Báo cáo Biện pháp Vận dụng linh hoạt các phương pháp, kĩ thuật dạy học nhằm nâng cao hứng thú cho học sinh trong giờ học môn Khoa Học Tự Nhiên 8
Bạn đang xem tài liệu "Báo cáo Biện pháp Vận dụng linh hoạt các phương pháp, kĩ thuật dạy học nhằm nâng cao hứng thú cho học sinh trong giờ học môn Khoa Học Tự Nhiên 8", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
bao_cao_bien_phap_van_dung_linh_hoat_cac_phuong_phap_ki_thua.docx
Nội dung tài liệu: Báo cáo Biện pháp Vận dụng linh hoạt các phương pháp, kĩ thuật dạy học nhằm nâng cao hứng thú cho học sinh trong giờ học môn Khoa Học Tự Nhiên 8
- MỤC LỤC I. Mở đầu Trang 1. Tính cấp thiết 4 2. Mục tiêu 4 3. Đối tượng và phương pháp thực hiện ...5 II. Nội dung 1. Cơ sở lí luận .5 2. Thực trạng .6 3. Các biện pháp thực hiện ........8 4. Thực nghiệm sư phạm .19 III. Kết luận và kiến nghị 1. Ưu điểm và hạn chế của biện pháp .21 2. Phương hướng khắc phục hạn chế ..22 3. Khả năng triển khai rộng rãi biện pháp ...22
- I. MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết Chương trình giáo dục phổ thông 2018 định hướng phát triển phẩm chất và năng lực học sinh, mục tiêu của chương trình nhằm để trả lời cho câu hỏi: Học xong chương trình học sinh làm được gì? Môn Khoa học tự nhiên góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục đó. Các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học cần phải gắn nội dung bài học với những vấn đề thực tiễn và giáo viên tổ chức hoạt động để học sinh tìm hiểu và giải quyết được vấn đề, thông qua đó tiếp thu tri thức một cách chủ động. Do vậy cần phải đổi mới phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá theo định hướng phát triển phẩm chất và năng lực học sinh. Lứa tuổi học sinh THCS rất hiếu động, tò mò thích tìm tòi khám phá tìm hiểu thế giới tự nhiên, nên các em rất thích làm thí nghiệm để được trực tiếp quan sát, theo dõi hiện tượng, tập làm những nhà khoa học nhỏ để tự nghiên cứu, phát hiện vấn đề. Từ đó việc ghi nhớ kiến thức mới tốt hơn, giúp cho việc học tập của học sinh hứng thú và nhẹ nhàng hơn. Vì vậy, yêu cầu đổi mới phương pháp giảng dạy đối với môn Khoa học tự nhiên còn có một sắc thái riêng, phải hướng tới việc tạo điều kiện cho học sinh tự chiếm lĩnh kiến thức thông qua hoạt động thực nghiệm và cao hơn nữa, cho học sinh tập dượt giải quyết một số vấn đề Khoa học tự nhiên trong thực tế. Xuất phát từ những lý do trên để góp phần nâng cao hứng thú cho học sinh trong giờ học môn Khoa học tự nhiên, bản thân tôi đã quyết định chọn đề tài: “Vận dụng linh hoạt các phương pháp, kĩ thuật dạy học trong giờ học Khoa học tự nhiên lớp 8 (phân môn Vật lý)” và đưa ra các biện pháp thực hiện mà bản thân đã đạt được trong thời gian qua. 2. Mục tiêu Mục tiêu của việc áp dụng linh hoạt các phương pháp, kĩ thuật dạy học nhằm nâng cao hứng thú cho học sinh trong giờ học Khoa học tự nhiên lớp 8 ở trường THCS nhằm lôi cuốn HS tham gia vào các hoạt động giáo dục một cách tự nhiên và tăng cường kích thích tư duy trực quan, tạo hứng thú, xua tan căng thẳng mệt mỏi trong quá trình học tập và giúp cho việc học tập trở nên nhẹ nhàng, sinh động, không khô khan, hàn lâm, nhàm chán 3. Đối tượng và phương pháp thực hiện
- a. Đối tượng - Học sinh lớp 8B1, 8B2, 8B3, 8B4 năm học 2023 – 2024 trường THCS Thị trấn Tiên Lãng. b. Phương pháp thực hiện - Theo dõi và kiểm tra đánh giá việc tiếp thu bài của học sinh trên lớp cũng như việc chuẩn bị bài ở nhà của học sinh. - Dự giờ các bạn đồng nghiệp ở một số trường trong huyện. - So sánh và đối chiếu với các tiết học chưa có đầu tư về chuyên môn để đánh giá hiệu quả của biện pháp bằng thống kê, biểu bảng. II. NỘI DUNG 1. Cơ sở lý luận Việc sử dụng linh hoạt các phương pháp, kĩ thuật dạy học nhằm nâng cao hứng thú cho học sinh trong giờ học Khoa học tự nhiên lớp 8 đạt được các yêu cầu của đổi mới, đó là: định hướng vào người học, định hướng vào thực tiễn và định hướng vào sản phẩm. Qua việc nghiên cứu và triển khai các biện pháp nâng cao chất lượng giáo dục trong năm học 2023 - 2024 vào quá trình giảng dạy tôi thấy việc sử dụng linh hoạt các phương pháp, kĩ thuật dạy học nhằm nâng cao hứng thú cho học sinh trong giờ học Khoa học tự nhiên 8 phân môn Vật lý đã góp phần nâng cao chất lượng dạy học phát huy tính chủ động, tích cực, sáng tạo trong học tập của người học, giúp học sinh vận dụng được kiến thức liên môn trong việc giải quyết tình huống thực tiễn. Trên cơ sở đó định hướng phát triển năng lực cho học sinh. Việc sử dụng linh hoạt các phương pháp, kĩ thuật dạy học nhằm nâng cao hứng thú cho học sinh trong giờ học Khoa học tự nhiên 8 đã cho thấy mối liên hệ chặt chẽ giữa các môn học và giữa các môn học gắn với ứng dụng trong cuộc sống, đã khắc phục hiện tượng học tập thụ động nhàm chán ở các môn học, đưa ra phương pháp dạy học tích cực “ học đi đôi với hành”. + Việc tiếp thu kiến thức của các em học sinh nhanh hơn. + Khắc sâu được kiến thức cho học sinh. + Tạo sự hứng thú học tập bộ môn cho học sinh, nhiều học sinh yêu thích môn học.
- + Người học là người chủ động chiếm lĩnh kiến thức dưới sự hướng dẫn của giáo viên. + Học sinh dễ áp dụng vào đời sống thực tiễn. + Rèn luyện cho học sinh kỹ năng giao tiếp, kỹ năng hợp tác, kỹ năng giải quyết vấn đề và tư duy phản biển ở góc độ là nhà nghiên cứu, một nhà sản suất, một người sử dụng sản phẩm. + Năng lực giải quyết vấn đề của học sinh tốt hơn. Độ lệch điểm thấp hơn khi chưa tác động. Trên cơ sở học tập, học sinh tích cực, chủ động tham gia cuộc thi như Nghiên cứu khoa học cấp THCS do nhà trường, Phòng Giáo dục - Sở Giáo dục và đào tạo phát động. Học sinh luôn tự tin bày tỏ ý tưởng và luôn có những ý tưởng mới trong học tập... 2. Thực trạng Khoa học tự nhiên nói chung hay phân môn Vật lý nói riêng là môn khoa học thực nghiệm. Vì thế theo chương trình mới, với việc trang bị thiết bị dạy học đầy đủ, hiện đại sẽ có tác động tốt với học sinh, các em được làm thí nghiệm nhiều hơn nhưng một điều đặt ra là làm thí nghiệm như thế nào để có hiệu quả. Sách giáo khoa có hướng dẫn các bước làm thí nghiệm, tuy nhiên cái khó là không phải giáo viên nào cũng nhìn ra được ý tưởng của người viết sách và vận dụng một cách sáng tạo vào dạy chính học sinh của mình và sát đối tượng, nhất là đối với những giáo viên trẻ. Thậm chí có một số trường giáo viên phải dạy kiêm nhiệm nên việc truyền thụ kiến thức và sử dụng các phương pháp dạy học chưa tạo ra hứng thú cho học sinh. Một số bộ thiết bị thí nghiệm của trường còn hạn chế về số lượng do sĩ số các lớp đông, có những thiết bị không đảm bảo chất lượng mới sử dùng một vài lần đã hỏng, thậm chí nhiều thiết bị còn thiếu chính xác như nhiệt kế, lực kế, đồng hồ vạn năng dẫn đến kết quả thí nghiệm giữa lí thuyết với thực tế khác xa nhau, thiếu tính thuyết phục đối với học sinh. Đa số học sinh chỉ giành thời gian tập trung vào các môn Văn, Toán, Tiếng anh để ôn thi vào lớp 10 mà lơ là các môn học còn lại. Đặc biệt, môn Khoa học tự nhiên bao hàm kiến thức của các lĩnh vực Vật lý, Hóa học, Sinh học là môn khoa học khó, nên học sinh thường ngại đào sâu, xới kĩ do đó không tạo hứng thú, động lực học.
- Đầu năm học 2023-2024, tôi đã sử dụng phiếu để khảo sát sự hứng thú của học sinh trong giờ học môn Khoa học tự nhiên ở lớp 8B1, 8B2, 8B3, 8B4 tôi thu được kết quả sau:
- Với mong muốn biến mỗi tiết học là một tiết học vui để từ đó các em học sinh sẽ yêu thích môn Khoa học tự nhiên, có hứng thú với các bài học hơn tôi mạnh dạn áp dụng biện pháp: “ Vận dụng linh hoạt các phương pháp, kĩ thuật dạy học nhằm nâng cao hứng thú cho học sinh trong giờ học Khoa học tự nhiên 8”. 3. Các biện pháp thực hiện 3.1. Biện pháp thứ nhất: Dạy học theo định hướng STEM Bộ môn Khoa học tự nhiên nói chung và Khoa học tự nhiên 8 nói riêng là môn khoa học tự nhiên khô khan, kiến thức tương đối khó nên tôi trong quá trình giảng dạy tôi đã dạy học theo định hướng giáo dục STEM kết hợp với các phương pháp dạy học truyền thống nhằm nâng cao hứng thú cho học sinh. Để xây dựng kế hoạch bài học theo định hướng STEM giáo viên cần nắm được 3 hoạt động thực tế mà học sinh cần thực hiện: * Hoạt động tìm hiểu thực tiễn, phát hiện vấn đề - Trước tiên, học sinh được đặt trong các tình huống thực tiễn, cần giải quyết một vấn đề do giáo viên đặt ra. - Để giải quyết vấn đề này, học sinh cần phải thu thập được thông tin, phân tích được tình huống, giải thích được ứng dụng kĩ thuật từ đó xuất hiện các câu hỏi hoặc xác định được vấn đề cần giải quyết. * Hoạt động nghiên cứu kiến thức nền - Từ vấn đề cần giải quyết, học sinh được yêu cầu, hướng dẫn tìm tòi, nghiên cứu để tiếp nhận kiến thức, kĩ năng cần sử dụng cho việc trả lời câu hỏi hay giải quyết vấn đề. Đó là những kiến thức mà học sinh đã biết hoặc cần nghiên cứu thêm. - Hoạt động này bao gồm: nghiên cứu tài liệu khoa học (bao gồm sách giáo khoa); quan sát/thực hiện các thí nghiệm, thực hành; giải các bài tập (tình huống) có liên quan để nắm vững kiến thức, kĩ năng. * Hoạt động giải quyết vấn đề - Hoạt động giải quyết vấn đề là hoạt động sáng tạo khoa học, kĩ thuật, nhờ đó giúp cho học sinh hình thành và phát triển các phẩm chất và năng lực cần thiết thông qua việc đề xuất và kiểm chứng các giả thuyết khoa học hoặc đề xuất và thử nghiệm các giải pháp kĩ thuật. Trong thực tiễn dạy học, được thể hiện qua 5 hoạt động chính: Hoạt động 1: Xác định vấn đề (yêu cầu thiết kế, chế tạo)
- Hoạt động 2: Nghiên cứu kiến thức nền và đề xuất các giải pháp thiết kế Hoạt động 3: Lựa chọn phương án thiết kế Hoạt động 4: Chế tạo mô hình/thiết bị... theo phương án thiết kế (đã được cải tiến theo góp ý); thử nghiệm và đánh giá Hoạt động 5: Trình bày và thảo luận về sản phẩm được chế tạo; điều chỉnh thiết kế ban đầu. Dạy học theo giáo dục STEM thực hiện 5 hoạt động như trên. Tuy nhiên, giáo viên chỉ vận dụng dạy theo định hướng giáo dục STEM tức là trong phần vận dụng của mỗi bài học, tiết học, chủ đề, giáo viên hướng dẫn học sinh giải quyết tình huống thực tiễn một cách trọn vẹn bằng cách yêu cầu học sinh vận dụng kiến thức đã học để chế tạo ra sản phẩm đơn giản mà lại có ứng dụng trong thực tiễn. Ví dụ: Bài 16 “Áp suất chất lỏng – Áp suất khí quyển” gồm 3 tiết. Giáo viên hướng dẫn học sinh tìm hiểu lý thuyết 2 tiết. Cuối tiết học thứ 2 (khoảng 10 phút), giáo viên hướng dẫn các em vận dụng kiến thức đã học để chế tạo ra “ Bình xịt nước” với tiêu chí như sau: có tính ứng dụng, đảm bảo thẩm mỹ, vật liệu đơn giản dễ kiếm, có giá thành thấp. Đồng thời giáo viên và học sinh cùng nhau xây dựng bảng tiêu chí đánh giá để các nhóm dựa vào đó để hoàn thiện sản phẩm và tự đánh giá nhau sau khi giới thiệu sản phẩm ở tiết 3. Bảng đánh giá hoạt động nhóm TT Tiêu chí Mức độ đánh giá và điểm Mức 1 Mức 2 Mức 3 Điểm (1 điểm) (2 điểm) (3 điểm) 1 Vẽ được mô hình Vẽ được Vẽ chính xác Vẽ chính xác và đẹp 2 Giải thích bằng lời Có giải Giải thích đầy Giải thích trên hình vẽ rõ thích được đủ đầy đủ và ràng, thuyết phục một phần lưu loát 3 Trả lời được câu Trả lời Trả lời đầy đủ Trả lời đầy hỏi phản biện được 1 đủ, dễ hiểu phần
- 4 Tham gia đóng Có tham Tham gia tích Tham gia góp ý kiến, đặt gia cực tích cực và câu hỏi phản biện làm rõ hơn cho nhóm báo cáo báo cáo nhóm bạn 5 Tạo ra được sản Có sản Hoạt động Ấn phẩm đạt phẩm phẩm được nhưng yêu cầu đề chưa đúng ra yêu câu Bài 16: Áp suất chất lỏng – Áp suất khí quyển - Khoa học tự nhiên lớp 8 (Gồm 3 tiết: Tiết 1, 2: Lý thuyết, Tiết 3: Giới thiệu sản phẩm) * THIẾT BỊ GỢI Ý Các thiết bị dạy học: giấy A4, mẫu bản kế hoạch, - Nguyên vật liệu và dụng cụ để chế tạo và thử nghiệm “ máy nâng thủy lực ”. - Chai, lọ, chai lọ có vòi xịt như chai dầu gội đầu, chai sữa tắm... - Bơm kim tiêm loại nhỏ (d = 1.5 cm). - Ống nhựa truyền dịch (1 đoạn, 40 cm). - Keo 502, keo nến. - Dụng cụ: kéo, bật lửa... * TIẾN TRÌNH DẠY HỌC Vì trong tiết trước giáo viên đã hướng dẫn các em về nhà chế tạo bình xịt nước theo các tiêu chí đạt ra. Trong tiết thứ 3, giáo viên yêu cầu học sinh trình bày theo nhóm bản thiết kế và giới thiệu sản phẩm. * TRÌNH BÀY BẢN THIẾT KẾ - TRÌNH BÀY SẢN PHẨM a. Mục đích của hoạt động Các nhóm học sinh giới thiệu mô hình bình xịt nước trước lớp, chia sẻ về kết quả thử nghiệm, thảo luận và định hướng cải tiến sản phầm. b. Nội dung hoạt động - Các nhóm trình diễn sản phẩm trước lớp. - Đánh giá sản phẩm dựa trên các tiêu chí đã đề ra: + Tính ứng dụng linh hoạt, tính thẩm mỹ
- + Vật liệu dễ kiếm, chi phí thấp. - Chia sẻ, thảo luận để tiếp tục điều chỉnh, hoàn thiện sản phẩm. - Các nhóm tự đánh giá kết quả nhóm mình và tiếp thu các góp ý, nhận xét từ giáo viên và các nhóm khác; - Sau khi chia sẻ và thảo luận, đề xuất các phương án điều chỉnh sản phẩm; - Chia sẻ các khó khăn, các kiến thức và kinh nghiệm rút ra qua quá trình thực hiện nhiệm vụ thiết kế và chế tạo máy thủy lực đơn giản. c. Sản phẩm của học sinh - Bình xịt nước d. Cách thức tổ chức - Giáo viên giao nhiệm vụ: các nhóm trình diễn sản phầm trước lớp và tiến hành thảo luận, chia sẻ. BẢN THIẾT KẾ Nhóm: .. Hình ảnh bản thiết kế: Mô tả thiết kế và giải thích: STT Tên nguyên vật liệu, dụng cụ Số lượng dự kiến Bảng giá Quy trình thực hiện dự kiến: Các bước Nội dung Thời gian dự kiến
- Phân công nhiệm vụ: STT Thành viên Nhiệm vụ - Các nhóm chia sẻ về kết quả, đề xuất các phương án điều chỉnh, các kiến thức và kinh nghiệm rút ra trong quá trình thực hiện nhiệm vụ thiết kế và chế tạo máy thủy lực. * Sản phẩm học sinh. - Giáo viên đánh giá, kết luận và tổng kết. * KẾT LUẬN: Dạy học theo định hướng STEM khiến học sinh mong muốn được tiếp thu kiến thức mới, giải quyết được những vấn đề mà các em gặp. Khơi dạy sự tò mò tìm kiếm kiến thức của các em. Giảm bớt sự căng thẳng, tạo được sự hứng thú của môn học, thực hiện được mục tiêu giáo dục học đi đôi với hành. Đồng thời đổi mới được kiểm tra đánh giá học sinh. 3.2. Biện pháp thứ 2: Sử dụng phương pháp bàn tay nặn bột
- Không gì khiến học sinh hứng thú hơn với môn học bằng việc học sinh được đưa ra, bày tỏ quan điểm, kinh nghiệm thực tế của mình vào bài học. Do đó với những bài học có thí nghiệm đơn giản giáo viên thường sử dụng phương pháp “Bàn tay nặn bột” cho học sinh tự thiết kế các thí nghiệm dựa trên các dụng thí nghiệm có sẵn. Ví dụ: Ứng dụng phương pháp: Bàn tay nặn bột trong giảng dạy bài 17 - Lực đẩy Archimedes Bước 1: Tình huống xuất phát và câu hỏi nêu vấn đề - Khi thả các vật vào nước ta thường thấy có vật thì chìm vào trong nước nhưng có vật thì nổi trên mặt nước. Hãy lấy một số ví dụ trong thực tế về các vật nổi/chìm trong nước. - Với điều kiện nào thì một vật chìm trong nước? Với điều kiện nào thì một vật nổi trên mặt nước? Bước 2: Bộc lộ quan niệm ban đầu của học sinh - Cá nhân tự ghi những quan niệm của mình về điều kiện vật nổi, chìm trong nước. Có thể có một số nhóm quan niệm ban đầu chưa chính xác, ví dụ như: 1. Vật nặng thì chìm, vật nhẹ thì nổi; 2. Vật ngấm nước thì chìm, vật không ngấm nước thì nổi; 3. Vật đặc thì chìm, vật rỗng thì nổi . - Chúng ta vẫn chấp nhận những quan niệm chưa thật sự đúng đắn của học sinh và giúp các em điều chỉnh bằng các bước tiếp theo của phương pháp: Bàn tay nặn bột. Bước 3: Đề xuất câu hỏi hay giả thuyết và thiết kế phương án thực nghiệm - Yêu cầu đại diện vài nhóm phát biểu suy nghĩ vì sao mình lại có ý kiến như vậy (Làm cho quan niệm ban đầu lộ rõ hơn) - Thảo luận đề xuất phương án thí nghiệm kiểm tra theo đề xuất mà các em đưa ra. Bước 4: Tiến hành thực nghiệm tìm tòi - nghiên cứu - Yêu cầu học sinh tiến hành thí nghiệm kiểm tra các phương án đã đưa ra ở bước 3. * Ví dụ khi kiểm tra đề xuất 1, học sinh có thể tiến hành theo các bước:

