nhiên Ban giám hiệu, giáo viên, nhân viên chúng tôi vẫn cần phải nỗ lực hơn nữa để chất lượng chăm sóc nuôi dưỡng trẻ ngày càng đạt được nhiều kết quả tốt hơn. Trong quá trình thực hiện nghiên cứu, tôi gặp những thuận lợi và khó khăn sau: 1.1.1. Thuân lợi:
  2. Được sự quan tâm chỉ đạo của phòng Giáo dục & Đào tạo huyện Ba Vì, trong những năm qua, trường mầm non chúng tôi đã thực hiện có hiệu quả việc tính khẩu phần ăn trên phần mềm Gokids. Bếp ăn của nhà trường vừa mới xây dựng khang trang, sạch sẽ, đúng theo quy trình bếp một chiều, cơ sở vật chất trang thiết bị, đồ dùng phục vụ công tác nuôi dưỡng tương đối đầy đủ và theo hướng hiện đại. Nhà trường ký kết hợp đồng mua thực phẩm sạch, ưu tiên nguồn thực phẩm của người dân địa phương sản xuất. Đặc biệt trong năm học 2024 – 2025 nhà trường đã sử dụng toàn bộ nguồn nước sạch phục vụ công tác ăn bán trú tại trường, nhờ vậy nguồn nước luôn đảm bảo ổn định và sạch sẽ. Bản thân tôi có trình độ trên chuẩn, có lòng nhiệt huyết, yêu nghề, mến trẻ, có năng lực chuyên môn, có khả năng sử dụng phần mềm nuôi dưỡng tương đối thành thạo. Và đặc biệt, tôi được làm việc với những cô nuôi có tình thần đoàn kết, sẵn sàng hỗ trợ nhau trong công việc. 1.1.2. Khó khăn: Trong quá trình thực hiện đề tài, ngoài những thuận lợi trên, tôi nhận thấy còn có một số khó khăn sau: Do đặc điểm của địa phương là một xã thuần nông, kinh tế chủ yếu dựa vào hoạt động sản xuất nông nghiệp nên đời sống người dân gặp nhiều khó khăn. Do đó, những kiến thức về chăm sóc nuôi dưỡng trẻ của người dân còn nhiều hạn chế. Hơn nữa, một số phụ huynh đi làm xa nên chưa thực sự quan tâm đến việc chăm sóc nuôi dưỡng con em mình ở gia đình cũng như ở nhà trường. Giá cả thị trường thường xuyên biến động, mức ăn của trẻ còn chưa cao cho nên muốn xây dựng thực đơn với những món ăn ngon và đầy đủ chất cho trẻ vẫn chưa thực sự đạt được kết quả như mong muốn. 1.2. Số liệu khảo sát trước khi thực hiện:
  3. Để thực hiện tốt các nội dung trong việc xây dựng thưc đơn, nâng cao chất lượng chăm sóc nuôi dưỡng trẻ trong trường mầm non, ngay sau khi khai giảng, ổn định trẻ tại các lớp, tôi đã tiến hành thu thập số liệu, qua theo dõi tôi đã có đầy đủ bảng khảo sát sau: * Bảng khảo sát cân đo chấm biểu đồ đầu năm của trẻ: Đầu năm Độ tuổi Tổng số Cân nặng Trẻ suy dinh Chiều cao Trẻ suy dinh trẻ bình dưỡng thể nhẹ bình thường dưỡng thể thường cân thấp còi Nhà trẻ 54 52 2 51 3 Mẫu giáo 186 173 13 182 4 Tổng 240 225 15 233 7 Tỉ lệ 100% 93,75% 6,25% 97% 3% Bảng khảo sát cân đo chấm biểu đồ tháng 9 năm 2024 của trẻ. Khi tập hợp được kết quả chấm biểu đồ về cân nặng chiều cao của trẻ đầu năm, tôi đặt ra cho mình mục tiêu là tìm ra các biện pháp để xây dựng thực đơn đạt về lượng, cân đối về chất để tăng tỷ lệ trẻ có chiểu cao, cân nặng bình thường, giảm tỷ lệ trẻ có nguy cơ bị suy dinh dưỡng, trẻ suy dinh dưỡng ở thể nhẹ cân và thấp còi, trẻ thừa cân, nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc nuôi dưỡng trẻ tại nhà trường. 1.3. Những hạn chế trong công tác xây dựng thực đơn của nhân viên trong nhà trường. Mặc dù hàng năm, nhà trường luôn quan tâm và sát sao trong công tác chăm sóc nuôi dưỡng trẻ, nhưng do mức ăn của trẻ các năm học trước còn chưa cao, việc xây dựng thực đơn và tính khẩu phần ăn hàng ngày chưa thật sự đạt kết quả như mong muốn.
  4. Thực đơn của các tuần chẵn và các tuần lẻ còn có sự giống nhau. Các món ăn còn đơn điệu, chưa có sự kết hợp khéo léo và hợp lý giữa các loại thực phẩm, thường áp dụng trong nhiều tháng khiến trẻ cảm thấy nhàm chán, không có sự hứng thú cao trong bữa ăn. Màu sắc một số món ăn chưa hấp dẫn nên chưa gây hứng thú cho trẻ. Một số thực đơn chưa kết hợp thực phẩm có giá thành cao với thực phẩm có giá thành thấp đảm bảo tài chính mà vẫn cân đối các chất. Nhân viên tính khẩu phần ăn cho trẻ còn chưa thành thạo việc cân đối khẩu phần ăn trên phần mềm Gokids nên khi xây dựng thực đơn còn chưa đạt chuẩn, chưa cân đối được về lượng và chất đạt theo yêu cầu cho từng độ tuổi nhà trẻ và mẫu giáo. Chưa tích cực trong việc nắm bắt tấm lý, tìm hiểu thói quen, sở thích ăn uống của trẻ để lên thực đơn phù hợp nhất. 1.4. Sự cần thiết phải xây dựng thực đơn, nâng cao chất lượng chăm sóc nuôi dưỡng trẻ. Chế độ dinh dưỡng hợp lý đóng vai trò rất quan trọng đến việc phát triển trí tuệ, thể chất của trẻ em. Trẻ ở lứa tuổi mầm non rất cần một chế độ dinh dưỡng hợp lý để tránh không quá dư thừa chất dẫn đến béo phì, nhưng cũng không quá thiếu hụt làm trẻ bị suy dinh dưỡng. Vì vậy, bữa ăn của trẻ cần phải được đảm bảo đầy đủ đạm, béo, bột đường, vitamin và khoáng chất.
  5. Sơ đồ mối quan hệ qua lại giữa dinh dưỡng – sức khỏe và phát triển cơ thể Hiểu được vai trò của dinh dưỡng đối với trẻ và nắm được nguyên tắc chung về dinh dưỡng cho trẻ mầm non. Bản thân tôi đã cố gắng tìm ra các biện pháp để xây dựng thực đơn cho trẻ một cách đa dạng, đảm bảo dinh dưỡng cho trẻ. Nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ tại nhà trường. 2. Giải pháp thực hiện sáng kiến để giải quyết vấn đề. 2.1. Tên các giải pháp: Giải pháp 1: Tích cực tự học, tự bồi dưỡng để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ của bản thân. Giải pháp 2: Xây dựng thực đơn, đảm bảo khẩu phần ăn cho trẻ. Giải pháp 3: Lựa chọn đa dạng, phối hợp các loại thực phẩm để có nhiều món ăn ngon, đủ chất dinh dưỡng cho trẻ. Giải pháp 4: Xây dựng mô hình vườn rau sạch, đa dạng, đúng mùa vụ nhằm ổn định nguồn thực phẩm cho bữa ăn của trẻ. Giải pháp 5: Thường xuyên khảo sát bữa của trẻ tại các lớp để nắm được tâm lý, thói quen và sở thích ăn uống của trẻ. 2.2. Cách thức thực hiện từng giải pháp: 2.2.1. Giải pháp 1: Tích cực tự học, tự bồi dưỡng để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ của bản thân. “Đi một ngày đàng, học một sàng khôn” Câu nói bất hủ của Lê - Nin đã in sâu trong tâm trí tôi và thôi thúc tôi không ngừng học hỏi để ngày càng hoàn thiện bản thân cũng như nâng cao trình độ chuyên môn của mình. Đối với mỗi con người, dù làm bất cứ một công việc gì chúng ta không chỉ làm việc mà phải luôn luôn tìm tòi học hỏi để trình độ chuyên môn của mình được tốt hơn. Đặc biệt
  6. với bản thân tôi là người trực tiếp lên thực đơn và chế biến ra các món ăn để chăm sóc sức khỏe cho trẻ tại trường, thì việc tự học, tự bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cũng rất quan trọng để có kiến thức đáp ứng công việc nhà trường phân công. Nhận thức được tầm quan trọng của việc tự học, tự bồi dưỡng chuyên môn, bản thân tôi đã tích cực tìm tòi học hỏi, nghiên cứu qua internet, qua các tài liệu về dinh dưỡng, qua sách báo trong thư viện của nhà trường, học tập ở bạn bè đồng nghiệp để bản thân tôi ngày càng hiểu sâu hơn về xây dựng thực đơn cho trẻ và làm tốt được công việc chăm sóc nuôi dưỡng trẻ tại trường. Ngoài ra, tôi học tập, bồi dưỡng thông qua hội thi nhân viên nuôi dưỡng giỏi cấp trường, cấp huyện. Qua hội thi, tôi rút ra được nhiều kinh nghiệm cho bản thân mình. Chỉ có lòng nhiệt huyết, yêu nghề mến trẻ thôi chưa đủ, mà mỗi chúng ta hãy tự học, tự trau dồi kiến thức, kỹ năng xây dựng thực đơn của mình, để mang lại cho trẻ nhiều món ăn ngon, bổ dưỡng, đạt về lượng, cân đối về chất theo quy định. Tôi học tập, bồi dưỡng thông qua các buổi tập huấn chuyên đề nuôi dưỡng do phòng giáo dục và nhà trường tổ chức. Ngày 09/08/2024, tôi được tham gia tập huấn: "Bồi dưỡng kiến thức an toàn thực phẩm” cho trẻ năm học 2024- 2025" tại trường mầm non Khánh Thượng A. Qua buổi tập huấn này, tôi học được kiến thức, kỹ năng xây dựng và phát triển các nội dung an toàn thực phẩm, trong nhà trường. Đồng thời, tôi tham khảo được ở trường bạn những thực đơn với nhiều món ăn ngon, hấp dẫn trẻ, đặc biệt là việc bổ sung thêm món rau xào trong mỗi bữa ăn của trẻ. Từ đó tôi có thêm kiến thức, kỹ năng trong cách xây dựng thực đơn cho trẻ tại nhà trường. (Minh chứng 1: Hình ảnh buổi tập huấn an toàn thực phẩm tại trường Mầm Non Khánh Thượng A) Tôi học tập từ bạn bè đồng nghiệp thông qua các buổi sinh hoạt chuyên môn. Trong các buổi họp sinh hoạt chuyên môn, chúng tôi đưa nội dung xây dựng thực đơn cho trẻ để cùng nghiên cứu, làm sao xây dựng được nhiều món ăn mới, kết hợp các loại thực phẩm, lựa chọn những thực phẩm thay thế phù hợp, xây dựng thực đơn đảm bảo dinh dưỡng để áp dụng trong quá trình chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ tại nhà trường. Chúng tôi đưa ra
  7. rất nhiều câu hỏi thảo luận như làm thế nào để có khẩu phần ăn đầy đủ dinh dưỡng? Làm sao để có một thực đơn đa dạng, phong phú? Làm sao sao để thực đơn hấp dẫn các bé? Sau đó tôi và các bạn đồng nghiệp tìm ra câu trả lời cho những câu hỏi đó một cách hợp lý nhất. Bên cạnh đó, việc học tập phải đi đôi với thực hành; vì vậy tôi thường xuyên thực nghiệm nấu các món ăn mới học hỏi được cho các con và các cháu nhỏ trong gia đình tôi – những đứa trẻ ở độ tuổi mầm non để chúng thưởng thức. Tôi theo dõi, đánh giá kết quả để biết chúng có thích thú với những món ăn mà tôi nấu hay không. Sau mỗi lần thử nghiệm đó, tôi rút ra được nhiều kinh nghiệm trong cách phối hợp các loại thực phẩm, cách xây dựng các món ăn mới đầy đủ dinh dưỡng, đạt về lượng, cân đối về chất, để kích thích vị giác của trẻ, để trẻ hào hứng với những món ăn mà tôi nấu. Điều đó giúp tôi tự tin, vững vàng hơn trong quá trình làm việc. Kết quả: Thông qua quá trình tự học, tự nghiên cứu, tự bồi dưỡng chuyên môn, tôi đã xây dựng thực được đơn cân đối, đủ dinh dưỡng được áp dụng tại nhà trường, trẻ có những bữa ăn ngon đủ chất dinh dưỡng, đảm bảo cân đối và hợp lý. Qua quá trình học hỏi như vậy, bản thân tôi đã có nhiều kinh nghiệm, giúp tôi tự tin hơn trong công việc lên thực đơn, cân đối khẩu phần ăn hàng ngày của trẻ tại nhà trường. 2.2.2. Giải pháp 2: Xây dựng thực đơn, đảm bảo khẩu phần ăn cho trẻ. Xây dựng thực đơn đóng vai trò quan trọng cho sự phát triển và đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng cho trẻ. Khi xây dựng thực đơn, tôi luôn chú trọng: Tính lượng gạo và thực phẩm giàu đạm trong một khẩu phần ăn. Bổ sung thêm Vitamin và khoáng chất qua các loại rau củ và trái cây. Bổ sung thêm gia vị là các loại dầu ăn, đường, bột nêm Bản thân tôi hiểu rằng thực đơn được xây dựng theo từng ngày, tuần, tháng và theo mùa để điều hòa thực phẩm, kiểm soát dinh dưỡng. Xây dựng thực đơn cho nhiều ngày cần thay đổi món ăn để hấp dẫn trẻ và đảm bảo đủ các chất dinh dưỡng. Khi thay đổi cần đảm bảo thay thế thực phẩm trong cùng một
  8. nhóm (ví dụ: thay thịt bằng cá, trứng hoặc tôm ) hoặc phối hợp các thực phẩm thay thế để đạt được giá trị dinh dưỡng tương đương. Thay đổi thực đơn trường mầm non không chỉ đơn thuần thay đổi thực phẩm mà cần thay đổi dạng chế biến trong cùng một loại thực phẩm (như, luộc, kho, xào, rán, hấp ) Trong cùng một bữa ăn nên sử dụng thực phẩm giống nhau cho các chế độ ăn để tiện cho việc cung cấp thực phẩm, nhưng các chế biến thức ăn cho từng độ tuổi khác nhau. * Đối với trẻ nhà trẻ: - Xây dựng chế độ ăn, khẩu phần ăn phù hợp với độ tuổi: + Nhu cầu khuyến nghị năng lượng của 1 trẻ trong một ngày là: 930 - 1000 Kcal. + Nhu cầu khuyến nghị năng lượng tại trường của 1 trẻ trong một ngày chiếm 60 - 70% nhu cầu cả ngày: 600 - 651 Kcal. - Số bữa ăn tại cơ sở giáo dục mầm non: Hai bữa chính và một bữa phụ. + Năng lượng phân phối cho các bữa ăn: Bữa ăn buổi trưa cung cấp từ 30% đến 35% năng lượng cả ngày. Bữa ăn buổi chiều cung cấp từ 25% đến 30% năng lượng cả ngày. Bữa phụ cung cấp khoảng 5% đến 10% năng lượng cả ngày. + Tỉ lệ các chất cung cấp năng lượng được khuyến nghị theo cơ cấu: Chất đạm (Protit) cung cấp khoảng 13% - 20% năng lượng khẩu phần. Chất béo (Lipit) cung cấp khoảng 30% - 40% năng lượng khẩu phần Chất bột (Gluxit) cung cấp khoảng 47% - 50% năng lượng khẩu phần. - Nước uống: khoảng 0,8 lít – 1,6 lít/trẻ/ngày (kể cả nước trong thức ăn). - Xây dựng thực đơn hằng ngày, theo tuần, theo mùa. * Đối với trẻ mẫu giáo: - Xây dựng chế độ ăn, khẩu phần ăn phù hợp với độ tuổi: + Nhu cầu khuyến nghị năng lượng của 1 trẻ trong một ngày là: 1230 - 1320 Kcal.
  9. + Nhu cầu khuyến nghị năng lượng tại trường của 1 trẻ trong một ngày chiếm 50 - 55% nhu cầu cả ngày: 615 - 726 Kcal. - Số bữa ăn tại cơ sở giáo dục mầm non: Một bữa chính và một bữa phụ. + Năng lượng phân phối cho các bữa ăn: Bữa chính buổi trưa cung cấp từ 30% đến 35% năng lượng cả ngày. Bữa phụ cung cấp từ 15% đến 25% năng lượng cả ngày. + Tỉ lệ các chất cung cấp năng lượng theo cơ cấu: Chất đạm (Protit) cung cấp khoảng 13% - 20% năng lượng khẩu phần. Chất béo (Lipit) cung cấp khoảng 25% - 35% năng lượng khẩu phần. Chất bột (Gluxit) cung cấp khoảng 52% - 60% năng lượng khẩu phần. - Nước uống: khoảng 1,6 - 2,0 lít/trẻ/ngày (kể cả nước trong thức ăn). - Xây dựng thực đơn hàng ngày, theo tuần, theo mùa. Xây dựng thực đơn hàng ngày, theo tuần, theo mùa để bé làm quen với nhiều món ăn mới lạ và để điều hòa thực đơn, để trẻ hứng thú khi ăn. Khi thay đổi thực đơn tôi đã lưu ý đến việc thay thế nguyên liệu trong cùng một nhóm. Khi xây dựng thực đơn cho trẻ, tôi luôn thực hiện theo nguyên tắc: Đảm bảo cho khẩu phần đáp ứng đủ về nhu cầu năng lượng và các chất dinh dưỡng cần thiết. Đảm bảo tỷ lệ cân đối giữa các chất sinh năng lượng. Cân đối tỷ lệ đạm động vật và thực vật, mỡ động vật và dầu thực vật, cân đối các loại vitamin và chất khoáng. Xây dựng thực đơn theo mùa, phù hợp với sở thích của trẻ. Ví dụ vào mùa hè, cần ưu tiên các món nhiều nước, thanh mát, tăng cường các loại hoa quả ; vào mùa đông, có thể bổ sung các món chiên xào hoặc hầm nhừ. Các loại thực phẩm tiêu biểu của mùa nào nên ưu tiên sử dụng của mùa đó, không nên sử dụng thực phẩm trái mùa. Thức ăn nên được cắt nhỏ để trẻ dễ nhai, dễ tiêu hóa. Lựa chọn thực phẩm an toàn trước khi chế biến. Các loại thịt cá, rau củ phải đảm bảo tươi sống, không ôi thiu, không chứa các loại hóa chất gây hại cho sức khỏe của trẻ.
  10. Sau mỗi lần lên được thực đơn, tôi lại xin ý kiến từ đồng chí hiệu phó phụ trách nuôi dưỡng. Áp dụng thực đơn đã lên tính khẩu phần ăn hàng ngày cho trẻ. Qua các bữa ăn tại trường tôi ghi chép, theo dõi những phản ứng từ trẻ về thực đơn tôi đưa ra. Xem trẻ có thích ăn những món ăn mới như trong thực đơn hay không, trẻ có tăng cân và phát triển cân đối hơn hay không. (Minh chứng 2: Thực đơn mùa đông, mùa hè năm học 2024 – 2025) Kết quả: Tôi đã biết phối hợp các loại thực phẩm để xây dựng thực đơn cho trẻ phong phú, ít bị trùng lặp món ăn, đảm bảo đủ chất dinh dưỡng cho trẻ, thường xuyên thay đổi, sáng tạo các món mới phù hợp với chế độ dinh dưỡng và sở thích của các bé nhờ đó các bé ăn ngon miệng hơn và ăn hết xuất. 2.2.3. Giải pháp 3: Lựa chọn đa dạng, phối hợp các loại thực phẩm để có nhiều món ăn ngon, đủ chất dinh dưỡng cho trẻ. Như chúng ta đã biết, không có một loại thức ăn nào là toàn diện và có đầy đủ các chất dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể của trẻ. Mỗi loại thức ăn có chứa một số chất dinh dưỡng với tỷ lệ khác nhau. Chính vì vậy, bữa ăn hàng ngày của trẻ cần đa dạng, phối hợp nhiều loại thực phẩm (tốt nhất là có trên 7 loại thực phẩm), khi đó các chất dinh dưỡng sẽ bổ sung từ các loại thức ăn khác nhau, giúp cho giá trị sử dụng của thức ăn sẽ tăng lên. Bữa ăn có thành phần dinh dưỡng hợp lý là bữa ăn có đủ từ 4 nhóm thực phẩm cung cấp các chất dinh dưỡng và ở tỷ lệ thích hợp. Bốn nhóm thực phẩm chính bao gồm: Nhóm chất bột đường; Nhóm chất đạm; Nhóm chất béo; Nhóm vitamin và khoáng chất. Mỗi nhóm thức ăn trên không chỉ có một chất mà thường đồng thời cung cấp nhiều chất dinh dưỡng khác nhau. Ba nhóm thực phẩm cung cấp năng lượng cho mọi hoạt động sống của con người gồm chất bột đường, đạm, chất béo. Nhóm thứ 4 – nhóm Vitamin và khoáng chất không cung cấp năng lượng nhưng vô cùng quan trọng, khi thiếu sẽ gây những hậu quả xấu cho sức khỏe của trẻ. Thực tế mỗi loại thực phẩm trong tự nhiên thường chứa nhiều chất dinh dưỡng, nhưng với tỷ lệ khác nhau. Việc chọn lựa và phối hợp thực phẩm một cách khoa học giúp cung cấp đầy đủ nhất các chất dinh dưỡng
  11. cần thiết cho cơ thể, không bị dư hoặc thiếu hụt. Do đó, hàng ngày trẻ cần ăn những món ăn đa dạng, kết hợp nhiều loại thực phẩm trong 4 nhóm kể trên để có thêm nhiều chất dinh dưỡng và chất nọ bổ sung chất kia, trẻ sẽ có một bữa ăn cân đối, đủ chất. Việc kết hợp các nhóm thực phẩm tôi thực hiện như sau: Phối hợp các loại ngũ cốc khác nhau: Nhóm chất bột đường gồm ngũ cốc là nguồn cung cấp năng lượng cho cơ thể hoạt động. Trong nhóm ngũ cốc thì gạo là lương thực phổ biến được sử dụng nhiều nhất. Tôi đã tham mưu với ban giám hiệu và hiệu phó nuôi dưỡng lựa chọn gạo không xay xát quá kỹ cho bữa ăn hàng ngày của trẻ. Ngoài ra, tôi thay đổi các loại ngũ cốc khác nhau để chế biến thành các món ăn vào bữa phụ chiều của trẻ như mì sợi, gạo nếp cẩm, bột mì . để làm đa dạng bữa ăn và các chất dinh dưỡng, tăng cường lợi ích cho sức khỏe của trẻ. Phối hợp thức ăn nguồn đạm động vật và thực vật: Nên ăn cá, tôm, cua và đậu, đỗ. Nhóm chất đạm gồm thịt, cá, hải sản, trứng, sữa, đậu, đỗ, lạc cung cấp các acid amin, trong đó có 9 acid amin thiết yếu mà cơ thể không tự tổng hợp được mà phải lấy từ thực phẩm. Trong khẩu phần ăn nên có tỷ lệ thích hợp đạm động vật và đạm thực vật tùy theo độ tuổi như đối với trẻ dưới 1 tuổi là tỷ lệ đạm động vật/tổng số đạm là 70%, trẻ 1-5 tuổi là 60% và trẻ 6-9 tuổi là 50%, trẻ 12-19 tuổi là 35%. Trong quá trình xây dựng thực đơn, tôi luôn bổ sung mỗi tuần một bữa cá hoặc tôm biển vào bữa chính trưa của trẻ. Không chỉ lựa chọn thực phẩm có nguồn gốc đạm động vật mà tôi còn lựa chọn thêm thực phẩm có nguồn gốc đạm thực vật như đậu phụ để chế biến thành món thịt đậu 3 màu hay thịt đậu sốt cà chua. Ngoài ra, mỗi tuần thực đơn tôi xây dựng đều được bổ sung các món ăn từ trứng gà, trứng cút như món trứng thịt đảo bông, hay trứng cút kho thịt. Các món ăn trên đều có sự kết hợp với thịt lợn để cân bằng các chất. Với món canh bí đỏ hay món cháo, món xôi tôi bổ sung thêm đậu xanh. Hoặc kết hợp món cháo thịt lợn bí đỏ với lạc, vừng. Trẻ cần được ăn phối hợp dầu thực vật và mỡ động vật hợp lý: Nhóm chất béo (mỡ động vật và dầu thực vật) giúp cơ thể hoạt động và tăng trưởng, cung cấp năng lượng, hỗ trợ hấp thu các vitamin tan trong dầu, mỡ như vitamin A, D, E, K. Chất béo tham gia