Báo cáo Biện pháp Tăng vốn từ vựng tiếng Anh cho học sinh Khối 10 trường THPT Tịnh Biên thông qua thực hành kĩ năng đọc mở rộng và viết theo yêu cầu trong phiếu tự học
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Báo cáo Biện pháp Tăng vốn từ vựng tiếng Anh cho học sinh Khối 10 trường THPT Tịnh Biên thông qua thực hành kĩ năng đọc mở rộng và viết theo yêu cầu trong phiếu tự học", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
bao_cao_bien_phap_tang_von_tu_vung_tieng_anh_cho_hoc_sinh_kh.docx
Báo cáo Biện pháp Tăng vốn từ vựng tiếng anh cho học sinh Khối 10 trường THPT Tịnh Biên thông qua th.pdf
Nội dung tài liệu: Báo cáo Biện pháp Tăng vốn từ vựng tiếng Anh cho học sinh Khối 10 trường THPT Tịnh Biên thông qua thực hành kĩ năng đọc mở rộng và viết theo yêu cầu trong phiếu tự học
- • Vì đặc thù của địa bàn là vùng sâu, vùng xa, lao động chân tay và buôn bán là chủ yếu, kinh tế gia đình của đại đa số phụ huynh học sinh còn khó khăn. Đa số phụ huynh phải lao động vất vả và có rất ít thời gian để quan tâm đến việc học của con em. Đa số học sinh phải phụ giúp công việc gia đình nên hoạt động chủ yếu không phải là hoạt động học. - Tên sáng kiến: Tăng Vốn Từ Vựng Tiếng Anh Cho Học Sinh Khối 10 Trường THPT Tịnh Biên Thông Qua Thực Hành Kĩ Năng Đọc Mở Rộng và Viết Theo Yêu Cầu Trong Phiếu Tự Học. - Lĩnh vực: Tiếng Anh III- Mục đích yêu cầu của sáng kiến: Sáng kiến được biên soạn với mục đích nhằm đưa ra các giải pháp mới và sáng tạo nhằm giúp hướng dẫn các em học sinh khối 10 trường Trung Học Phổ Thông Tịnh Biên nâng cao vốn từ vựng của mình thông qua việc hoàn thành những yêu cầu trong phiếu tự học. Sau khi đã học các bài mới trong Sách Giáo Khoa theo từng chủ đề nhất định, các em học sinh khối 10 phải nắm vững một số từ vựng nhất định thông qua các chủ đề đó. Tuy nhiên, việc học từ mới đối với các em là quá khó. Các em vừa học đã quên. Với vai trò là giáo viên đứng lớp, tôi đã thiết kế ra các phiếu tự học, để thông qua đó, các em có cơ hội ghi lại nghĩa Tiếng Việt cho những từ mới mà các em đã học, gặp lại các từ mới đó trong các bài đọc của hoạt động đọc mở rộng, sau đó sử dụng các từ mới này viết lại các bài viết theo yêu cầu của giáo viên. Chính những hoạt động này sẽ giúp các em học sinh nhớ từ một cách lâu hơn, học từ một cách có ý nghĩa hơn, giảm bớt khó khăn về vấn đề từ vựng cho học sinh khối 10 trường THPT Tịnh Biên. 1. Thực trạng ban đầu trước khi áp dụng sáng kiến Chúng ta đã bước vào kỉ nguyên mới, kỉ nguyên của thông tin khoa học kĩ thuật. Tuy nhiên, không phải ai cũng có thể hòa mình và bắt kịp sự phát triển hay nói cách khác, đó là sự bùn nổ về thông tin khoa học và công nghệ. Như vậy chúng ta cần phải trang bị gì cho mình để hòa mình vào sự phát trển của loài người? Nhiều bạn trẻ chọn Tiếng Anh như là một kiến thức để tiến bước trong tương lai. Tuy nhiên Tiếng Anh lại không phải là một lựa chọn duy nhất để các em phấn đấu trong quá trình học tập. Học sinh trung học nói chung, đặc biệt là học sinh ở trường THPT Tịnh Biên nói riêng ngày nay hầu như có rất ít hay thậm chí không có thời gian rảnh. Ngoài thời gian học chính khóa các buổi trong tuần, các em phải học ngoài giờ lên lớp, phụ đạo, quốc phòng buổi tối ở nhà các em còn phải chuẩn bị bài cho ngày học hôm sau. Cho nên, ngoài thời gian học Tiếng Anh trên lớp, học sinh hiếm khi có thời gian để trao dồi thêm môn Tiếng Anh ở nhà. Thêm vào đó, giáo viên chịu áp lực của việc hoàn thành chương trình học trong sách giáo khoa nên cũng chỉ có không hơn một vài tiết để có thể truyền đạt những biện pháp học Tiếng Anh có hiệu quả cho học sinh. Trang 2
- Trong chương trình học hiện tại, tất cả các bài tập đọc, nghe đòi hỏi các em phải hiểu nghĩa đa số các từ vựng trong bài, các em mới có thể làm được các bài tập theo sau. Hơn nữa, kĩ năng nói và viết Tiếng Anh cũng đòi hỏi học sinh phải có một vốn từ vựng nhất định mới có thể diễn đạt được hết ý tưởng và suy nghĩ của mình thông qua lời nói hay chữ viết. Thêm vào đó, bài tập Tiếng Anh trong các bài thi, bài kiểm tra gần đây chú trọng nhiều hơn phần ngữ nghĩa của từ. Nó đòi hỏi học sinh phải có một kiến thức từ vựng nhất định mới có thể hiểu hết ý nghĩa của đa số các từ trong câu, từ đó mới có thể chọn được đáp án đúng cho các câu hỏi. Cuối cùng, mặc dù được sự quan tâm và tạo điều kiện thuận lợi của Ban Giám Hiệu trong quá trình dạy và học môn Tiếng Anh; giáo viên giảng dạy luôn nhiệt tình hết lòng vì học sinh, nhưng do đặc điểm là học sinh ở vùng sâu vùng xa, trình độ học ngoại ngữ của các em không cao. Thêm vào đó, các bài đọc, viết, nghe, nói trong Sách Giáo Khoa dường như vượt qua khỏi khả năng học của các em. Giáo viên lại phải bám sát Sách Giáo Khoa và chương trình học, cho nên trong quá trình dạy và học môn Tiếng Anh gặp cũng không ít khó khăn, vất vả. Trong một cuộc khảo sát ở đầu năm học trên 98 học sinh lớp 10 trường THPT Tịnh Biên, cả học sinh giỏi và chưa giỏi môn Tiếng Anh về những khó khăn mà các em gặp phải trong quá trình học môn Tiếng Anh, kết quả nhận được như sau: Những khó khăn mà các bạn chưa giỏi môn Tiếng Anh đã cho biết và số lần đề cập trong phiếu khảo là: - Mất căn bản từ cấp dưới: 35/48 - Gặp khó khăn về vấn đề về từ vựng : 38/48 - Gặp khó khăn về cách đọc, phát âm : 1/48 - Gặp các vấn đề khó khăn về phần ngữ pháp : 35/48 - Khó khăn khi nghe Tiếng Anh : 1/48 - Gặp khó khăn khi dịch Tiếng Anh : 2/48 - Khó khăn trong kĩ năng viết : 4/48 - Gặp vấn đề khi giao tiếp : 2/48 - Không có hứng thú học Tiếng Anh : 2/48 Kết quả được biểu diễn qua đồ thị sau: Trang 3
- 40 35 30 25 20 Series1 15 10 5 0 mất căn Từ vựng phát âm Ngữ Nghe dịch Viết Giao tiếp Không bản pháp hứng thú Đồ thị 3.1:Đồ thị biểu diễn những khó khăn mà học sinh chưa giỏi môn Tiếng Anh gặp phải Những khó khăn mà các bạn giỏi môn Tiếng Anh gặp phải trong quá trình học tập môn Tiếng Anh và số lần đề cập thu thập được từ phiếu khảo sát là: -Mất căn bản từ cấp dưới: 1/50 -Gặp khó khăn về vấn đề về từ vựng: 30/50 -Gặp khó khăn về cách đọc, phát âm: 21/50 -Gặp các vấn đề khó khăn về phần ngữ pháp: 12/50 -Khó khăn khi nghe Tiếng Anh : 22/50 -Gặp khó khăn khi dịch Tiếng Anh : 6/50 -Khó khăn trong kĩ năng viết : 3/50 -Gặp vấn đề khi giao tiếp: 11/50 -Chưa tìm ra biện pháp học :2/50 Những kết quả này được biểu diễn qua đồ thị như sau: Trang 4
- 35 30 25 20 15 Series1 10 5 0 mất căn Từ vựng phát âm Ngữ pháp Nghe dịch Viết Giao tiếp Chưa có bản biện pháp học Đồ thị 3.2: Đồ thị biểu diễn những khó khăn mà học sinh giỏi môn Tiếng Anh gặp phải Còn theo giáo viên dạy Tiếng Anh của trường thì khó khăn mà các bạn học sinh gặp phải trong quá trình học môn Tiếng Anh và số lần đề cập được thu thập được trong cuộc điều tra bằng phiếu khảo sát với 9 giáo viên dạy môn Tiếng Anh của trường là: - Không đủ vốn từ vựng: 8/9 - Không nhớ bài học cũ: 6/9 - Không thể tập trung khi giáo viên giảng bài: 5/9 - Khó khăn trong các kĩ năng viết, và đọc: 2/9 - Khó khăn trong cách phát âm: 2/9 Phân tích những khó khăn của học sinh giỏi và chưa giỏi môn Tiếng Anh ở khối 10 trường THPT Tịnh Biên cho thấy: - Tất cả học sinh đều gặp phải những khó khăn khi học tập môn Tiếng Anh - Cả học sinh giỏi môn Tiếng Anh và những học sinh chưa giỏi môn này đều có những khó khăn tương tự nhau nhưng khó khăn lớn nhất theo các em học sinh và cả theo giáo viên dạy môn Tiếng Anh ở trường là vốn từ vựng của các em học sinh. Nguyên Nhân của thực trạng này: Được biết nguyên nhân mà học sinh trường THPT Tịnh Biên gặp khó khăn trong vấn đề từ vựng là do các bạn học chưa giỏi môn Tiếng Anh cảm thấy không quen trong việc học thuộc lòng các bài học và từ vựng môn này. Học thuộc lòng các bài bằng tiếng Việt thì dễ, còn học thuộc lòng các từ vựng Tiếng Anh, các bạn cảm thấy không quen. Cứ mỗi ngày vào lớp là giáo viên dạy từ mới. Về nhà các bạn không học thuộc từ cũ, mà có học các bạn cũng không thể nhớ Trang 5
- lâu. Không nhớ từ cũ, lại học thêm từ mới làm các bạn không thể hiểu được bài. Còn cách viết nữa, dù có cố gắng như thế nào các bạn cũng không thể nào viết các từ mới Tiếng Anh cho đúng chính tả. Còn những bạn giỏi Tiếng Anh, các bạn này luôn chuẩn bị bài trước ở nhà như tra từ mới cho các bài học, học các từ mới đã được dạy ở tiết trước; rất nhiều bạn còn ghi chú lại vào những tờ giấy nhỏ những từ mới cần học, ghi vào sổ tay, dùng viết tô những phần quan trọng cần phải nhớ . Sau đây là những hình ảnh ghi lại được từ cách mà các bạn giỏi Tiếng Anh đã làm để nhớ và ôn lại bài học về từ vựng Tiếng Anh: Trang 6
- Tuy đã rất cố gắng để học bài và ôn từ như vậy, nhưng các em vẫn không thể nào nhớ hết tất cả các từ mà các em đã học. Thậm chí, các em cho biết nghĩa tiếng việt của các từ mà các em ghi xuống không hoàn toàn chính xác trong mọi ngữ cảnh . Bên cạnh đó, dù sao Tiếng Anh vẫn là tiếng nước ngoài nên các em dù có giỏi cũng không thể nắm hết tất cả các từ vựng môn Tiếng Anh, cho nên từ vựng vẫn là khó khăn chung của tất cả học sinh học môn Tiếng Anh. Đó là những nguyên nhân tìm hiểu được, nhưng theo quan sát thực tế với nhiều năm giảng dạy, giáo viên thấy được nguyên nhân thực sự của việc đa số các em học sinh gặp khó khăn về mặt từ vựng là do các em thiếu tiếp cận thật sự với ngôn ngữ Tiếng Anh. Các em ít tham gia vào các hoạt động đọc, hay viết Tiếng Anh. Các em chỉ tham gia học Tiếng Anh 3 tiết học trên tuần. Trong 3 tiết đó, các em học các kiến thức trong Sách Giáo Khoa, và vì Sách Giáo Khoa có sẵn cho học sinh nên các em biết trước được mình sẽ học cái gì. Để đối phó với các tiết học đó, các em luôn có đáp án sẵn cho tất cả các bài trong sách mà không bao giờ biết lí do vì sao các em chọn đáp án như vậy. Đáp án các em có được một phần là do các em sử dụng sách cũ đã được những người học trước ghi lại, hay các em có thể dễ dàng tìm được đáp án trong các trang mạng. Vì lí do đó, các em không cần phải học hay làm bất cứ một thứ gì ngoài đọc lại đáp án cho giáo viên đứng lớp. Điều này rất dễ dàng cho mọi giáo viên nhận thấy vì trong quá trình giảng dạy, học sinh luôn đưa ra các đáp án đúng, nhưng khi yêu cầu các em giải thích hay dịch các câu sang Tiếng Việt thì các em hoàn toàn không biết hay gặp khó khăn khi dịch. Sau khi học các bài trên lớp, vì sợ học sinh không nhớ từ vựng, nên giáo viên thường yêu cầu các em học bài và trả bài ở tiết học sau. Tuy nhiên việc học từ vựng của các em chỉ dừng lại ở chỗ ghi từ Tiếng Anh, ghi nghĩa Tiếng Việt của các từ đó, nếu kĩ hơn một chút thì thêm dấu nhấn và loại của từ. Học sinh cố gắng rất nhiều để học, thậm chí còn ghi lại ra các tờ giấy, sổ tay như được trình bày ở trên. Tuy nhiên các em chỉ nhớ được một thời gian ngắn. Sau thời gian đó, các em lại quên đi từ mới. Tình trạng này kéo dài làm cho từ vựng trở thành khó khăn chung cho hầu hết học sinh học Tiếng Anh ở trường THPT Tịnh Biên. 2. Sự Cần Thiết Phải Áp Dụng Sáng Kiến: Tiếng Anh là một trong những yếu tố cơ hội không thể thiếu theo xu thế hiện nay. Tuy nhiên, để học tốt Tiếng Anh các em phải học tốt cả bốn kĩ năng: nghe, nói, đọc, viết. Để học tốt được cả bốn kĩ năng này, đòi hỏi học sinh nhất thiết phải có được một vốn từ vựng Tiếng Anh mạnh mẽ. Thật vậy, một vốn từ vựng mạnh mẽ cải thiện tất cả các kĩ năng nghe, nói, đọc và viết. Trên thực tế, hạn chế trong kiến thức từ vựng cản trở khả năng giao tiếp hiệu quả bởi vì đơn vị từ vựng mang tải những thông tin cơ bản mà người đối thoại muốn hiểu và thể hiện. Do đó, nếu các em không biết nhiều từ vựng Tiếng Anh, các em không thể truyền đạt hết ý tưởng của mình bằng Tiếng Anh khi nói cũng như khi viết. Các em không thể hiểu hết những gì người khác đang nói với mình do hạn chế về mặt từ vựng. Hơn thế, trong tất cả các kĩ năng, Trang 7
- đọc hiểu đòi hỏi học sinh phải có một vốn từ vựng mạnh mẽ nhất vì trong các bài đọc hiểu có rất nhiều từ vựng đòi hỏi các em phải biết mới có thể thật sự hiểu hết nội dung của cả bài. Mục đích thật sự của việc học ngoại ngữ là để giao tiếp, là để có thể nghe, nói, đọc và viết bằng ngôn ngữ đó. Tuy nhiên, ngoài ra còn có một mục đích khác cũng không kém phần quan trọng mà đa số các học sinh phổ thông đặt ra khi học môn Tiếng Anh là làm các bài thi, bài kiểm tra môn này đạt điểm cao. Để có được điểm cao trong các bài thi, bài kiểm tra, đòi hỏi các em phải có một vốn từ vựng mạnh mẽ. Thật vậy, trong hầu hết các bài thi, bài kiểm tra gần đây, không những chỉ kiểm tra về công thức, về cách sử dụng của các điểm ngữ pháp Tiếng Anh, mà nó đòi hỏi các em phải hiểu ý nghĩa của tất cả các từ trong câu, sau đó giải thích, phân tích, tổng hợp mới có thể chọn được đáp án đúng cho câu hỏi được đặt ra. Cho nên, nếu các em không biết nhiều về từ vựng Tiếng Anh, các em không thể đạt yêu cầu trong các bài thi, bài kiểm tra này. Tuy nhiên, nhiều năm gần đây, không có nhiều học sinh thật sự có được một vốn từ vựng mạnh mẽ. Hầu như tất cả học sinh khi đối diện với những câu bài tập đòi hỏi các em phải dịch sang Tiếng Việt, các em đều làm không tốt, thậm chí là không làm được. Khi được hỏi các em có từng đọc các câu truyện hay các bài viết khác bằng Tiếng Anh để giải trí trong thời gian rảnh hay không thì đa số các em đều trả lời không với lí do là không thể hiểu được ý nghĩa của những tài liệu này do vốn từ vựng Tiếng Anh của các em rất có giới hạn. Các em cũng cho biết khi làm bài tập trắc nghiệm, các em chỉ dựa vào những mẹo nhỏ trong làm bài, hay những dấu hiệu nào đó trong câu để giúp các em chọn đáp án đúng. Những câu mà các em gặp khó khăn nhất là những câu bài tập về từ vựng, vì các em không thể hiểu hết ý nghĩa của câu dẫn hay không thể hiểu hết ý nghĩa của các từ trong các phương án lựa chọn. Do đó, các em thường mất điểm ở các câu này. Để giải quyết khó khăn này, giáo viên ở trường phổ thông, đặc biệt là giáo viên của trường Trung Học Phổ Thông Tịnh Biên đã thực hiện rất nhiều biện pháp để giúp các em từng bước cải thiện vốn từ vựng của mình: như dạy từ vựng thật kĩ trong các tiết Reading, Listening và thỉnh thoảng cả các tiết Speaking và Writing. Thậm chí một số giáo viên còn tăng cường trả bài phần từ vựng cho các em, hướng dẫn các em cách để nâng cao vốn từ vựng của mình. Nhưng mọi biện pháp hầu như không có hiệu quả vì khả năng từ vựng của đại đa số học sinh đều không cải thiện. Các em học bài sau lại quên bài trước, học từ sau lại quên từ trước. Một số giáo viên cho biết cách tốt nhất để hạn chế việc học sinh học từ sau quên từ trước là kiểm tra đi, kiểm tra lại nhiều lần những từ vựng mà các em đã học. Tuy nhiên đa số các giáo viên không thể làm được việc này do thời gian không cho phép. Do đó vấn đề học sinh học từ sau quên từ trước là một vấn đề nan giải nhất của đa số giáo viên hiện nay. Thêm vào những khó khăn đó là vấn đề một số không nhỏ học sinh hoàn toàn không thể học gì cả ngoài đọc lại đáp án có sẵn cho các bài học trong Sách Giáo Khoa. Biết được như thế hoàn toàn không tốt gì cả Trang 8
- cho các em học sinh nên nhiều giáo viên đã giải quyết vấn đề này bằng cách soạn lại các task trong Sách Giáo Khoa để học sinh thật sự học Tiếng Anh chứ không phải sử dụng đáp án có sẵn để đối phó với giáo viên dạy lớp. Tuy nhiên, việc thay đổi các task trong sách chỉ là hướng giải quyết tạm thời vì giáo viên không thể nào thay thế hoàn toàn tất cả các task trong sách vì chẳng phải như thế Sách Giáo Khoa lại trở thành một mớ giấy vụn hay sao!?. Cách giải quyết duy nhất là giáo viên phải làm sao vẫn vừa sử dụng Sách Giáo Khoa, vừa tìm ra được cách để các em thật sự học Tiếng Anh, vừa tạo cho các em cơ hội để học và ôn lại từ mới và tiến thêm một bước, sử dụng được từ mới mà các em đã học để hạn chế vấn đề học trước quên sau của các em. Từ thực tế này, là một giáo viên của trường, tôi cũng đã thực hiện rất nhiều biện pháp. Sau một thời gian thực nghiệm, tôi nhận thấy việc sử dụng kết hợp giữa việc học từ vựng có chủ ý (intentional vocabulary learning) và học từ vựng một cách ngẫu nhiên (incidental vocabulary learning) thông qua hoạt động đọc mở rộng các tài liệu Tiếng Anh và sử dụng các từ vựng đó để viết lại theo yêu cầu của giáo viên thật sự có tác dụng tốt trong việc cải thiện vốn từ vựng cho học sinh. Để kiểm soát tốt hơn việc tự học của các em học sinh, tôi đã sử dụng phiếu tự học. Phiếu tự học được thiết kế giúp học sinh sử dụng sơ đồ tư duy mind map để đọc và hiểu các tài liệu Tiếng Anh. Những tài liệu Tiếng Anh này được thiết kế theo các chủ đề mà các em học trên lớp, sử dụng lại số từ vựng mà các em vừa học trên lớp. Tạo cơ hội để các em vừa có thể đọc, hiểu, vừa có thể ôn lại từ và sử dụng được các từ mới mà các em đã học trên lớp nhằm nâng cao vốn từ vựng cho bản thân. Nhận thấy phát triển vốn từ vựng cho học sinh là một nhiệm vụ cấp thiết và quan trọng nên tôi đã chọn viết sáng kiến này, hi vọng sẽ có thể phần nào cung cấp cho các thầy cô một số gợi ý hữu ích trong nâng cao vốn từ vựng cho các em. 3. Nội dung sáng kiến Hiện trạng đa số các em học sinh ngày nay sử dụng Sách Giáo Khoa cũ với đáp án có sẵn trong Sách Giáo Khoa hay tìm đáp án từ các trang mạng rồi vào lớp và không học gì cả ngoài việc đọc lại đáp án cho giáo viên đứng lớp mà không hề biết giải thích như thế nào, khi về nhà học từ mới bằng cách ghi lại nghĩa Tiếng Việt của từ, học đi học lại để rồi quên từ cũ sau khi học các từ mới đã trở nên rất phổ biến. Thực trạng này đã dẫn tới khó khăn chung và lớn nhất của đa số các em học sinh khi học tập môn Tiếng Anh đó là từ vựng. Do đó, trong quá trình giảng dạy, giáo viên cần tạo cho học sinh một môi trường tự học mới ở đó học sinh có cơ hội tự đọc các tài liệu và tự hoàn thành các task theo yêu cầu của giáo viên vì đáp án có được là do các em thật sự đọc mà tìm ra chứ hoàn toàn không có ở đâu cả. Và cũng từ môi trường đó, học sinh có cơ hội gặp đi, gặp lại các từ mới mà các em đã học, có cơ hội sử dụng các từ mới đó viết lại sự thật xung quanh mình theo yêu cầu của giáo viên. Vừa được gặp, vừa được sử dụng Trang 9
- sẽ là cách học từ mới mẽ và có hiệu quả nhằm giúp các em nhớ từ nhiều hơn, và lâu hơn, góp phần nâng cao vốn từ vựng cho các em học sinh của trường. 3.1 Tiến Trình Thực hiện: Việc sử dụng các phiếu tự học để hướng dẫn các em học sinh tự học nhằm nâng cao vốn từ vựng của mình thông qua kĩ năng đọc mở rộng kết hợp với kĩ năng viết được giáo viên thực hiện xuyên suốt hết học kì I của quá trình dạy học môn Tiếng Anh khối 10 ở trường THPT Tịnh Biên (năm học 2018 -2019). Trong quá trình giảng dạy, giáo viên thiết kế phiếu tự học theo từng bài, phát ra cho các em học sinh sau khi các em đã hoàn thành việc học ở mỗi bài học. Giáo viên hướng dẫn cụ thể những việc các em cần hoàn thành cho mỗi phiếu tự học. Theo đó, các em học sinh sau khi đã nhận phiếu tự học, các em sẽ có cơ hội đọc lại các bài đọc trong Sách Giáo Khoa nhưng thực hiện các yêu cầu khác. Cụ thể là các em phải hoàn thành sơ đồ tư duy mind – map để tóm tắt lại và hiểu tốt hơn về nội dung của bài đọc. Bên cạnh đó, phiếu tự học cũng cho các em cơ hội ghi lại các từ mới, tra nghĩa các từ mới mà các em đã học trong lớp, sau đó, sử dụng các từ mới này để viết lại theo yêu cầu của giáo viên. Sau đó, các em sẽ được đọc thêm một bài khác cùng chủ đề và thực hiện các yêu cầu của giáo viên như: hoàn thành nghĩa Tiếng Việt cho các từ mới trong bài, đánh giá về bài viết, so sánh sự khác nhau giữa các em với nhân vật trong bài viết, bài tỏ tình cảm yêu thương, thích ghét với bài viết. Tất cả những hoạt động này đều hướng về một mục đích: tạo cơ hội để học sinh tự học, tự tiếp cận, gặp đi gặp lại, và sử dụng các từ mới mà các em đã học trên lớp, giúp các em nhớ từ lâu hơn. Ngoài ra, kiểm tra việc tự học của các em là một khâu không thể thiếu trong quá trình tự học của các em vì nếu không kiểm tra giáo viên sẽ không nắm được tình hình tự học và hoàn thành phiếu tự học của học sinh, và nếu không đánh giá, nhận xét khuyến khích thì không có động lực cho việc tự học đều đặn ở nhà. Kiểm tra và đánh giá còn giúp các em học sinh có cái nhìn tổng quan về quá trình tự học của mình: các em đã làm tốt chưa cho việc tự học đó? Các em còn những sai sót gì cần phải rút kinh nghiệm cho lần học sau?. Ngoài ra việc kiểm tra và đánh giá của giáo viên cũng theo hướng tích cực hóa để góp phần tạo động lực cho việc tự học của các em học sinh. Phiếu tự học sẽ được giáo viên photo theo từng bài và phát ra cho tất cả học sinh của khối 10 trường THPT Tịnh Biên năm học 2018 - 2019 (trừ lớp đối chứng) để các em thực hiện nhằm giúp nâng cao vốn từ vựng của các em thông qua hoạt động đọc mở rộng và viết lại theo yêu cầu của giáo viên trong phiếu tự học. Giáo viên dạy lớp là người trực tiếp hướng dẫn, thu phiếu, sửa và trả phiếu lại cho học sinh. Giáo viên cũng chọn ra 2 lớp, 1 lớp làm nhóm thực nghiệm, 1 lớp là nhóm đối chứng để đánh giá chính xác hơn kết quả thực hiện sáng kiến. Những lớp còn lại, giáo viên đứng lớp chỉ cho các em thực hiện phiếu tự học, sau đó quan sát và đánh giá sự khác biệt của các em trước và sau thời gian thực hiện tăng vốn từ vựng thông qua sử dụng các phiếu tự học. Trang 10
- 3.2 Thời gian thực hiện: Việc hướng dẫn các em học sinh tự học nhằm nâng cao vốn từ vựng của mình thông qua các phiếu tự học thiết kế bởi giáo viên được thực hiện thường xuyên trong suốt học kì I với tất cả học sinh của khối 10 trường THPT Tịnh Biên (năm học 2018 – 2019) (trừ lớp 10A1). Ngoài ra, giáo viên chọn lớp được phân công giảng dạy – lớp 10A6 (năm học 2018 – 2019) làm nhóm thực nghiệm để lấy số liệu. Còn lớp 10A1 (nhóm đối chứng) được giảng dạy bình thường như trong chương trình dạy khối 10 trước đây để có thể so sánh sự tiến bộ của nhóm thực nghiệm so với nhóm đối chứng sau thời gian thực nghiệm ở trường THPT Tịnh Biên. 3.3 Biện pháp tổ chức: Việc cải thiện vốn từ vựng cho học sinh là một chuyện lâu dài và không dễ dàng tí nào. Nó đòi hỏi cả người học và người dạy phải có đủ quyết tâm, kiên nhẫn và siêng năng để có thể thực hiện một cách thường xuyên và lâu dài. Để nâng cao tính hiệu quả, đòi hỏi giáo viên phải tạo được tính tự giác học tập trong học sinh. Để cho các em thật sự tự giác trong học tập là không dễ dàng và đòi hỏi giáo viên phải có một hệ thống biện pháp phù hợp mới có thể giúp các em tự giác tự học và tự học có hiệu quả. Để có thể làm được điều này, giáo viên đã thực hiện hệ thống những biện pháp tổ chức sau: 3.3.1 Tạo Dựng Lí Do Tự Học Để Nâng Cao Vốn Từ Vựng Cho Học Sinh: Hứng thú học tập của các em học sinh sẽ được hình thành nếu các em biết được lí do vì sao các em phải tự học, và cụ thể là vì sao các em phải tự học để có thể nâng cao vốn từ vựng của mình thông qua việc thực hiện kĩ năng đọc mở rộng kết hợp với kĩ năng viết Tiếng Anh theo yêu cầu của giáo viên trong phiếu tự học. Để có thể làm được điều này, ở đầu năm học giáo viên đã chứng minh cho học sinh thấy được sự cần thiết và đúng đắn của việc nâng cao vốn từ vựng thông qua hoạt động đọc mở rộng kết hợp với kĩ năng viết Tiếng Anh. Đầu tiên, học sinh cần biết được đã có rất nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước đã khẳng định được vai trò quan trọng của từ vựng trong quá trình học ngoại ngữ của các em học sinh. Thật vậy, nếu ta coi học Tiếng Anh như xây nhà, thì việc học từ vựng chính là xây nền móng cho căn nhà đó. Để có thể giúp các em học sinh nâng cao vốn từ vựng của mình, có 2 cách cơ bản nhất. Đó là học từ vựng có chủ ý (intentional vocabulary learning) và cách học từ vựng ngẫu nhiên (incidental vocabulary learning) thông qua việc đọc mở rộng các tài liệu Tiếng Anh hay thông qua hoạt động nói và viết Tiếng Anh. Hulstijn’s (2003) định nghĩa học từ vựng có chủ ý như là cách học từ vựng mà trong đó người học chủ động tìm ra tất cả các từ vựng mà các em cần phải học, sau đó các em tra từ điển, tìm ra nghĩa của từ, cách phát âm, dấu nhấn và các giới từ theo sau (nếu có) ghi tất cả ra Trang 11
- và sau đó học thuộc lòng tất cả các yếu tố này. Học từ vựng ngẫu nhiên là cách học mà trong đó các em nâng cao vốn từ vựng của mình thông qua các hoạt động đọc mở rộng các tài liệu Tiếng Anh, thông qua việc nghe Tiếng Anh một cách thường xuyên hay thông qua việc sử dụng các từ vựng đó khi nói hay viết Tiếng Anh. Một vài tác giả, dẫn đầu là Lewis (1993) đã khẳng định rằng cần phải đặt việc học từ vựng vào vị trí trung tâm trong quá trình học ngoại ngữ của học sinh. Một khi từ vựng được học một cách có chủ ý các em sẽ nhớ từ được lâu hơn vì các em đã thật sự tập trung vào những vấn đề này khi các em tiến hành học từ vựng. Họ cũng khẳng định vai trò thật sự của sự ghi nhớ trong quá trình học từ vựng. Theo họ, việc học từ vựng là một trong những bước đầu tiên của việc học ngôn ngữ thứ hai, tuy nhiên một người sẽ không bao giờ đạt tới bước cuối cùng trong việc nắm vững từ vựng. Dù trong tiếng mẹ đẻ hay ngôn ngữ thứ hai đi chăng nữa, thì sự nắm bắt một vốn từ mới là một quá trình liên tục. Nhiều phương pháp có thể trợ giúp cho việc nắm bắt vốn từ vựng mới, trong đó sự ghi nhớ là một trong những biện pháp có hiệu quả nhất. Mặc dù quá trình ghi nhớ có thể bị xem là chán ngấy và buồn tẻ, việc kết nối một từ trong tiếng mẹ đẻ với từ tương ứng trong ngôn ngữ thứ hai trước khi nó được ghi nhớ được xem là một trong những phương pháp tốt nhất trong việc nắm vững từ vựng. Đến tuổi trưởng thành, học sinh thường đã thu thập được một số phương pháp ghi nhớ. Mặc dù vẫn còn nhiều tranh cãi cho rằng quá trình ghi nhớ một cách điển hình không yêu cầu quá trình nhận thức phức tạp làm tăng khả năng lưu giữ (Sagarra & Alba, 2006), nhưng quá trình này một cách điển hình vẫn đòi hỏi một lượng lớn số lần lặp lại. Các phương pháp khác lại cần nhiều thời gian và lâu hơn để nhớ lại. Ngoài ra học sinh cũng cần biết gần đây cũng có nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước khẳng định về vai trò tích cực của việc đọc mở rộng đối với quá trình học ngoại ngữ nói chung và đối với việc nâng cao vốn từ vựng nói riêng. Thật vậy, Nuttall (1982) đã khẳng định đọc mở rộng là một cách có hiệu quả nhất để cải thiện vốn từ vựng và khả năng đọc hiểu nói chung. Hafiz và Tudor (1989) cũng cho rằng chỉ với 3 tháng đọc mở rộng các tài liệu Tiếng anh, các học viên Trung học Phổ thông có thể cải thiện rõ rệt vốn từ vựng của mình từ đó nâng cao khả năng đọc hiểu và cải khả năng viết của mình. Theo Paul Nation (1999), học sinh có thể phát triển kiến thức ngôn ngữ của họ thông qua việc đọc mở rộng. Bởi vì người học với trình độ khác nhau có thể chọn tài liệu với mức độ khó dễ khác nhau phù hợp với khả năng và trình độ của mình. Ngoài ra người đọc cũng có thể chọn lựa những tài liệu với nhiều chủ đề, loại hình khác nhau theo hứng thú và sở thích của mình chứ không phải là cố định và cứng nhắc như những tài liệu cố định trong Sách Giáo Khoa. Những tài liệu này là những tài liệu chung cho tất cả các học viên với trình độ ngôn ngữ và sở thích rất khác nhau. Nhờ chọn lựa được những tài liệu phù hợp với khả năng và hứng thú của người đọc như vậy nên việc đọc mở rộng đã làm cho người đọc có nhiều hứng thú hơn đối với hoạt động đọc nhờ đó mà khả năng đọc hiểu của Trang 12

